Tiếng Hán thượng cổ

giai đoạn tiếng Hán cổ nhất được ghi chép

Tiếng Hán thượng cổ (tiếng Hán: 上古漢語; âm Hán Việt: thượng cổ Hán ngữ) là tiếng Hán giai đoạn cổ nhất được ghi nhận, là tiền thân của tất cả các phương ngữ tiếng Hán ngày nay. Ngữ liệu cổ nhất ta có được là những bản khắc giáp cốt văn niên đại khoảng 1250 TCN, cuối nhà Thương. Sau đó, thời nhà Chu, Kim văn trở nên phổ biến. Nửa cuối nhà Chu, nền văn học phát triển vượt bậc, với các tác phẩm kinh điển như Luận ngữ, Mạnh Tử, Tả truyện. Những tác phẩm này là hình mẫu cho văn ngôn, dạng tiếng Hán viết chuẩn cho đến đầu thế kỷ XX, qua đó giúp lưu giữ phần từ vựng-ngữ pháp thời cuối tiếng Hán thượng cổ.

Tiếng Hán thượng cổ
Tiếng Hán cổ
Song ding inscription.jpg
Kim văn thời nhà Chu (k. 825 TCN[1])
Sử dụng tạiTrung Quốc cổ đại
Phân loạiHán-Tạng
Hệ chữ viếtGiáp cốt văn
Kim văn
Triện thư
Điểu trùng triện
Mã ngôn ngữ
ISO 639-3och
Glottologshan1294  Shanggu Hanyu
Linguasphere79-AAA-a
Bài viết này có chứa ký tự ngữ âm IPA. Nếu không thích hợp hỗ trợ dựng hình, bạn có thể sẽ nhìn thấy dấu chấm hỏi, hộp, hoặc ký hiệu khác thay vì kí tự Unicode. Để biết hướng dẫn giới thiệu về các ký hiệu IPA, xem Trợ giúp:IPA.
Tiếng Hán thượng cổ
Phồn thể上古漢語
Giản thể上古汉语

Mỗi học giả nhìn nhận giai đoạn tiếng Hán thượng cổ theo một cách khác nhau. Một số cho rằng thời kỳ này dừng ở đầu nhà Chu, dựa trên bằng chứng hình thái học hiện có. Số khác cho rằng thời kỳ này gồm toàn bộ thời nhà Chu, thêm cả thời cuối nhà Thương dựa trên ngữ liệu cổ có được. Số khác nữa gộp cả thời nhà Tần, Hán, đôi lúc cả những thời kỳ sau nữa. Thời tiếng Hán trung cổ được cho là bắt đầu sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, trước khi nhà Tuỳ sụp đổ và trước khi Thiết Vận hoàn thành.[2] Tiền thân của lớp từ vựng cổ nhất trong các phương ngữ tiếng Mân được cho là tách khỏi phần còn lại vào nhà Hán, cuối thời kỳ tiếng Hán thượng cổ.[3]

Chữ Hán trải qua nhiều biến đổi trong thời kỳ tiếng Hán thượng cổ, từ giáp cốt văn, kim văn đến triện thư. Suốt thời kỳ này, có sự đối ứng chặt chẽ theo công thức một chữ ứng với một từ đơn âm tiết/đơn hình vị. Dù chữ Hán không phải bảng chữ cái, đa số chữ Hán có yếu tố ký âm nhất định. Ban đầu, từ khó biểu thị bằng chữ tượng hình có thể được biểu thị bằng cách "mượn" chữ có âm đọc tương tự. Về sau, để tránh sự mơ hồ, chữ mới được tạo nên bằng cách thêm bộ thủ, kết quả là những chữ Hán hình thanh. Với giai đoạn cổ nhất của tiếng Hán thượng cổ (cuối nhà Thương), thông tin ngữ âm trong những chữ Hán hình thanh này là nguồn dữ liệu trực tiếp duy nhất giúp đỡ việc phục dựng. Số lượng chữ hình thanh tăng mạnh vào thời nhà Chu. Thêm nữa, cách gieo vần trong những bài thơ chữ Hán cổ nhất (chủ yếu trong Kinh Thi), là nguồn thông tin âm vị học quan trọng về phần vần âm tiết trong các phương ngữ vùng Trung Nguyên vào thời Tây ChuXuân Thu. Tương tự như vậy, Sở từ cho thêm dữ liệu về phần vần của phương ngữ nói ở nước Sở thời Chiến Quốc. Những tác phẩm này, cùng với manh mối từ yếu tố ngữ âm trong những chữ hình thanh, cho phép các học giả xếp hầu hết chữ Hán thời tiếng Hán thượng cổ vào 30-31 nhóm vần. Đối với tiếng Hán thượng cổ vào thời nhà Hán, lớp từ vựng cổ nhất trong tiếng Mân Nam, lớp từ vựng gốc Hán cổ nhất trong tiếng Việt, một số tên riêng nguồn gốc ngoại lai, tên một số động-thực vật phi bản địa, cũng cung cấp thông tin giúp việc phục dựng thêm hoàn chỉnh.

