Mở trình đơn chính

Ái Tân Giác La Dận Chỉ (chữ Hán: 爱新觉罗胤祉; 23 tháng 3, 1677 - 10 tháng 7, 1732), là Hoàng tử thứ 3 tính trong số những người con sống tới tuổi trưởng thành của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế.

Dận Chỉ
Hoàng tử nhà Thanh
Yinzhi.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫuĐổng Ngạc thị
(董鄂氏)
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Dận Chỉ
(爱新觉罗胤祉)
Ái Tân Giác La Doãn Chỉ
(爱新觉罗允祉)
Thụy hiệu
Thành Ẩn Quận vương
(誠隱郡王)
Hoàng tộcÁi Tân Giác La
Thân phụThanh Thánh Tổ Khang Hi Đế
Thân mẫuVinh phi
Sinh23 tháng 3, 1677
Mất10 tháng 7, 1732

Tiểu sửSửa đổi

Dận Chỉ là con trai duy nhất sống tới tuổi trưởng thành của Vinh phi, một trong những phi tần đầu tiên của Khang Hi Đế. Ông là em ruột của Cố Luân Vinh Hiến công chúa (固倫榮憲公主).

Theo sử sách thì Dận Chỉ là người đa tài có học thức uyên thâm. Ông tinh thông lịch pháp, số học, còn được giao biên tập điển tịch như “Luật lịch uyên nguyên”, “Cổ kim đồ thư tập thành". Khang Hi Đế đánh giá rất cao tài năng của Dận ChỉJoachim Bouvet đã một lần đề cập trong một bức thư gửi cho vua Louis XIV rằng đích thân Khang Hi Đế dạy dỗ vị Hoàng tử này. Dận Chỉ cũng được biết đến với tài thư pháp của mình qua bài thơ do chính ông khắc lên mộ của cha mình tại Cảnh lăng (景陵).

Năm 1698, Dận Chỉ được phong Thành Quận vương (誠郡王) khi đã 21 tuổi. Một năm sau thì bị giáng xuống làm Bối lặc (貝勒). Năm 1709, tấn phong Thành Thân vương (誠親王).

Năm 1722, Khang Hi Đế băng hà, Ung Chính Đế nối ngôi đã yêu cầu tất cả các anh em phải đổi chữ "Dận" thành chữ "Doãn" để tránh kỵ huý. Vì vậy ông đổi tên là Doãn Chỉ. Sinh thời, ông là người không có dã tâm đoạt vị nhưng vẫn không tránh khỏi liên lụy. Sau khi Ung Chính Đế lên ngôi, lấy lý do “Doãn Chỉ cùng Thái tử lúc sinh thời rất thân thiết”, đã đày Doãn Chỉ ra Cảnh lăng để trông coi mộ cha mình. Từ một Hoàng tử, Doãn Chỉ bị sung vào quân ngũ, trở thành cảnh vệ cho lăng mộ vua cha. Doãn Chỉ tỏ ra bất bình vì việc này. Năm 1728, Ung Chính Đế phục vị Thành Thân vương (誠親王) cho ông. Năm 1730, Di Hiền Thân vương Doãn Tường qua đời, vì có thái độ bất kính nên Ung Chính Đế đã tước hết tước vị của Doãn Chỉ và giam tại Vĩnh An Đình, Cảnh Sơn. Năm 1732, ông qua đời trong thời gian bị giam giữ, thuỵ là Thành Ẩn Quận vương (誠隱郡王).

Gia quyếnSửa đổi

Đích Phúc tấnSửa đổi

  • Đổng Ngạc thị (董鄂氏), con gái của Đô thống Bằng Xuân (鵬春).

Trắc Phúc tấnSửa đổi

  • Điền Giai thị (田佳氏), con gái của Đoàn Đạt Lễ (敦達禮).
  • Điền thị (田氏), em gái của Điền Giai thị.
  • Hoàn Nhan thị (完顏氏), con gái của Thị lang La Sát (罗察), chị ruột của Hoàn Nhan Phúc tấn (Đích Phúc tấn của Tuân Cần Quận vương Dận Đề).

Thứ thiếpSửa đổi

  • Phú Sát thị (富察氏).
  • Y Nhĩ Căn Giác La thị (伊爾根覺羅氏), con gái của Cát Nhĩ Hán (葛爾漢).
  • Kỳ Đức Lý thị (奇德理氏), con gái của Viên ngoại lang Tam lĩnh Tát Cáp Liêm (薩哈廉).
  • Vương thị (王氏), con gái của Tang Cách (桑格).
  • Châu thị (朱氏), con gái của Châu Nãi Trình (朱鼐程).
  • Lý thị (李氏), con gái của Lý Tiên Long (李先隆).
  • Trần thị (陳氏), con gái của Trần Phú Vinh (陳富榮).
  • Ngô thị (吳氏), con gái của Ngô Mỹ (吳美).

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Hoằng Tĩnh (弘晴; 1696 - 1701), mất sớm, mẹ là Đổng Ngạc thị.
  2. Nhị tử (1696), chết non, mẹ là Điền thị.
  3. Hoằng Thịnh (弘晟; 1698 - 1732), mẹ là Đổng Ngạc thị, được phong Thế tử (1720), sau bị tước vị (1724).
  4. Tứ tử (1698), chết non, mẹ là Vương thị.
  5. Ngũ tử (1699), chết non, mẹ là Phú Sát thị.
  6. Hoằng Huy (弘曦; 1702 - 1743), mẹ là Vương thị, không rõ phong vị.
  7. Hoằng Cảnh (弘暻; 1703 - 1777), mẹ là Điền Giai thị, được phong Trấn quốc công (1728), sau phong Bối tử (1730).
  8. Hoằng Xiêm (弘暹; 1710 - 1771), mẹ là Lý thị, được phong Phó lý sự quan.
  9. Cửu tử (1710 - 1711), chết non, mẹ là Châu thị.
  10. Hoằng Hoảng (弘晃; 1713 - 1749), mẹ là Kỳ Đức Lý thị, được phong Tứ đẳng Thị vệ.
  11. Hoằng Dịch (弘易; 1713 - 1752), mẹ là Hoàn Nhan thị, được phong Tam đẳng Thị vệ.
  12. Hoằng Chúc (弘矚; 1730 - 1769), mẹ là Trần thị, được phong Tam đẳng Thị vệ.

Con gáiSửa đổi

  • Chỉ có con gái thứ 3 (1702 - 1746) là sống tới tuổi trưởng thành và hạ giá lấy Mục Trát Phổ (穆扎普), mẹ là Y Nhĩ Căn Giác La thị.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi