Mở trình đơn chính

Hoằng Trí Chính Giác

Thiền Tông

Thiền Sư Hoằng Trí Chánh Giác(1091-1157). (Tiếng trung: 宏智正覺: Hóngzhì Zhēngjué, tiếng nhật:: Wanshi Shōgaku) là một vị thiền sư trung quốc sống vào thời nhà Tống, kế thừa Thiền sư Đan Hà Tử Thuần , thuộc đời thứ 10 Tông Tào Động. Đời sau còn nhớ đến sư qua những cuộc tranh luận( trên tinh thần bằng hữu) với Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo về Phương pháp tu hành của Tông Lâm Tế( Thiền Thoại Đầu) và Tông Tào Động(Thiền Mặc Chiếu) .Sư là người đã đề xướng " Mặc Chiếu Thiền" . Sau này cùng với Tham công án, khán thoại đầu là những phương thức tu hành phổ biến trong Thiền Tông và trong truyền thống của Tông Tào Động. Vào thế kỷ 13, thiền sư Đạo Nguyên Hy Huyền đã hấp thụ tinh hoa của Thiền Mặc Chiếu và sau đó truyền bá mạnh mẽ tại Nhật Bản, trong các tác phẩm Thiền của Đạo Nguyên như Chính Pháp Nhãn Tạng (Shōbō Genzō), thiền Sư Hoằng Trí nhân vật điển hình được trích dẫn và nhắc đến nhiều nhất.

Thiên Đồng Hoằng Trí
宏智正覺
Tiantong Hongzhi Zhengjue Zen.jpg
Thiền sư Thiên Đồng Hoằng Trí
Tông pháiTào Động tông
Cá nhân
Sinh1091
Mất1157
Chức vụ
Chức danhThiền sư
Tiền nhiệmĐan Hà Tử Thuần
Kế nhiệmTự Đắc Huệ Huy
Hoạt động tôn giáo
Sư phụĐan Hà Tử Thuần
Đồ đệTự Đắc Huệ Huy

Cơ duyênSửa đổi

Thiền Sư Hoằng Trí họ Lý(李),người Thấp Châu (隰州), Tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Mẹ sư mộng thấy một vị Tăng ở Ngũ Đài cởi chiếc vòng mang vào cánh tay mặt bà. Sau đó, bà thọ thai và sinh ra sư.

Năm 11 tuổi sư xuất gia với pháp sư Bản Tông (本宗) ở Tịnh Minh Tự (淨明寺) . Và năm 14 tuổi thọ giới cụ túc với luật sư Trí Quỳnh (智瓊) ở Từ Vân Tự (慈雲寺) vùng Tấn Châu (晋州, Lâm Phần, Tỉnh Sơn Tây).

Năm 18 tuổi sư đi du phương học đạo, tham vấn các bậc tôn túc khắp nơi. Sư phát nguyện với ông nội rằng: Nếu con không phát minh việc lớn, thề không trở về!.

Đầu tiên sư đến Hương Sơn Tự (香山寺) ở Nhữ Châu (汝州), Huyện Lâm An, Tỉnh Hà Nam viếng thăm và tham học với Thiền Sư Khô Mộc Pháp Thành (枯木法成),đệ tử đắc pháp của Thiền Sư Phù Dung Đạo Khải .

Sau đó sư đến tham học với Thiền Sư Đan Hà Tử Thuần ở Đơn Hà Sơn (丹霞山, Tỉnh Hà Nam). Sau đó, Thiền sư Tử Thuần dời đến Đại Thừa Sơn (大乘山) thuộc Đường Châu (唐州), Bí Dương, Tỉnh Hà Nam và cũng như là tại Đại Hồng Sơn (大洪山) ở Tùy Châu (隨州), Tỉnh Hồ Bắc sư đều theo hầu thị giả thầy.

Một hôm sư đến tham vấn Tổ Đan Hà, sau khi đối đáp liền được đại ngộ. Được ghi lại trong công án sau:

Tổ Đan Hà hỏi sư: "Trước kiếp không ta là ai?"

Sư đáp: "Con ếch nuốt trăng ngồi đáy giếng, Canh ba chẳng mượn dạ minh rèm.

