Vạn Tùng Hành Tú (tiếng Trung: 萬松行秀, tiếng Nhật: Banshō Gyōshū, 1166-1246), Thiền sư trung quốc, đời pháp thứ 14 Tông Tào Động, còn gọi là Vạn Tùng Lão Nhân. Sư là một trong những vị thiền sư có ảnh hưởng nhất trong Tông Tào ĐộngThiền Tông Trung Quốc thời bấy giờ. Và là người đã biên soạn tập Thong Dong Lục nổi tiếng, bao gồm 100 tắc công án của thiền sư Hoằng Trí Chính Giác.

Vạn Tùng Hành Tú
萬松行秀
Tông pháiTào Động tông
Cá nhân
Sinh1166
Mất1246
Chức vụ
Chức danhThiền sư
Tiền nhiệmTuyết Nham Như Mãn
Kế nhiệmTuyết Đình Phúc Dụ
Hoạt động tôn giáo
Sư phụTuyết Nham Như Mãn
Đồ đệTuyết Đình Phúc Dụ

Sư là đệ tử đắc pháp của thiền sư Tuyết Nham Như Mãn và có nhiều môn đệ xuất chúng thừa kế như Tuyết Đình Phúc Dụ, Lâm Tuyền Tùng Lâm..

Cơ duyênSửa đổi

Sư họ Thái , quê ở vùng Giải Lương , huyện Hà Nội , tỉnh Hà Nam . Từ nhỏ sư đã có cốt cách phi phàm, sớm có chí xuất gia. Sau sư đến xuất gia với Đại sư Bân Công ở Tịnh Độ tự vùng Hình Châu , tỉnh Hà Nam.

Ban đầu sư đến tham vấn với thiền sư Thắng Mặc, ngài dạy sư : Hãy tham câu “Quay lại chính mình” của Trường Sa! Sư tham cứu không ngộ. Thắng Mặc bảo: Ta chỉ mong ông lĩnh hội chậm! Sư nghe câu này bèn có chút tỉnh ngộ. Sau sư từ giã thiền sư Thắng Mặc đến tham vấn với thiền sư Huyền Sa nhưng cũng chưa được triệt ngộ.

Cuối cùng sư đến tham học với thiền sư Tuyết Nham Huệ Mãn ở chùa Đại Minh , vùng Từ Châu , tỉnh Hà Bắc. Một hôm sư thấy con gà bay lên liền đại triệt đại ngộ. Thiền sư Huệ Mãn ấn khả chứng minh, truyền y cà sa và phó chúc kệ truyền pháp Tào Động Chính Tông cho sư. Từ đó dân chúng ở vùng Lưỡng Hà, Tàm Tấn đều biết đến và ngưỡng mộ danh tiếng, đạo hạnh của sư

Hành trạngSửa đổi

Đầu tiên sư đến trụ trì tại Tịnh Độ tự dựng am tu tập và đặt tên am là Vạn Tùng Niên, nghĩa là mười nghìn cây thông. Vào năm Quý Sửu (1193), vua Chương Tông nhà Kim cung thỉnh sư vào cung, đích thân hỏi Phật pháp. Vì ngưỡng mộ đức hành và ấn tượng với sự vấn đáp của sư. Vua ban cho sư chiếc cà sa gấm. Năm Đinh Tỵ (1197), sư được vua ban chiếu dời đến trụ trì Thê Ẩn tự ở Ngưỡng Sơn và Báo Ân Hồng Tế tự ở Phủ Thuận Thiên. Năm 1215, kinh đô nhà Kim bị quân Mông Cổ cướp phá, vua Kim cho dời Kinh đô đến phủ Khai Phong. Sư vẫn ở lại trụ trì tại Bảo Ân tự phía ngoài kinh thành nhà Kim.

 
Tháp xá lợi thiền sư Vạn Tùng ở Bắc Kinh

Năm 1223, chính khách người Mông CổDa Luật Sở Tài (Yelü Chucai) đã đến gặp sư để tham hỏi Phật học. Và sau đó trở thành đệ tử tại gia của sư, thường xuyên đến tham hỏi chuyện chính sự và học thiền.

Sư từng sáng tác Thong Dong Lục (從容錄) là bản niêm tụng cổ gồm 100 công án của thiền sư Thiên Đồng và trình tấu lên vua Ninh Tông nhà Tống. Sư cũng nghiên cứu tinh tường các kinh điển, quán thông cả nội và ngoại điển, đã ba lần xem đại tạng và soạn nhiều pháp lục lưu hành ở đời.

Vào ngày mồng 7 tháng 4 năm đầu nhuận niên hiệu Định Tông (定宗) 1246, sư thị tịch, hưởng thọ 81 tuổi đời và 60 hạ lạp. Trước khi tịch sư có để lại bài kệ. Môn đệ sư trà tỳ nhục thân sư, thu được nhiều xá lợi, xây tháp phụng thờ các nơi, trong đó ngọn tháp Vạn Tùng Lão Nhân ở Bắc Kinh đến nay vẫn còn.

Tham khảoSửa đổi

  • Phật Tổ Đạo Ảnh (Tập 1,2) do Hoà thượng Hư Vân và Tuyên Hóa biên soạn.
  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.