Phân loạiSửa đổi

Hán ngữ trung cổ và các ngôn ngữ lân cận phía nam như Kra–Dai, H'Mông-Miềnchi Vietic thuộc hệ Nam Á sở hữu hệ thống thanh điệu, cấu trúc âm tiết, đặc điểm ngữ pháp và sự bất biến tố tương tự nhau; điều này không phải vì chúng có mối quan hệ "họ hàng", mà là bởi sự tiếp xúc-khuếch tán ngôn ngữ.[4][5] Hiện nay, giới ngôn học đồng tình coi tiếng Trung thuộc về ngữ hệ Hán-Tạng cùng với tiếng Miến Điện, tiếng Tây Tạng và nhiều ngôn ngữ khác rải rác khắp dãy Himalayakhối núi Đông Nam Á.[6] Bằng chứng cho giả thuyết này là hàng trăm từ chung gốc (cogante) đã được tìm thấy,[7] bao gồm nhiều từ vựng cơ bản như sau:[8]

Nghĩa Tiếng Hán cổ[a] Tiếng Tạng cổ Tiếng Miến cổ
'Ngôi nhất số ít' *ŋa[10] ṅa[11] ṅā[11]
'Ngôi hai số ít' *njaʔ[12] naṅ[13]
'Không' *mja[14] ma[11] ma[11]
'Hai' *njijs[15] gñis[16] nhac < *nhik[16]
'Ba' *sum[17] gsum[18] sumḥ[18]
'Năm' *ŋaʔ[19] lṅa[11] ṅāḥ[11]
'Sáu' *C-rjuk[b][21] drug[18] khrok < *khruk[18]
'Mặt trời' *njit[22] ñi-ma[23] niy[23]
'Tên' *mjeŋ[24] myiṅ < *myeŋ[25] maññ < *miŋ[25]
'Tai' *njəʔ[26] rna[27] nāḥ[27]
'Khớp' *tsik[28] tshigs[23] chac < *chik[23]
'Cá' *ŋja[29] ña < *ṅʲa[11] ṅāḥ[11]
'Đắng' *kʰaʔ[30] kha[11] khāḥ[11]
'Giết' *srjat[31] -sad[32] sat[32]
'Độc' *duk[33] dug[18] tok < *tuk[18]

Mặc dù mối quan hệ này đã được phát hiện vào đầu thế kỷ 19 và hiện được chấp nhận rộng rãi, công cuộc phục nguyên tiếng Hán-Tạng vẫn còn non nớt hơn nhiều so với các hệ như Ấn-Âu hoặc Nam Đảo.[34] Tuy Hán ngữ thượng cổ là thành viên được chứng thực sớm nhất của hệ này, chữ viết tượng hình của người Hán lại không làm rõ cách phát âm của từng từ;[35] gây cản trở công tác khảo cứu. Những khó khăn khác phải kể đến bao gồm sự đa dạng ngôn ngữ cực kỳ lớn, sự bất biến tố của các ngôn ngữ thuộc hệ và sự tiếp xúc-vay mượn giữa các ngôn ngữ trong khu vực. Ngoài ra, nhiều ngôn ngữ nhỏ chưa được mô tả hoàn hảo vì người nói các ngôn ngữ đó cư trú ở các vùng núi và khu vực biên giới nhạy cảm và khó tiếp cận.[36][37]