Đan Hà bảo: "Chưa được gì lại nói rồi."

Sư đang phân vân thì bị Đan Hà đánh cho một phất trần và bảo: "Lại nói không mượn.

Ngay lời nói này, sư tỏ ngộ, liền đảnh lễ tổ.

Đan Hà hỏi: "Sao ông không nói một lời nào thế?"

Sư thưa: "Hoằng Trí hôm nay bỏ mất dịp may, thật đắc tội!"

Đan Hà nói:"Chưa rảnh để đánh ông đấy. Hãy xéo đi cho!"

Sau khi khai ngộ, sư được Thiền Sư Tử Thuần ấn khả chứng minh và truyền pháp.,

 
Bức Họa Thiền Sư Hoằng Trí Chính Giác

Hoằng PhápSửa đổi

 
Tháp xá lợi của Thiền Sư Hoằng Trí Chính Giác tại Thiên Đồng Thiền Tự, thành phố Ninh Ba, Trung Quốc.

Năm sư 31 tuổi, tức năm thứ 3 (1121) niên hiệu Tuyên Hòa (宣和),sư được Thiền Sư Tử Thuần cử làm chức Thủ Tòa (首座) trong pháp hội.

Năm sau, Thiền sư Chân Yết Thanh Liễu sai tăng rước sư đến trụ trì tại Phổ Chiếu Tự (普照寺) ở Tứ Châu (泗州, Tỉnh An Huy), Sư ăn mặc rách rưới, tăng chúng lấy làm lạ Thiền Sư Chân Yết sai thị giả đem đổi giày mới cho sư. Sư bảo : Tôi vì giày mà đến sao? Chúng nghe được đều hết lòng kính phục, tán thán sư.

Và vào năm đầu (1127) niên hiệu Kiến Viêm (建炎), sư dời đến trụ trì tại Thái Bình Tự (太平寺) thuộc vùng Thư Châu (舒州) Tỉnh An Huy, rồi sau đó dời đến Vân Cư Sơn (雲居山, Tỉnh Giang Tây), và thỉnh thoảng sư có khai mở đạo tràng thuyết giảng tại núi Trường Lô (長蘆山, Tỉnh Giang Tô).

Sau sư đến trụ trì tại Cảnh Đức Thiên Đồng Thiền Tự ở Thiên Đồng Sơn(天童山), thành phố Ninh Ba, Tỉnh Triết Giang. Lúc bấy giờ trên Thiên Đồng Sơn rất nghèo túng, nhà cửa chật hẹp, nhưng kể từ khi sư đến trụ trì về sau thì thóc lúa đầy kho, ngôi già lam cũng được hoàn chỉnh trang nghiêm, đặc biệt ngôi Đại Pháp Đường được chỉnh trang đúng với thanh quy Thiền môn. đã trụ trì nơi đây trong vòng 30 năm cho đến khi viên tịch, chuyên tâm nhiếp hóa đồ chúng, được xem như là vị Tổ trung hưng của Thiên Đồng Sơn .

Phong cách sư khá bình dị, chân thật, bình thường được người cúng dường không vui mừng, cho ra không chán, ngày chỉ ăn một bữa và không ăn quá ngọ.

Văn từ của sư rất xảo diệu, sánh ngang hàng với Thiền Sư Tuyết Đậu (雪竇) , sư cùng với Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) của Lâm Tế Tông được tùng lâm tôn xưng là Nhị Đại Cam Lồ Môn của Thiền Tông. Nếu như Thiền Sư Động Sơn Lương GiớiTào Sơn Bản Tịch là hai vị khai tổ Tông Tào Động và đã phát triển Thuyết Ngũ Vị làm nền tảng tông phái, thì sư là vị tổ đã làm cho Tông Tào Động phát triển cực thịnh và thành một tông phái độc lập với phương thức tu hành riêng biệt.

Trong cuộc đời hoằng pháp của sư có rất nhiều môn đệ kiến tính, trong đó có 14 đệ tử được nối pháp. Điển hình nhất là Thiền Sư Từ Tông Tuyết Đậu, Thiền Sư Tự Đắc Huệ Huy( pháp mạch truyền được 10 đời thì chấm dứt).

