Thông Giác Thủy Nguyệt

(đổi hướng từ Thông Giác Đạo Nam)


Thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt (zh: 通覺水月, 1636 – 1704) là sơ tổ của Tào Động tông Việt Nam, đời thứ 31 Tào Động tông. Người đầu tiên đem thiền phái Tào Động truyền tới Việt Nam. Sư cũng là vị tăng Việt Nam đầu tiên hành cước sang Trung Quốc tham học và ngộ đạo trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam, khác với trước kia đều do các vị thiền sư từ Trung Quốc mang thiền pháp truyền vào Việt Nam.

Sư từng đến Hồ Châu, Trung Quốc tu hành và đắc pháp nơi Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo(一 句 知 教) - chính truyền Tào Động đời thứ 30, và được Tổ truyền tâm ấn và cho về việt nam hoằng dương chính pháp của tông Tào Động. Môn đệ đắc pháp duy nhất là Thiền sư Chân Dung Tông Diễn.

Cơ duyênSửa đổi

Sư sinh năm Đinh Sửu (1637), quê ở Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng, đạo Sơn Nam (nay là thôn Thanh Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), con nhà họ Đặng. Vừa lớn lên, Sư theo học Nho giáo, đến 18 tuổi thi đậu Cống cử tứ trường và được chọn làm quan.

Năm 20 tuổi, Sư chán cõi đời vô thường khởi ý chí tu hành giải thoát, lại thích tu thiền học đạo . Sư bỏ nghiệp Nho, tìm đến chùa xã Hổ Đợi, huyện Thụy Anh xin xuất gia học đạo. Ở đây sáu năm học các kinh sách, Sư biết đó chưa phải là tông chỉ đúng đắn của đạo, bèn xin phép thầy đi du phương tham vấn khắp nơi . Sư đi tham vấn rất nhiều bậc tôn túc trong nước, nhưng không khế hợp.

Năm 28 tuổi , Sư quyết chí sang Trung Quốc. Tháng 3 năm Giáp Thìn (1664) niên hiệu Cảnh Trị triều Lê, sư bắt đầu hành trình sang Trung Quốc tìm thầy học đạo. Một hôm qua suối, sư ngẫu hứng làm thơ:

Non nước với ta có nhân duyên

Đã lội suối rồi lại vượt non

Nước rửa bụi trần nhọc nhằn hết

Núi nâng chân bước ngàn đạo cao.

Năm 1665, sư đến vùng Hồ Châu, sau nhiều ngày đi đường hỏi han sư mới đến được núi Phượng Hoàng (nay là núi Nhân Hoàng), nơi đây có Thiền Sư Tri Giáo đang xiển dương Tào Động, chùa ấy nay là Nhân Vương Hộ Quốc Thiền Tự. Đến đây, vì bất đồng ngôn ngữ nên sư chưa thể nhập chúng tu. Sư bèn kết am trước chùa ngày học nói tiếng trung, đêm chuyên tâm tọa thiền.

Sau 3 tháng, sư thông thạo cách phát âm tiếng trung. Trong lòng muốn được tham vấn bậc Thượng Đức, nên viết thư nhờ vị tăng giữ cửa gửi cho Thiền sư Trí Giáo, bày tỏ tấm lòng cầu đạo của mình. Thiền sư Trí Giáo xem thư xong, tuy chưa nhìn thấy mặt nhưng trong lòng cảm thấy rất ưng ý và cho gọi sư vào Phương trượng.

Sư đỉnh lễ Thiền sư trước Phương trượng, Hòa thượng cất tiếng hỏi: " Trước khi cha mẹ chưa sanh, trong ấy cái gì là bản lai diện mục của ngươi?" Sư thưa: " Mặt trời sáng giữa hư không" . Hòa thượng nói:" Ba mươi gậy, một gậy không tha" . Sư lại lễ rồi cuốn chiếu. Hòa thượng bảo: " Cho ngươi nhập chúng, tùy theo chúng tham vấn". Từ đây, sư được nhập chúng tu tập, theo chúng tham thiền, học kinh điển, làm lao tác trong tùng lâm. Năm sau, sư xin Tổ Tri Giáo cho thọ giới cụ túc và đến tháng 4 cùng năm, Tổ Tri Giáo lập đàn truyền giới cho sư thọ giới.

Trải qua 6 năm tu học ở Trung Quốc, một hôm tổ tri giáo gọi sư vào khảo chứng công phu . Công án được ghi lại như sau:

Một hôm Hòa thượng gọi sư vào phương trượng hỏi: Đã thấy tính (Phật Tính) chưa ?