Âm vịSửa đổi

Âm vị tiếng Hán thượng cổ đã được tái dựng dựa trên nhiều bằng chứng, bao gồm Hán tự ký âm, cách thức gieo vần trong Kinh Thi và cách đọc tiếng Hán trung cổ trong các tác phẩm như Thiết Vận (601 CN). Mặc dù nhiều chi tiết vẫn đang bị tranh cãi, các phục nguyên gần đây đã thống nhất về các vấn đề cốt lõi.[38] Ví dụ sau đây là các phụ âm đầu được Lý Phương QuếWilliam Baxter công nhận, với vài bổ sung (chủ yếu của Baxter) được đóng ngoặc đơn:[39][40][41]

Môi Răng Vòm cứng
[c]
Ngạc mềm Thanh quản
thường xuýt thường môi hoá thường môi hóa
Tắc hoặc
tắc xát
vô thanh *p *t *ts *k *kʷ *ʔʷ
bật hơi *pʰ *tʰ *tsʰ *kʰ *kʷʰ
hữu thanh *b *d *dz *ɡʷ
Mũi vô thanh *m̥ *n̥ *ŋ̊ *ŋ̊ʷ
hữu thanh *m *n *ŋʷ
Bên vô thanh *l̥
hữu thanh *l
Xát hoặc
tiếp cận
vô thanh (*r̥) *s (*j̊) *h *hʷ
hữu thanh *r (*z) (*j) (*ɦ) (*w)

Nhiều tổ hợp âm đầu đã được đề xuất, nhất là cụm *s- + một phụ âm khác, nhưng vẫn chưa có đồng thuận về vấn đề này.[43]

Bernhard Karlgren và nhiều học giả sau này để xuất tiếng Hán thượng cổ sở hữu các phụ âm giữa *-r-, *-j- và *-rj- để giải thích âm quặt lưỡi (retroflex), âm ồn (obstruent), và nhiều sự tương phản nguyên âm xuất hiện ở tiếng Hán trung cổ.[44] Âm *-r- và sự tương phản âm biểu thị bởi *-j- hầu như được chấp nhận, tuy nhiên, cách thực hiện (realization) lướt vòm (palatal glide) của *-j- còn là đề tài tranh cãi. Nhiều cách thực hiện khác được sử dụng trong các phục nguyên gần đây.[45][46]

Các phục nguyên kể từ thập niên 80 trở đi thường đề xuất 6 nguyên âm sau đây:[47][d][e]

*i *u
*e *a *o

Nguyên âm có thể được theo sau bởi các âm kết giống tiếng Hán trung cổ: *-j hoặc *-w lướt; *-m , *-n hoặc *-ŋ mũi; *-p, *-t hoặc *-k dừng. Một số học giả đề xuất thêm âm kết *-kʷ môi-vòm mềm.[51] Hiện nay, giới chuyên gia cho rằng tiếng Hán thượng cổ không có thanh điệu hiện hữu ở các ngôn ngữ hậu duệ, nhưng có các hậu-kết âm như *-ʔ và *-s, diễn tiến lần lượt thành thanh thượng (rising tone) và thanh khứ (departing tone) của tiếng Hán trung cổ.[52]

Ngữ phápSửa đổi

Ta biết rất ít về ngữ pháp tiếng Hán sơ kỳ, vì hầu hết các văn liệu thời cổ chỉ ghi chép các nghi lễ cúng tế và phần lớn từ vựng chưa được giải mã. Tuy nhiên, vốn văn học phong phú thời Chiến Quốc đã được phân tích kỹ lưỡng.[53] Tiếng Hán thượng cổ không có sự biến tố hình thái từ, mà thứ tự câu, trợ từ, và từ loại mới đảm nhận các chức năng ngữ pháp.[53][54]

Từ loạiSửa đổi

Đại từ nhân xưng tiếng Hán thượng cổ có rất nhiều dạng thù trong các văn liệu, có lẽ bởi sự khác biệt giữa các phương ngữ.[55] Có hai nhóm đại từ ngôi nhất:[56][57]

  1. Dạng *l-: *lja , *ljaʔ ,[f] *ljə *lrjəmʔ
  2. Dạng *ŋ-: *ŋa *ŋajʔ

Trong các bản khắc giáp cốt văn, đại từ dạng *l- được nhà vua sử dụng để chỉ bản thân, và đại từ dạng * ŋ- được sử dụng bởi dân chúng thời nhà Thương. Sự phân biệt hai dạng không tái xuất trong các văn liệu về sau, và đại từ dạng *l- mất hẳn trong thời kỳ cổ điển.[57] Sau thời nhà Hán, trở thành đại từ chung chỉ ngôi nhất.[59]