Ngày mồng 8 tháng 10 năm Đinh Sửu(1157), niên hiệu Thiệu Hưng thứ 27, đời Tống, sư đắp y ngồi ngay thẳng nói chuyện với chúng rồi an nhiên thị tịch, trụ thế 67 năm, hạ lap 56 năm . Vua Tống Cao Tông ban tặng cho sư thụy hiệu là Hoằng Trí Thiền Sư (宏智禪師) . Nhục thân của sư lưu lại bảy ngày mà gương mặt vẫn tươi như còn sống, tháp được an trí ở Đông Cốc.Trước khi tịch sư viết kệ cho thiền sư Đại Huệ việc thỉnh người thừa kế Thiên Đồng Sơn :

Mộng huyễn không hoa,

Sáu mươi bảy năm,

Chim trắng khói lặn,

Nước thu tiếp trời

Mặc Chiếu ThiềnSửa đổi

Mặc Chiếu Thiền (黙照禪) hay còn gọi là Hoằng Trí Thiền (宏智禪) được Thiền Sư Chính Giác khởi xướng tại Trung Quốc đời Tống. Mặc là lặng yên, chuyên tâm ngồi thiền; Chiếu là dùng trí quán chiếu tâm tính linh tri xưa nay vốn thanh tịnh. Thiền Sư Chính giác cho rằng thực tướng tức là tướng mà vô tướng, chân tâm tức là tâm mà vô tâm, chân đắc tức là đắc mà vô đắc, chân dụng tức là dụng mà vô dụng, cho nên ngài chủ trướng “tọa không trần lự”(ngồi mà không suy tư)để yên lặng quán chiếu, không cần phải cầu đại ngộ, chỉ tọa thiền với thái độ vô sở đắc, vô sở ngộ.

Mặc chiếu Thiền bị Thiền Sư Đại Huệ thuộc Lâm tế tông bài bác, đả kích mạnh mẽ và chê bai bằng những từ ngữ như: Mặc chiếu tà thiền, Vô sự thiền, Khô mộc tử khôi thiền (Thiền cây khô tro lạnh) ...Sự việc này là do sự khác biệt giữa thiền phong của Thiền sư Tông Cảo và Thiền sư Chính Giác. Thiên Sư Đại Huệ đề xướng việc tham cứu, khán thoại các công án của cổ nhân để khế nhập phật tính triệt ngộ cho nên phê phán việc Thiền Sư chính giác dạy chủ trương im lặng ngồi thiền xoay mặt vào vách mà bỏ việc tham ngộ tu chứng.

Để phản bác ý kiến của Thiền Sư Đại Huệ thì thiền sư Chính giác soạn 1 bài minh “Mặc chiếu” (toàn bài gồm 72 câu, mỗi câu 4 chữ, tất cả có 288 chữ) để phản bác, cho rằng tọa thiền im lặng có công năng làm cho tác dụng của trí tuệ được hoạt bát, tự nhiên chiếu suốt tự đáy nguồn tâm tính, là Thiền chân thực, chính truyền của Phật Tổ; trong văn cũng chê pháp Thiền “Khán thoại đầu” của thiền sư đai huệ là chỉ chấp chặt vào công án mà thôi.

Tuy nhiên giữa Thiền Sư Đại Huệ và Thiền Sư Chính Giác có mối thâm giao pháp hữu với nhau: Thiền Sư Khắc CầnThiền Sư Đại Huệ từng đề cử Thiền Sư Hoằng Trí đến trụ trì tại Vân Cư Sơn. Khi Thiền Sư Đại Huệ đến trụ trì tại chùa A Dục Vương, tăng chúng hơn ngàn người, lương thực, vật chất thiếu thốn. Thiền Sư Hoằng Trí đã quyên ghóp lương thực, vật chất khiến cho tăng chúng ở chùa A Dục Vương được đầy đủ. Thiền Sư Đại Huệ từng ca ngợi Thiền Sư Hoằng Trí rằng : “ Nếu không phải cổ Phật tái sinh thì đâu có được việc này “. Trước khi tịch, Thiền Sư Hoằng Trí đã viết thư nhờ Thiền Sư Đại Huệ hoàn thành cuốn Thong Dong Lục và tìm người kế tiếp trụ trì tại Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự.Cho nên có thể chỉ trích này có lẽ nhằm hướng vào những huynh đệ khác của Thiền sư Hoằng Trí là Thiền Sư Chân Yết Thanh Liễu cũng đề xướng Thiền Mặc Chiếu, Thiền Sư Chân Yết Thanh Liễu từng viết bài Tín Tâm Niêm Cổ để bác quan điểm của Thiền Sư Đại Huệ.

