Đạt Nhĩ Hãn (tiếng Mãn: ᡩᠠᡵᡥᠠᠨ, Möllendorff: darhan[Chú 1], Giản thể: 达尔汉, Phồn thể: 達爾漢, 1590 - 1644), còn được phiên âm là Đạt Nhĩ Cáp (达尔哈), Quách Lạc La thị[1], là một tướng lĩnh thời Hậu Kim và đầu thời nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Ban đầu ông thuộc Mãn Châu Tương Hoàng Kỳ, sau đổi thành Mãn Châu Chính Lam Kỳ.

Cuộc đờiSửa đổi

Đạt Nhĩ Hán sinh vào năm Minh Vạn Lịch thứ 18 (1590), là con trai của Dương Thư cùng Triêm Hà Cô - em gái Nỗ Nhĩ Cáp Xích[2].

Vào thời Thái Tổ, ông theo cha là Dương Thư quy phụ Hậu Kim, nhậm chức Ngưu lục ngạch nhân [Chú 2]. Cưới con gái thứ hai của Nỗ Nhĩ Cáp XíchNộn Triết Cách cách, trở thành Ngạch phò.

Năm Thiên Mệnh thứ 4 (1619), theo Nỗ Nhĩ Cáp Xích diệt Diệp Hách bộ, có công giết được Diệp Hách Bối Lặc Kim Đài Thạch, được phong thế chức Nhất đẳng Phó Tướng (一等副将) tương đương với Nhất đẳng Nam (一等男)[Chú 3][Chú 4].

Năm thứ 11 (1626), Hoàng Thái Cực kế vị ngôi Khả hãn, ông trở thành là một trong Tổng quản Kỳ vụ Bát đại thần, nhậm chức Cố sơn Ngạch chân [Chú 5], thống lĩnh Mãn Châu Tương Hoàng kỳ. Cùng với Đại Bối lặc Đại Thiện chinh phạt Trát Lỗ Đặc bộ, bắt được Trát Lỗ Đặc Thai Cát; lại phạt Đống Quỹ bộ, bắt được 3 người Tháp Bố Nang Cổ Mục Sở Hách Nhĩ, Đỗ Khách Nhĩ, Đại Thanh Đa Nhĩ Tể, tấn Tam đẳng Tổng Binh Quan tương đương với Tam đẳng Tử (三等子).

Năm Thiên Thông nguyên niên (1627), theo Bối lặc A Mẫn chinh phạt Triều Tiên, tấn công vào Nghĩa Châu, Định Châu, An Châu, trảm Phủ doãn.

Năm thứ 3 (1629), theo Hoàng Thái Cực tấn công Minh triều, đánh vào Tuân Hóa.

Năm thứ 5 (1631), cùng với Trịnh Thân vương Tế Nhĩ Cáp lãng mở cuộc vây công vào Đại Lăng Hà, Tuân Hóa, Cẩm Châu.

Năm thứ 6 (1632), theo Hoàng Thái Cực thân chinh Sát Cáp Nhĩ bộ, chiếm được đến Tuyên Phủ (nay là thành phố Tuyên Hóa, tỉnh Hà Bắc), có công. Năm thứ 8 (1634), chinh phạt Sát Cáp Nhĩ bộ.

Năm Sùng Đức nguyên niên (1636), ông theo A Tế Cách phạt Minh, tấn Nhất đẳng Tổng Binh Quan. Năm thứ 2 (1637), lại xuất chinh Triều Tiên, bởi vì uống rượu, làm việc trái luật mà bị hoạch tội.

Năm thứ 6 (1641), bao vây Cẩm Châu, vì ông không tham gia ngự tiền hội nghị mà bị bãi nhậm, đoạt thế chức.

Năm Thuận Trị nguyên niên (1644), Đạt Nhĩ Hán qua đời vì bệnh, thọ 55 tuổi[3].

Gia đìnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Nghĩa là "Tự do, tự tại". Là một xưng hiệu của quan viên Đột Quyết, Khiết Đan, là danh hiệu vinh dự của người Mông Cổ.
  2. ^ Năm 1660, Ngưu lục Ngạch chân (牛彔额真, tiếng Mãn: ᠨ᠋ᡳᡵᡠ
    ᡝᠵᡝᠨ
    , Möllendorff: niru ejen được định danh trong Hán ngữ là Tá lĩnh
  3. ^ Năm 1634, Phó tướng được dịch theo Mãn ngữ thành Mai lặc Chương kinh. Đến năm 1647, danh hiệu Mai lặc Chương kinh được đổi thành A Tư Cáp Ni Cáp Phiên.
  4. ^ A Tư Cáp Ni Cáp Phiên (阿思哈尼哈番, tiếng Mãn: ᠠᠰᡥᠠᠨ ‍ᡳ
    ᡥᠠᡶᠠᠨ
    , chuyển tả: ashan-i hafan), nguyên nghĩa là "Phó quan". Năm 1736, được định danh trong Hán ngữ là Nam tước.
  5. ^ Năm 1660, Cố sơn Ngạch chân được định danh trong Hán ngữ là Đô thống

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Lý Hoàn 2007, tr. 373 - 377, Tập 39, Quyển 263
  2. ^ Hội đồng biên soạn nhà Thanh 1987, tr. 631 - 640, Tập 1, Quyển 4
  3. ^ Triệu Nhĩ Tốn 1928, Quyển 217
  4. ^ Triệu Nhĩ Tốn 1928, Quyển 254

Tài liệuSửa đổi

  • Triệu Nhĩ Tốn (1998). Thanh sử cảo. Trung Hoa thư cục. ISBN 9787101007503.
  • Triệu Nhĩ Tốn (1928). “Quyển 227, Liệt truyện 13 - Đạt Nhĩ Hán truyện”. Thanh sử cảo.
  • Hội đồng biên soạn nhà Thanh (1987). Vương Chung Hàn (biên tập). Thanh sử Liệt truyện. Trung Hoa thư cục. ISBN 9787101003703.
  • Lý Hoàn (2007). Quốc triều Kỳ hiến loại trưng. Hiệu sách Quảng Lăng. ISBN 9787806942215.