Bảo Thụ (chữ Hán: 保绶; 1684 - 1706), Ái Tân Giác La, là một Tông thất của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Cuộc đờiSửa đổi

Bảo Thụ được sinh ra vào giờ Hợi, ngày 17 tháng 7 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 23 (1684), trong gia tộc Ái Tân Giác La. Ông là con trai thứ năm của Dụ Hiến Thân vương Phúc Toàn, mẹ ông là Trắc Phúc tấn Qua Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏).

Ban đầu, Khang Hi Đế vì đặt tên cho Hoàng trưởng tử Dận Thì là Bảo Thành (保成) và Hoàng nhị tử Dận Nhưng là Bảo Thanh (保清), nên thứ tự ban tên cho ông cùng các anh em khác là Bảo Thái (保泰), Bảo Thụ, Bảo An (保安), Bảo Vĩnh (保永). Sau khi phụ thân ông qua đời, Khang Hi Đế vì thương tiếc Hoàng huynh nên đã hứa hẹn: "Hậu tự của Vương, Trẫm sẽ bảo hộ che chở." ("王之后嗣,朕佑庇之").

Khi còn nhỏ, ông cùng anh trai là Bảo Thái được Khang Hi Đế cho vào cung nuôi dạy, cho thấy Khang Hi Đế rất yêu thương hai người cháu trai này. Ông từ nhỏ gầy yếu nhiều bệnh, Khang Hi Đế luôn cẩn thận tỉ mỉ quan tâm. Mỗi khi Khang Hi Đế ly kinh xuất cung, đều phái người cấp báo tình trạng bệnh tình của ông, cũng cho thái y trong cung chăm sóc chu đáo. Ngoài ra, ông còn có lần dặn dò Hoàng tam tử Dận Chỉ (胤祉) và Hoàng bát tử Dận Tự (胤禩): "Ngươi chờ thường xuyên đi xem Bảo Thụ a ca, thỉnh đại phu trị liệu." ("尔等经常去看保寿阿哥,请大夫医治").

Năm Khang Hi thứ 45 (1706), Khang Hi Đế lại Nam tuần, ngoài sáu vị Hoàng tử tùy giá, ông cũng được đi theo. Trong lúc dừng chân, ông cảm thấy không khỏe, Khang Hi Đế tức tốc phái ngự y ở Mông Cổ Lạt Ma đến để trị liệu. Khang Hi Đế nhiều lần tận tình khuyên bảo ông hồi kinh, nhưng ông không đồng ý. Cuối cùng phải cưỡng bách thì ông mới chịu cho ngự y hộ tống hồi kinh. Tuy nhiên, trên đường hồi kinh, ngày 8 tháng 9 (âm lịch), giờ Thìn, ông không may qua đời, thọ 23 tuổi.

Sau khi ông qua đời, Khang Hi Đế đích thân ngự bút cho chư vị Hoàng tử: "Bảo Thụ a ca di thể đã vận hướng kinh sư, đến ngày, ngươi chờ tự mình nghênh đón. Đem đến ngày trước báo cho Bảo Thụ Phúc tấn, cũng tấu cáo Hoàng thái hậu." ("保寿阿哥的遗体已运往京师,“抵达之日,尔等亲自迎接。将抵达日期预先告知保绶福晋,并奏告皇太后"). Khang Hi Đế hồi kinh, đến Sướng Xuân viên chỉ dụ: "Dư cố Phụ quốc công phẩm cấp Bảo Thụ tế lần thứ hai, kiến mồ lập bia". ("予故辅国公品级保绶祭二次,建坟立碑").

Ông được truy phong tước Phụ quốc công (辅国公), đến năm Ung Chính thứ 2 (1724), con trai thứ hai của ông là Quảng Ninh (廣寧) được tập tước Dụ Thân vương (裕親王). Năm thứ 3 (1725), ông được truy phong làm Điệu Thân vương (悼亲王), được phụ táng vào Thanh Tây lăng.

Gia quyếnSửa đổi

Đích Phúc tấnSửa đổi

  • Đông Giai thị (佟佳氏), con gái của Quan quân sứ Anh Thư (英舒).

Trắc Phúc tấnSửa đổi

  • Lưu thị (劉氏), con gái của Lưu Trung (劉忠).

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Quảng Phú (廣富; 1702 - 1705), mẹ là Trắc Phúc tấn Lưu thị. Chết yểu.
  2. Quảng Ninh (廣寧; 1705 - 1739), mẹ là Đích Phúc tấn Đông Giai thị. Năm 1724 được tập tước Dụ Thân vương (裕親王). Năm 1726 bị cách tước. Có tám con trai.
  3. Quảng Lộc (廣祿; 1706 - 1785), mẹ là Trắc Phúc tấn Lưu thị. Năm 1726 được tập tước Dụ Thân vương (裕親王). Sau khi qua đời được truy thụy Dụ Trang Thân vương (裕莊親王). Có hai mươi hai con trai.

Tham khảoSửa đổi