Các đại từ ngôi hai bao gồm *njaʔ , *njəjʔ , *njə , *njak .[60] Chữ tiếp tục được sử dụng không phân biệt cho tới khi bị thay thế bởi biến thể miền tây bắc là (bính âm hiện đại: ) thời nhà Đường.[59] Tuy nhiên, một vài phương ngữ Mân hiện đại vẫn sử dụng đại từ ngôi hai phái sinh từ .[61]

Tiếng Hán thượng cổ không có đại từ chủ ngữ ngôi ba chuyên dụng, nhưng *tjə (ban đầu là một từ chỉ định khoảng cách) được sử dụng như một đại từ tân ngữ ngôi ba trong thời kỳ cổ điển.[62][63] Đại từ sở hữu ban đầu là *kjot bị thay thế bởi *ɡjə thời kỳ cổ điển.[64] Sau thời nhà Hán, chữ được dùng làm đại từ chung chỉ ngôi ba.[59] Chữ này vẫn tồn tại trong vài phương ngữ Ngô.[59]

Tiếng Hán thượng cổ có đại từ nghi vấnđại từ chỉ định, nhưng không có đại từ bất định với nghĩa như 'something' hoặc 'nothing' trong tiếng Anh.[65] Các đại từ phân bổ được tạo thành với hậu tố *-k:[66][67]

  • *djuk 'ai đó' từ *djuj 'ai'
  • *kak 'mỗi một' từ *kjaʔ 'tất cả'
  • *wək 'có kẻ (phiếm chỉ người)' từ *wjəʔ 'có'
  • *mak 'chẳng ai' từ *mja 'chẳng có'

Từ vựngSửa đổi

Vốn từ vựng cốt lõi của tiếng Hán thượng cổ đã được hầu hết các nhà nghiên cứu truy vết về tiếng tổ tiên Hán-Tạng, với các từ vay mượn sớm từ các ngôn ngữ lân cận.[68] Quan điểm truyền thống cho rằng tiếng Hán thượng cổ là một ngôn ngữ đơn lập do nó không có sự biến tố (inflection) hoặc sự phái sinh hình thái (morphological derivation), nhưng giờ thi ta biết rằng, từ vẫn có thể được hình thành thông qua quá trình phụ tố dẫn xuất (derivational affixation), láy từ (reduplication) và ghép từ (compounding).[69] Hầu hết các tác giả chỉ xem xét các gốc đơn âm tiết, nhưng Baxter và Laurent Sagart cũng đề xuất các gốc đôi âm tiết mà âm tiết đầu bị lược bỏ, giống trong tiếng Khmer hiện đại.[70]

Từ mượnSửa đổi

Vào thời cổ, văn minh Trung Hoa bành trướng từ khu vực xung quanh hạ lưu Vị Hà và trung lưu Hoàng Hà về phía đông qua đồng bằng Hoa Bắc đến Sơn Đông và sau đó xuống phía nam vào thung lũng Dương Tử. Không có ghi chép nào về các thứ tiếng phi-Hán được nói ở những nơi trước khi bị người Hán chinh phục và đồng hóa. Tuy nhiên, dấu vết của chúng vẫn còn tồn tại trong tiếng Hán (thông qua quá trình vay mượn) và có thể là nguồn gốc của một số từ Hán có lai lịch không rõ ràng.[71][72]

Jerry Norman và Mei Tsu-lin xác định nhiều từ vay mượn của tiếng Nam Á trong tiếng Hán thượng cổ, có lẽ từng được nói bởi các dân tộc hạ lưu sông Dương Tử được người Trung Quốc gọi là Việt (Yue). Ví dụ, người Hán cổ gọi sông Dương Tử*kroŋ (, bính âm: jiāng, Hán-Việt: giang), nhưng rồi được họ sử dụng để chỉ chung các con sông ở miền nam Trung Quốc. Norman và Mei cho rằng từ 江 chung gốc với sông của tiếng Việt (dạng Vietic nguyên thủy là *krong) và kruŋ 'sông' của tiếng Môn.[73][74][75]

