Đũa ăn
Đũa gỗ và nhựa
Tiếng Trung Quốc
Hán ngữ tiêu chuẩn 筷子
Pinyin kuàizi
Wade-Giles k'uai-tzu
Quảng Đông Jyutping 筷子(faai3zi2)
Mân Nam 箸(di8)
Tiếng Nhật
Kanji
Hepburn Romaji hashi
Tiếng Triều Tiên
Hangul 젓가락
Latinh hóa jeotgarak
McCune-Reischauer chŏtkarak
Tiếng Việt
Quốc ngữ đũa
Nôm 𥮊 hay 𥯖

Đũa, một cặp thanh có chiều dài bằng nhau, cỡ khoảng 15–25 cm, là dụng cụ ăn uống cổ truyền ở Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam, còn được gọi là "các nước dùng đũa") và Thái Lan (chỉ dùng cho súpmỳ sợi, do vua Thái Rama V giới thiệu đồ dùng phương Tây từ thế kỷ 19). Đũa thường làm bằng gỗ, tre, kim loại, xương, ngà voi, và ngày nay, cả bằng chất dẻo. Có thông tin cho biết đũa và đồ dùng ăn uống bằng bạc được dùng cho vua quan để phát hiện chất độc (ôxít kim loại) trong thức ăn; nếu có chất độc, đũa sẽ có màu xỉn hay đen đi, do phản ứng thế. Đũa cũng là một đòn bẩy, tuy nhiên không đem lại lợi thế về "lực" mà đem lại lợi thế về "đường đi", đầu đũa có thể thu hẹp hoặc mở rộng được một khoảng cách khá lớn chỉ với một chuyển động nhỏ của các ngón tay.

Lịch sửSửa đổi

Đũa được hình thành ở Trung Hoa khoảng 3.000 đến 5.000 năm trước. Theo một nguồn khác, dạng muỗng đũa được dùng từ những năm 1500 trước Công nguyên ở Trung Hoa. Trong thế kỉ thứ 7 Công nguyên, đũa ăn được phổ biến tại các nước Đông Á: Nhật Bản, Hàn Quốc, và Việt Nam.

Đôi đũa được phát hiện sớm nhất là một cặp đũa kim loại được khai quật tại địa điểm khảo cổ Ân Khư thuộc triều đại nhà Thương (khoảng năm 1600-1046 TCN).

Đồ dùng giống đũa đã được khai quật ở Megiddo (Israel), thuộc về quân Scythian, những người xâm lược Canaan, cùng thời với MosesJoshua. Đây có thể là dấu hiệu cho biết liên hệ thương mại giữa Trung ĐôngViễn Đông thời cổ đại, hoặc là một phát triển độc lập. Đũa cũng đã được dùng ở Uyghur gần Mông Cổ vào khoảng thế kỷ 6 đến thế kỷ 8.

Lễ Ký ghi rằng đũa được sử dụng vào thời nhà Thương (1600-1046 TCN).

Sử Ký Tư Mã Thiên (109-91 TCN) viết rằng Trụ Vương, vị vua cuối cùng của nhà Thương đã sử dụng đũa ngà.

Cách sử dụng đũa cũng được viết trong cuốn Hàn Phi Tử của Hàn Phi (280-233 TCN) trong thế kỷ thứ 3 TCN.

Tài liệu tham khảo sớm nhất về đũa ở châu Âu được ghi chép trong cuốn Suma Oriental của Tomé Pires người Bồ Đào Nha vào năm 1515 tại Malacca:

Họ [người Trung Quốc] ăn bằng hai cây gậy và đồ đất nung hoặc bát sứ trong tay trái gần miệng, với hai cây gậy để hút vào. Đây là cách của người Trung Quốc.[1]

Sử dụngSửa đổi

 
Cách cầm đũa đúng (bên trái) và sai (bên phải)

Từ nguyênSửa đổi

Từ đũa trong tiếng Việt bắt nguồn từ từ tiếng Hán thượng cổ 箸 (có nghĩa là đũa).[2] William H. BaxterLaurent Sagart phục nguyên âm tiếng Hán thượng cổ của từ 箸 là /*[d]<r>ak-s/. Chữ Hán 箸 có âm Hán Việttrứ hoặc trợ.[3]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ https://books.google.pt/books?id=h82D-Y0E3TwC&lpg=PA115&vq=china&pg=PA116#v=onepage&q&f=false The Suma oriental of Tome Pires p.116
  2. ^ Mark J. Alves. “Early Sino-Vietnamese Lexical Data and the Relative Chronology of Tonogenesis in Chinese and Vietnamese”. Bulletin of Chinese Linguistics, Volume 11, Issue 1-2, năm 2018, trang 11.
  3. ^ Mark J. Alves. “Identifying Early Sino-Vietnamese Vocabulary via Linguistic, Historical, Archaeological, and Ethnological Data”. Bulletin of Chinese Linguistics, Volume 9, Issue 2, năm 2016, trang 283.

Liên kết ngoàiSửa đổi