Sư ra lễ bái, trình kệ:

Viên minh thường tại thái hư trung

Cương bị mê vân vọng khởi long

Nhất đắc phong xuy vân tứ tán

Hằng sa thế giới chiếu quang thông.

Sáng tròn thường ở giữa hư không

Bởi bị mây mê vọng khởi lồng

Một phen gió thổi mây tứ tán

Thế giới hà sa sáng chiếu thông.

Hòa thượng hỏi: Chỗ an thân lập mệnh của ông là chỗ nào?

Sư đáp: Trong gió, lửa nổi dậy. Trên sóng nước an nhiên.

Tổ hỏi tiếp: Ðêm ngày ông giữ gìn nó ra sao?

Sư đáp: Ðúng ngọ trăng sao hiện Nữa đêm mặt trời hồng.

Tổ nói: Chuyện an thân lập mệnh như thế được rồi, còn chuyện mặt mũi xưa nay của ông như thế nào?

Sư thưa: Quơ sào trên bóng cỏ. Tên nhọn sẽ bay ra.

Tổ hoàn toàn hài lòng, đưa tay điểm lên trán sư 3 cái thầm ấn khả rồi nói : "Con rắn hai đầu ấy, đừng để nó chạy thoát! Hãy xỏ mũi nó! Cẩn thận! Người xứng đáng là con cháu ngoan của tông Tào Ðộng. Ta cho pháp hiệu là Thông Giáo Đạo Nam Thiền sư".

Và cho về Việt Nam mở Động Tông Nam Truyền, là một phái phụ của Tông Tào Động với bài kệ Pháp phái:

Tịnh trí thông tông

Từ tính hải khoan

Giác đạo sinh quang

Chính tâm mật hạnh

Nhân đức vi lương

Tuệ đăng phổ chiếu

Hoằng pháp vĩnh truyền.

Tháng 10, năm Khang Hy thứ 6, sư sửa soạn hành lý, chuẩn bị về nước, tạm biệt các đồng đạo, bằng hữu trong Thiền tự. Trước khi ra đi, Tổ sách tấn: " Ngươi về nên tinh tấn làm Phật sự, giảng nói đề cao chánh pháp, không nên chần chờ để tâm theo với vọng trần, trái lời Phật. Ngươi thành tâm đi muôn dặm đến đây nay tôi cho một bài kệ để gắng tiến:

Quế nham suy phức tục truyền đăng

Thu nhập trường không quế bích đằng

Trì nhĩ viên lai khai bảo kính

Từ dư quy khứ thị kim thằng

Thuỵ thâm Phượng lĩnh thiên trùng tuyết

Cáp thụ An Nam nhất cá tăng

Dạ bán cẩm hà sơn hậu khởi

Hạo tòng thiên tế thức tăng hằng

Rừng quế gương xưa đền nối sáng

Thu về đâu đấy ngát mùi hương

Vì người xa đến treo gương báu

Từ biệt ta về chỉ đạo Thiền

Ai vào núi Phụng nghìn trùng tuyết

Dường có An Nam một vị tăng

Nửa đêm áo gấm ra sau núi

Như ở chân trời thấy mặt trăng

Hoằng phápSửa đổi

Sư cùng thị giả trở về nước , đi bộ 5 tháng mới đến địa phận tỉnh Cao Bằng và thăm lại mộ người thị giả xưa và tụng kinh siêu độ 3 ngày thì trên mộ hiện đóa hoa sen. Dân chúng thấy kỳ lạ nên đua nhau đến xem. Từ đó, Tông Tào Động ở Phương Nam được thịnh hành, có người vì kính đức hạnh cúa sư mà cúng dường, hay xin được quy y, thọ giới, theo sư tu tập tham thiền. Sau đó, sư lên thăm núi Côn Sơn, di tích cũ của Thiền sư Huyền Quang, thấy cảnh vật trang nghiêm đẹp đẽ nên làm bài kệ:

Nước biếc non xanh vượt cõi phàm

Tào Khê riêng có cảnh trời Nam

Chẳng riêng thờ phụng ba thân Phật

Có bậc trạng nguyên ứng trụ trì

Sư từng đi tới nhiều ngôi chùa cổ, chiêm bái các chốn Tùng lâm, có khi lên núi Yên Tử tọa thiền, hoặc đến chùa Quỳnh Lâm giảng về Giới Luật. Sư đến Đông Sơn( núi Non Đông), huyện Đông Triều, thấy đã có cao tăng trụ trì ở trên núi Thượng Long từ trước, dân gian thường gọi là Tổ Muống, sư đến trụ trì giáo hóa tại chùa Hạ Long. Sư ở đây xiển dương tông phong Tào Động người đến tham học rất đông đúc. Một hôm, sư ngồi tựa ghế chợt thấy một con chim xanh bay tới, liền đốn ngộ tự ngâm kệ rằng :

Hoa xuân nở hết lai sương thu

Đời mộng nào chắc mãi bền lâu

Vượt hẳn trời cao vui tự tại

Càng khôn đâu chổ vướng trần nhơ

Ngày nọ, sư đến chùa Thượng Long, nói với vị cao tăng trên ấy rằng: Anh em ta tuổi tác đã cao, ngày tháng kéo dài, nay là lúc phải thanh nhàn, muốn cùng nhau lên núi nhập Niết Bàn. Vị ấy đáp: Thanh Huynh! Hương đạo quả đã chín, xin hãy về nghỉ ngơi trước, tôi vẫn còn duyên ứng thế độ sinh, ngày sau viên mãn, sẽ theo về cũng chưa muôn. Hôm đó, sư về chùa Hạ Long gọi đệ tử nối pháp là Tông Diễn đến nói kệ phó chúc:

Thuỷ xuất đoan do tẩy thế trần

Trần thanh thuỷ phục nhập nguyên chân

Dữ quân nhất bát cam lộ thuỷ

Bái tác ân ba độ vạn dân.

Nước cốt tuôn ra rửa bụi trần

Sạch rồi nước lại trở về chân

Cho ngươi bát nước cam lộ quý

Ân tưới chan hoà độ vạn dân.

và bài kệ:

山織錦水畫圖

玉泉涌出白酡酥

岸上黃花鶯弄語

波中碧水鰈群呼

月白堂堂魚父醉

日紅耿耿繭婆晡

Sơn chức cẩm thuỷ hoạ đồ

Ngọc tuyền dũng xuất bạch đà tô

Ngạn thượng hoàng hoa oanh lộng ngữ

Ba trung bích thuỷ điệp quần hô

Nguyệt bạch đường đường ngư phủ tuý

Nhật hồng cảnh cảnh kiển bà bô

Núi dệt gấm, nước vẽ hình

Suối ngọc chảy, tuôn rượi đà tô

Bờ cúc nở hoa hoàng oanh hót

Nước trong sóng biếc cá điệp nhào

Trăng sáng rỡ ràng ông chài ngủ

Trời soi rừng rực kén nằm nhô

Sau đó sư cáo biệt đại chúng, nói rằng: " Ta lên núi Nhẫm bảy ngày, nếu như không trở về thì các người tìm chổ nào có mùi thơm, thì ta ở chổ đó" . Chúng bùi ngùi rơi lệ, nhưng không ai dám đi theo. Sau đó 7 ngày, môn đệ lên núi thấy mùi hương ngào ngạt rất lạ, đi đến một hang động đá ở núi Nhẫm Dương(tỉnh Hải Dương) thì thấy sư ngồi trang nghiêm kiết già trên một tảng đá đã thị tịch từ khi nào, thân thể vẫn mềm mại như lúc sống.

Bấy giờ là ngày 6 tháng 3 năm Giáp Thìn, niên hiệu Chính Hòa thứ hai mươi, đời vua Lê Hi Tông (1704), Sư thọ 68 tuổi. Tứ chúng thỉnh nhục thân Sư về hỏa táng chia xá lợi thờ hai nơi, một ở chùa Hạ Long, một ở hang núi Nhẫm. Vua Lê Hi Tông phong sư hiệu Đạo Nam Quốc Sư bồ tát. Hành trạng về cuộc đời của sư được ghi lại trong Tào Động Tông Nam Truyền Tổ Sư Ngữ Lục, Tào Động Hồng Phúc Phổ Hệ. .

Tham khảoSửa đổi

  • Tào Động Tông Nam Truyền Tổ Sư Ngữ Lục- Thiền Sư Khoan Dực Phổ Chiếu biên soạn, sa môn Thích Tiến Đạt dịch thuật.
  • Thiền Uyển Kế đăng Lục- Thiền Sư Từ Sơn Hạnh Nhất biên soạn, sa môn Thích Thiện Phước dịch.
  • Thiền Sư Việt Nam - HT Thích Thanh Từ biên soạn.