Qua đó, cho thấy rằng phương pháp và quan điểm của hai tông không qua khác biệt như các đệ tử đời sau chứng minh.

Phương pháp Thiền Mặc Chiếu này trước kia phát triển cùng với Lâm tế tông. Nhưng vài trăm năm sau bị mai một do ít người kế thừa xuất sắc. Tuy nhiên nó vẫn được truyền bá mạnh mẽ ở Nhật cho tới thời nay do Thiền Sư Đạo Nguyên truyền bá. Tại Nhật được gọi là " Chỉ Quán Đã Tọa"(shikantaza).

Pháp NgữSửa đổi

"Gác vàng rèm sổ ai truyền tin nhà, màn đỏ phủ tối ném chân châu, chính khi ấy thấy nghe có chỗ chẳng đến, nói năng có chỗ chẳng kịp, làm sao thông được tin tức? Mộng về đêm tối mờ mờ sáng, cười chỉ gia phong rực rỡ xuân."

"Tâm không thể duyên miệng không thể luận, dù cho lui bước gánh vác, tối kỵ đương đầu chạm húy. Gió mát trăng trong bến đò xưa, thuyền đêm chèo chuyển lưu ly dấy."

"Không kiếp có chân tông, trước tiếng hỏi chính mình, đỏ cùng kế sống mới, trong trắng gia phong xưa, quả thật ngoài tam thừa, lặng lẽ trong một ấn, trở lại đi dị loại, muôn dòng tự về đông."

"Hôm nay là ngày đức Thích-ca đản sanh, Trường Lô chẳng biết nói thiền cùng quí vị vẽ hình tướng, chỉ như khi còn ở trong thai bà Ma-da thì sao? Sư lấy phất tử vẽ tướng này (), nói: Chỉ như khi lấy nước trong tắm sắc thân lại thế nào? Sư lại vẽ tướng này (), nói: Khi đi bảy bước, mắt nhìn bốn phương, tay chỉ trời tay chỉ đất, thành đạo thuyết pháp thần thông biến hóa, trí tuệ biện tài bốn mươi chín năm hơn ba trăm hội, nói xanh luận vàng chỉ Đông vẽ Tây, khi nhập Niết-bàn lại là sao? Sư vẽ tướng này (), lại nói: Nếu là kẻ Thiền tăng đủ mắt ắt là nhận nhau, kia nếu chưa được thế, mỗi mỗi trải qua mới được."

"Chư Thiền đức! Người nuốt hết Phật ba đời, vì sao lại mở miệng chẳng được? Người soi thấu bốn thiên hạ, vì sao nhắm mắt chẳng được? Bảo người nhiều bệnh hoạn cùng ông đồng thời niêm xong vậy. Hãy làm sao được thập thành thấu suốt đi. Lại hiểu chăng? Chẻ bể Hoa Sơn sắc nối nhau, khai thấu Hoàng Hà tiến đến biển."

Tác PhẩmSửa đổi

  • Hoằng Trí Giác Hòa Thượng Ngữ Yếu (宏智覺和尚語要) 1 quyển
  • Hoằng Trí Giác Thiền Sư Ngữ Lục (宏智覺禪師語錄) 4 quyển
  • Hoằng Trí Quảng Lục (宏智廣錄) 9 quyển
  • Thiên Đồng Bách Tắc Tụng Cổ (天童百則頌古)

Tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Hoành trí thiền sư quảng lục Q.5, 6, 8; Đại tuệ tông môn vũ khố.
  • Đại tuệ tông môn vũ khố(Thiền Sư Đại Huệ biên soạn)
  • Thiền Sư Trung Hoa(Tập 1,2,3) do Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch, xuất bản năm 1990.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.