Haudricourt và Strecker đề xuất một số từ vay mượn của tiếng H'Mông-Miền, bao gồm nhiều thuật ngữ canh tác lúa nước phát tích ở thung lũng giữa sông Dương Tử:

Có một số từ nghi vấn có gốc bản địa miền Nam Trung Quốc, nhưng không rõ là từ đâu:

Thời xưa, người Tochari Ấn-Âu cư trú tại lòng chảo Tarim lan truyền thuật nuôi ong lấy mật sang Trung Quốc. Từ *mjit 'mật' (, bính âm: , Hán-Việt: mật)có nguồn gốc từ *ḿət(ə) của tiếng Tochari nguyên thủy (*ḿ ở đây được vòm hóa; so sánh với mit của tiếng Tochari B), chung gốc với từ mead 'rượu mật ong' của tiếng Anh.[79][g] Các dân tộc phương bắc cũng đóng góp một số từ ví dụ như *dok 'con bê' (, bính âm: , Hán-Việt: độc) – so sánh với tuɣul tiếng Mông Cổtuqšan tiếng Mãn Châu.[82]

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Các dạng phục nguyên tiếng Hán cổ được đánh dấu * ở đầu, và dựa theo nghiên cứu của Baxter (1992) kèm theo một vài thay thế từ các công trình gần đây hơn của ông: thay bằng [9] và các phụ âm theo chuẩn IPA.
  2. ^ Ký hiệu "*C-" biểu thị một phụ âm ta biết chắc phải đứng trước *r, nhưng chưa đủ bằng chứng để phục nguyên phụ âm đó.[20]
  3. ^ Baxter nhận xét về phục nguyên phụ âm vòm "especially tentative, being based largely on scanty graphic evidence".[42]
  4. ^ Âm được thay thế bằng âm hoặc tùy từng tác giả.
  5. ^ Hệ thống 6 nguyên âm là phiên bản tái phân tích của hệ thống được Lý Phương Quế đề xướng. Hệ thống của ông bao gồm 4 nguyên âm *i, *u, *a cùng với 3 nguyên âm đôi.[48] Các nguyên âm đôi *ia*ua tương ứng lần lượt với *e*o, còn *iə tương ứng với *i hoặc .[49][50]
  6. ^ Trong truyền thống đọc sau này, chữ 予 (khi được sử dụng như một đại từ) được coi là một biến thể của 余. Tuy nhiên trong Thi Kinh, 予 dạng đại từ và động từ đều vần với thanh thượng.[57][58]
  7. ^ Guillaume Jacques lại cho rằng nó bắt nguồn từ một tiếng Tochari khác, chưa được chứng thực.[80] Meier và Peyrot gần đây phản biện để bảo vệ luận điểm cũ.[81]

