Mở trình đơn chính

Vùng XV Arica và Parinacota [2][3] (tiếng Tây Ban Nha: XV Región de Arica y Parinacota)[4] là một trong 15 vùng, là đơn vị hành chính cấp I của Chile. Vùng này nằm tận cùng về phía Bắc của Chile, nó tiếp giáp với Peru về phía bắc, Bolivia về phía đông, Tarapacá về phía nam, trong khi phía tây là Thái Bình Dương. Đây cũng là một trong hai vùng mới nhất được thành lập vào ngày 8 tháng 10 năm 2007.[1] Trước đây nó là một phần của vùng Tarapacá và cả hai đều là một tỉnh cũ của Peru mà sau đó đã bị chiếm đóng bởi Chile theo Hiệp ước Ancón năm 1883 sau cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, và sau đó chính thức sáp nhập vào Chile vào năm 1929 theo Hiệp ước Lima.

Vùng Arica và Parinacota
XV Región de Arica y Parinacota
—  Vùng của Chile  —
Hình nền trời của Vùng Arica và Parinacota
Cờ của Vùng Arica và Parinacota
Hiệu kỳ
Huy hiệu của Vùng Arica và Parinacota
Huy hiệu
Bản đồ của Vùng Arica và Parinacota
Bản đồ của Vùng Arica và Parinacota
Vùng Arica và Parinacota trên bản đồ Thế giới
Vùng Arica và Parinacota
Vùng Arica và Parinacota
Quốc giaChile
Thủ đôArica
TỉnhArica, Parinacota
Diện tích[1]
 • Tổng cộng16.873,3 km2 (65,148 mi2)
Thứ hạng diện tích12
Độ cao cực đại6.342 m (20,807 ft)
Độ cao cực tiểu0 m (0 ft)
Dân số (2012)[1]
 • Tổng cộng213.595
 • Thứ hạng13
 • Mật độ1.3/km2 (3.3/mi2)
Múi giờUTC-4 sửa dữ liệu
Mã ISO 3166ISO 3166-2:CL
Trang webOfficial website (tiếng Tây Ban Nha)

Quản lýSửa đổi

Năm 2007, vùng Arica và Parinacota được chia tách trên cơ sở hai tỉnh phía bắc của Tarapacá là tỉnh Arica, Parinacota

Vùng Tỉnh Diện tích
(km²)[5][6]
Dân số[5][6]
(2002)
Website[7]
Arica và Parinacota
Arica
Camarones 3.927 1.220 link
Arica 4.799 185.268 link
Parinacota
Putre 5.903 1.977 link
General Lagos 2.244 1.179 link

Nhân khẩu họcSửa đổi

 
Thủ phủ Arica.

Theo số liệu từ Tổng điều tra năm 2002, khu vực này là có dân số là 189.644 người. Mật độ của nó là 11,2 người/km ².

Các dân tộc tại đây bao gồm các dân tộc bản địa Chile là người Quechua, Aymara, Atacameno, Diaguita, MapucheKaweskar (Alacaluf hoặc Qwakshar). Một số lượng lớn người nhập cư từ các nước láng giềng Peru, Bolivia, EcuadorColombia, người gốc Á (chẳng hạn như Trung QuốcNhật Bản), người Ả Rập từ Liban, PalestineSyria. Hầu hết người Chile gốc Phi sinh sống tại tỉnh Arica, là hậu duệ của những người nô lệ châu Phi trong thế kỷ 17-18. Có một số lượng lớn người Romani trong tỉnh Arica có nguồn gốc từ Đông Âu vào cuối thế kỷ 19.

Arica là thành phố đông dân nhất, với 175.441 người đồng thời cũng là thủ phủ của vùng.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â “Arica-Parinacota Region”. Chính phủ Chile Ủy ban đầu tư nước ngoài. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010. 
  2. ^ “Iglesias de Arica Parinacota (Churches of Arica Parinacota)”. New York, NY: World Monuments Fund. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2012. However, San Pedro de Esquiña, like many other churches in the Arica y Parinacota region, is at risk. 
  3. ^ “Journalists and media professionals to participate in awareness-raising workshop on violence against women in Arica”. UNESCO. 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2012. [...] several women’s public organizations and agencies from the Chilean region of Arica y Parinacota. 
  4. ^ “Ley 20175. Crea la XV Región de Arica y Parinacota y la Provincia del Tamarugal en la Región de Tarapacá”. Ley Chile (bằng tiếng Tây Ban Nha). Valparaiso, Chile: Biblioteca del Congreso Nacional de Chile. 11 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2012. 
  5. ^ a ă (tiếng Tây Ban Nha) “National Statistics Institute”. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2010. 
  6. ^ a ă “Territorial division of Chile” (PDF). Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2010. 
  7. ^ (tiếng Tây Ban Nha) “Asociacion Chilena de Municipalidades”. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011. 

Liên kết ngoàiSửa đổi