Mở trình đơn chính

Tiếng Hán thượng cổ (giản thể: 上古汉语; phồn thể: 上古漢語; Hán-Việt: Thượng Cổ Hán Ngữ; bính âm: Shànggǔ Hànyǔ) là tiếng Trung Quốc giai đoạn cổ nhất được ghi nhận, là tiền thân của tất cả dạng tiếng Trung Quốc ngày nay.[a] Ngữ liệu cổ nhất ta có được là những bản khắc Giáp cốt văn niên đại khoảng 1250 TCN, cuối nhà Thương. Sau đó, thời nhà Chu, Kim văn trở nên phổ biến. Nửa cuối nhà Chu, nền văn học phát triển vượt bậc, với các tác phẩm kinh điển như Luận ngữ, Mạnh Tử, Tả truyện. Những tác phẩm này là hình mẫu cho Văn ngôn, dạng tiếng Hán viết chuẩn cho đến đầu thế kỷ XX, qua đó giúp lưu giữ phần từ vựng-ngữ pháp thời cuối tiếng Hán thượng cổ.

Tiếng Hán thượng cổ/Tiếng Trung Quốc thượng cổ

Tiếng Hán cổ đại
Song ding inscription.jpg
Kim văn thời nhà Chu (khoảng  825 TCN[1])
Sử dụng tạiTrung Quốc cổ đại
Phân loạiHán-Tạng
  • Hán
    • Tiếng Hán thượng cổ/Tiếng Trung Quốc thượng cổ
Hệ chữ viếtGiáp cốt văn, Kim văn, Triện thư
Mã ngôn ngữ
ISO 639-3och
Glottologshan1294
Linguasphere79-AAA-a

Chữ Hán trải qua nhiều biến đổi trong thời kỳ tiếng Hán thượng cổ, từ Giáp cốt văn, Kim văn đến Triện thư. Suốt thời kỳ này, có sự đối ứng chặt chẽ theo công thức một ký tự ứng với một từ đơn âm tiết/đơn hình vị. Dù chữ Hán không phải bảng chữ cái, đa số ký tự có yếu tố ký âm nhất định. Ban đầu, từ khó biểu thị bằng chữ tượng hình có thể được biểu thị bằng cách "mượn" ký tự có âm đọc tương tự. Về sau, để tránh sự mơ hồ, ký tự mới được tạo nên bằng cách thêm bộ thủ, kết quả là những chữ Hán hình thanh. Với giai đoạn cổ nhất của tiếng Hán thượng cổ (cuối nhà Thương), thông tin ngữ âm trong những chữ Hán hình thanh này là nguồn dữ liệu trực tiếp duy nhất giúp đỡ việc phục dựng. Số lượng chữ hình thanh tăng mạnh vào thời nhà Chu. Thêm nữa, cách gieo vần trong những bài thơ chữ Hán cổ nhất (chủ yếu trong Kinh Thi), là nguồn thông tin âm vị học quan trọng về phần vần âm tiết trong các phương ngữ vùng Trung Nguyên vào thời Tây ChuXuân Thu. Tương tự như vậy, cuốn Sở Từ cho thêm dữ liệu về phần vần của phương ngữ nói ở nước Sở thời Chiến Quốc. Những tác phẩm này, cùng với manh mối từ yếu tố ngữ âm trong những chữ hình thanh, cho phép các học giả xếp hầu hết chữ Hán thời tiếng Hán thượng cổ vào 30-31 nhóm vần. Đối với tiếng Hán thượng cổ vào thời nhà Hán, lớp từ vựng cổ nhất trong tiếng Mân Nam, lớp từ vựng gốc Hán cổ nhất trong tiếng Việt, một số tên riêng nguồn gốc ngoại lai, tên một số động-thực vật phi bản địa, cũng cung cấp thông tin giúp việc phục dựng thêm hoàn chỉnh.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Mỗi học giả nhìn nhận giai đoạn tiếng Hán cổ đại theo một cách khác nhau. Một số cho rằng thời kỳ này dừng ở đầu nhà Chu, dựa trên bằng chứng hình thái học hiện có. Số khác cho rằng thời kỳ này gồm toàn bộ thời nhà Chu, thêm cả thời cuối nhà Thương dựa trên ngữ liệu cổ có được. Số khác nữa gộp cả thời nhà Tần, Hán, đôi lúc cả những thời kỳ sau nữa. Thời tiếng Hán trung đại/trung cổ được cho là bắt đầu sau khi nhà Tấn thống nhất Trung Quốc, trước khi nhà Tuỳ sụp đổ và trước khi Thiết Vận hoàn thành.[2] Tiền thân của lớp từ vựng cổ nhất trong các phương ngữ tiếng Mân được cho là tách khỏi phần còn lại vào nhà Hán, cuối thời kỳ tiếng Trung thượng cổ.[3]

Nguồn tham khảoSửa đổi

  1. ^ Shaughnessy (1999), tr. 298.
  2. ^ Tai & Chan (1999), tr. 225–233.
  3. ^ Baxter & Sagart (2014), tr. 33.