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Shaughnessy (1999), tr. 298.
  2. ^ Tai, James H-Y.; Chan, Marjorie K.M. (1999), “Some reflections on the periodization of the Chinese language [Vài ý nghĩ về sự phân kì lịch sử của tiếng Trung]” (PDF), trong Peyraube, Alain; Sun, Chaofen (biên tập), In Honor of Mei Tsu-Lin: Studies on Chinese Historical Syntax and Morphology, Paris: Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales, tr. 225–233, ISBN 978-2-910216-02-3
  3. ^ Baxter, William H.; Sagart, Laurent (2014), Old Chinese: A New Reconstruction, NXB Đại học Oxford, tr. 33, ISBN 978-0-19-994537-5
  4. ^ Norman (1988), tr. 8–12.
  5. ^ Enfield (2005), tr. 186–193.
  6. ^ Norman (1988), tr. 12–13.
  7. ^ Coblin (1986), tr. 35–164.
  8. ^ Norman (1988), tr. 13.
  9. ^ Schuessler (2007), tr. 122.
  10. ^ GSR 58f; Baxter (1992), tr. 208.
  11. ^ a b c d e f g h i j Hill (2012), tr. 46.
  12. ^ GSR 94j; Baxter (1992), tr. 453.
  13. ^ Hill (2012), tr. 48.
  14. ^ GSR 103a; Baxter (1992), tr. 47.
  15. ^ GSR 564a; Baxter (1992), tr. 317.
  16. ^ a b Hill (2012), tr. 8.
  17. ^ GSR 648a; Baxter (1992), tr. 785.
  18. ^ a b c d e f Hill (2012), tr. 27.
  19. ^ GSR 58a; Baxter (1992), tr. 795.
  20. ^ Baxter (1992), tr. 201.
  21. ^ GSR 1032a; Baxter (1992), tr. 774.
  22. ^ GSR 404a; Baxter (1992), tr. 785.
  23. ^ a b c d Hill (2012), tr. 9.
  24. ^ GSR 826a; Baxter (1992), tr. 777.
  25. ^ a b Hill (2012), tr. 12.
  26. ^ GSR 981a; Baxter (1992), tr. 756.
  27. ^ a b Hill (2012), tr. 15.
  28. ^ GSR 399e; Baxter (1992), tr. 768.
  29. ^ GSR 79a; Baxter (1992), tr. 209.
  30. ^ GSR 49u; Baxter (1992), tr. 771.
  31. ^ GSR 319d; Baxter (1992), tr. 407.
  32. ^ a b Hill (2012), tr. 51.
  33. ^ GSR 1016a; Baxter (1992), tr. 520.
  34. ^ Handel (2008), tr. 422.
  35. ^ Norman (1988), tr. 14.
  36. ^ Handel (2008), tr. 434–436.
  37. ^ Norman (1988), tr. 15–16.
  38. ^ Schuessler (2009), tr. x.
  39. ^ Lý (1974–1975), tr. 237.
  40. ^ Norman (1988), tr. 46.
  41. ^ Baxter (1992), tr. 188–215.
  42. ^ Baxter (1992), tr. 203.
  43. ^ Baxter (1992), tr. 222–232.
  44. ^ Baxter (1992), tr. 235–236.
  45. ^ Schuessler (2007), tr. 95.
  46. ^ Baxter & Sagart (2014), tr. 68–71.
  47. ^ Baxter (1992), tr. 180.
  48. ^ Lý (1974–1975), tr. 247.
  49. ^ Baxter (1992), tr. 253–256.
  50. ^ Handel (2003), tr. 556–557.
  51. ^ Baxter (1992), tr. 291.
  52. ^ Baxter (1992), tr. 181–183.
  53. ^ a b Herforth (2003), tr. 59.
  54. ^ Schuessler (2007), tr. 12.
  55. ^ Norman (1988), tr. 87–88.
  56. ^ Norman (1988), tr. 89.
  57. ^ a b c Pulleyblank (1996), tr. 76.
  58. ^ Baxter (1992), tr. 805.
  59. ^ a b c d Norman (1988), tr. 118.
  60. ^ Pulleyblank (1996), tr. 77.
  61. ^ Sagart (1999), tr. 143.
  62. ^ Aldridge (2013), tr. 43.
  63. ^ Pulleyblank (1996), tr. 79.
  64. ^ Pulleyblank (1996), tr. 80.
  65. ^ Norman (1988), tr. 90–91.
  66. ^ Norman (1988), tr. 91.
  67. ^ Schuessler (2007), tr. 70, 457.
  68. ^ Schuessler (2007), tr. xi, 1–5, 7–8.
  69. ^ Baxter & Sagart (1998), tr. 35–36.
  70. ^ Baxter & Sagart (2014), tr. 50–53.
  71. ^ Norman (1988), tr. 4, 16–17.
  72. ^ Boltz (1999), tr. 75–76.
  73. ^ Norman & Mei (1976), tr. 280–283.
  74. ^ Norman (1988), tr. 17–18.
  75. ^ Baxter (1992), tr. 573.
  76. ^ Haudricourt & Strecker (1991); Baxter (1992), tr. 753; GSR 1078h; Schuessler (2007), tr. 207–208, 556.
  77. ^ Norman (1988), tr. 19; GSR 728a; OC từ Baxter (1992), tr. 206.
  78. ^ Schuessler (2007), tr. 292; GSR 876n; OC từ Baxter (1992), tr. 578.
  79. ^ Boltz (1999), tr. 87; Schuessler (2007), tr. 383; Baxter (1992), tr. 191; GSR 405r; các dạng Tochari nguyên thủy và Tochari B từ Peyrot (2008), tr. 56.
  80. ^ Jacques (2014).
  81. ^ Meier & Peyrot (2017).
  82. ^ Norman (1988), tr. 18; GSR 1023l.

Công trình trích dẫnSửa đổi

Đọc thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi