Mở trình đơn chính

Wikipedia β

Cà chua là một loại rau quả làm thực phẩm. Quả ban đầu có màu xanh, chín ngả màu từ vàng đến đỏ. Cà chua có vị hơi chua và là một loại thực phẩm bổ dưỡng, giàu vitamin C và A, đặc biệt là giàu lycopeme tốt cho sức khỏe.

Solanum lycopersicum
Bright red tomato and cross section02.jpg
Một quả cà chua và phần cắt dọc
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Solanales
Họ (familia) Solanaceae
Phân họ (subfamilia) Solanoideae
Tông (tribus) Solaneae
Chi (genus) Solanum[1]
Loài (species) S. lycopersicum
Danh pháp hai phần
Solanum lycopersicum[2]
L.
Danh pháp đồng nghĩa

Lycopersicon lycopersicum (L.) H. Karst.

Lycopersicon esculentum Mill.[3]

Cà chua thuộc họ cây Bạch anh, các loại cây trong họ này thường phát triển từ 1 đến 3 mét chiều cao, có những cây thân mềm bò trên mặt đất hoặc dây leo trên thân cây khác ví dụ nho. Họ cây này là một loại cây lâu năm trong môi trường sống bản địa của nó, nhưng nay nó được trồng như một loại cây hàng năm ở các vùng khí hậu ôn đới.

Mục lục

Lịch sửSửa đổi

Cà chua có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Bằng chứng di truyền cho thấy cà chua được tiến hóa từ loài cây nhỏ quả màu xanh phổ biến ở vùng cao nguyên Peru [4]. Một loài có tên Solanum lycopersicum được vận chuyển đến México, nơi nó được trồng và tiêu thụ bởi dân cư Trung Mỹ. Loại cà chua được thuần hóa đầu tiên có thể là trái cây màu vàng, tương tự như cà chua anh đào, được trồng bởi người Aztec miền Trung Mexico[5]. Từ cà chua bắt nguồn từ tomatl trong tiếng Nahuatl, có nghĩa trái cây sưng.[6]

Nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Cortés có thể là người đầu tiên chuyển loại cà chua nhỏ màu vàng tới Châu Âu sau khi ông chiếm được thành phố Aztec của người Tenochtitlan, tại Mexico vào năm 1521. Christopher Columbus có thể đưa chúng đến châu Âu sớm hơn nhưng ông không làm được. Cuộc thảo luận đầu tiên của các nhà khoa học về cà chua vào năm 1544. Pietro Andrea Mattioli, một bác sĩ và là nhà thực vật học người Italia đã đặt tên cho loại quả mới này là pomo d'oro hay táo vàng [7].

Người Aztec và các dân tộc khác trong khu vực sử dụng cà chua trong việc nấu ăn của mình, nó đã được trồng ở miền nam Mexico và có thể ở nhiều vùng khác vào khoảng 500 năm trước Công Nguyên. Người ta cho rằng đột biến ừ một loại trái cây nhỏ nguồn gốc Trung Mỹ là tổ tiên trực tiếp của loài cà chua canh tác hiện tại.

Người Tây Ban Nha phổ biến

Sau khi thực dân Tây Ban Nha thuộc địa hóa châu Mỹ, Người Tây Ban Nha đã đem giống cà chua đi phân phối ở khắp các thuộc địa của họ trong vùng biển Caribbean. Họ cũng mang đến Philippines, từ đó lây lan sang Đông Nam Á và toàn bộ lục địa Á châu. Người Tây Ban Nha đem cà chua đến châu Âu, nó sinh trưởng một cách dễ dàng ở vùng khí hậu Địa Trung Hải, việc trồng trọt ở đây bắt đầu trong năm 1540. Cà chua được sử dụng làm thực phẩm ngay sau khi nó được giới thiệu. Sách dạy nấu ăn đầu tiên với công thức có cà chua xuất bản ở Naples vào năm 1692.[7]:17 Một số vùng ở Ý chỉ mới dùng cà chua vào mục đích trang trí trong bàn ăn trước khi nó được kết hợp với các món ăn địa phương vào cuối thế kỷ 17 hoặc đầu thế kỷ 18.

Trồng trọtSửa đổi

 
Sản lượng cà chua năm 2005

Cà chua được phát triển trên toàn Thế giới do sự tăng trưởng tối ưu của nó trong nhiều điều kiện phát triển khác nhau. Các loại cà chua được trồng trọt phổ biến nhất là loại quả đường kính khoảng 5–6 cm. Hầu hết các giống được trồng đề cho ra trái cây màu đỏ, nhưng một số giống cho quả vàng, cam, hồng, tím, xanh lá cây, đen hoặc màu trắng. Đặc biệt có loại cà chua nhiều màu và có sọc.

 
Cây giống cà chua trồng trong nhà

Cà chua là một trong các loại trái cây vườn phồ biến nhất tại Hoa Kỳ, cùng với quả bí xanh được người trồng ưa thích.

Một vài thương gia tạo ra ngân hàng cung cấp hạt giống thuần chủng. Định nghĩa về cà chua thuần chủng là mơ hồ, nhưng không giống với các giống thương mại, chúng được côn trùng thụ phấn vào được lai tạo trong 40 năm hoặc lâu hơn.

Khoảng 150 triệu tấn cà chua đã được sản xuất ra trên Thế giới trong năm 2009. Trung Quốc là nước sản xuất cà chua lớn nhất, chiếm khoảng một phần tư sản lượng toàn cầu, tiếp theo là Hoa Kỳ và Ấn Độ. Các khu vực chế biến tại California chiếm 90% lượng sản xuất ở Mỹ và 35% lượng sản xuất thế giới.[8]

Theo FAO, Những quốc gia sản xuất cà chua nhiều nhất thế giới năm 2009 là:[9]

Sàn xuất cà chua – 2009
(số lượng: tấn)
  Trung Quốc 45.365.543
  Hoa Kỳ 14.141.900
  Ấn Độ 11.148.800
  Thổ Nhĩ Kỳ 10.745.600
  Ai Cập 10.000.000
Tổng cộng toàn cầu 152.956.115

GiốngSửa đổi

 
Màu sắc cà chua anh đào khác nhau sau khi chín

Hiện có khoảng 7.500 giống cà chua trồng cho các mục đích khác nhau. Cà chua thuần chủng đang ngày càng trở lên phổ biến, đặc biệt giữa các người vườn và nhà sản xuất khi học có xu hướng sản xuất các loại cây trồng có hương vị thú vị hơn, tăng khả năng kháng bệnh và năng suất.

Cây lai vẫn còn phổ biến, kể từ khi có mục đích sản xuất lớn, người ta kết hợp các đặc điểm tốt của các loại cà chua thuần chủng với độ ổn định của các loại cà chua thương mại thông thường.

 
Các giống cà chua thuần chủng khác nhau

Giống cà chua được chia thành nhiều loại, chủ yếu dựa vào hình dạng và kích thước.

  • Loại cà chua Slicing hay globe là cà chua thương mại thông thường, dùng được cho nhiều cách chế biến và ăn tươi.
  • Loại cà chua Beefsteak là cà chua lớn thường dùng cho bánh mì. Thời gian bảo quản ngắn khiến ít được sử dụng trong thương mại.
  • Loại cà chua Oxheart có hình dạng giống như loại dâu tây lớn.
  • Cà chua mận được lai tại để sử dụng trong sản xuất nước sốt cà chua.
  • Cà chua lê hình quả lê.
  • Cà chua anh đào nhỏ và tròn, vị ngọt ăn trong món salad.
  • Cà chua nho được giới thiệu gần đây, một biến thể của cà chua mận nhưng nhỏ hơn, được dùng trong món salad
  • Cà chua Campari ngọt, lớn hơn cà chua anh đào nhưng nhỏ hơn cà chua mận.

Hầu hết các giống cà chua hiện đại đều mịn bề mặt, nhưng một số giống cà chua hiện đại như beefsteak thường có khía rõ rệt. Hầu hết các giống trái cây thương mại màu đỏ, nhưng nhiều giống cà chua thuần chủng có màu sắc đa dạng. Có một sự khác biệt giữa cà chua trồng cho thương mại so với cà chua do những người làm vườn sản xuất tại gia. Giống sản xuất do người làm vườn thường được chú trọng đến hương vị, còn giống do các cơ sở sản xuất thương mại hướng đến hình dạng, kích thước, kháng sâu bệnh, phù hợp cho việc cơ giới hóa thu hái và vận chuyển.

Cà chua phát triển tốt với 7 giờ chiếu sáng mỗi ngày từ ánh sáng mặt trời. Một phân bón NPK với tỷ lệ 5-10-10 thường được bán làm phân bón cà chua hoặc phân bón rau, cả phân hữu cơ cũng được sử dụng.

Sâu bệnhSửa đổi

 
Sâu cà chua ăn quả cà chua chưa chín

Các giống cà chua khác nhau có khả năng kháng bệnh khác nhau. Các phương pháp lai hiện đại tập trung vào việc cải thiện khả năng kháng bệnh của thực vật thuần chủng. Một bệnh cà chua thông thường là bệnh do virus khảm thuốc lá gây ra.[10] Nhiều hình thức của nấm mốcbệnh bạc lá cũng ảnh hưởng đến cà chua, đó là lý do các giống cà chua thường được đánh dấu với khả năng kháng bệnh cụ thể. Bằng cách sử dụng các chữ cái, phổ biến nhất là: V - héo Verticillium, F - Fusarium héo chủng I, FF - Fusarium héo chủng I và II, N - tuyến trùng, T - virut khảm thuốc lá, và A - Alternaria.

Một bệnh đặc biệt nguy hiểm với cà chua là bệnh curly top, làm gián đoạn vòng đời. Như tên gọi của nó, nó có những triệu chứng làm cho ngọn lá của cây xuất hiện nếp nhăn và phát triển bất thường. Một số loài gây hại phổ biến là sâu cà chua, bọ cánh cứng, nhện đỏ, sên và loại bọ khoai tây Colorado.

Khi bị côn trùng tấn công, cây cà chua sản xuất hormone peptide và systemin kích hoạt cơ chế phòng thủ, chẳng hạn như sản xuất các chất ức chế protease để làm chậm sự phát triển của côn trùng. Loại hormon này lần đầu tiên được xác định trong cà chua, nhưng những protein tương tự cũng đã được xác định có trong các loài khác.[11]

Biến đổi genSửa đổi

Cà chua đã được biến đổi bằng cách sử dụng kỹ thuật di truyền. Việc biến đổi gen cà chua cho mục đích thương mại tạo ra loại cà chua Flavr Savr, được thiết kế để có tuổi thọ dài hơn.[12] Các nhà khoa học đang tiếp tục phát triển cà chua với những đặc điểm mới không tìm thấy trong các giống trồng tự nhiên, như tăng khả năng kháng sâu hại và thích nghi môi trường. Các dự án khác nhằm mục đích làm phong phú thêm các chất có lợi trong cà chua tốt cho sức khỏe hoặc cung cấp dinh dưỡng cao.

Tiêu thụSửa đổi

Cà chua được trồng và ăn trên khắp thế giới. Nó được sử dụng bằng nhiều cách khác nhau, bao gồm cả nguyên liệu trong món salad, và chế biến thành nước sốt cà chua hoặc súp cà chua. Cà chua chưa chín màu xanh lá cây cũng có thể được tẩm bột và chiên, được sử dụng để làm cho salsa, hoặc ngâm. Nước ép cà chua được bán như là một thức uống, và được sử dụng trong cocktail như Bloody Mary.

Cà chua có nhiều axit, giúp cho nó dễ dàng bảo quản và đóng hộp. Cà chua cũng được bảo quản bằng cách phơi dưới ánh nắng mặt trời.

Thành phần dinh dưỡngSửa đổi

Trong cà chua có chứa rất nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho cơ thể như carotene, lycopene, vitaminkali. Tất cả những chất này đều rất có lợi cho sức khoẻ con người. Đặc biệt cái loại vitamin B, vitamin Cbeta carotene giúp cơ thể chống lại quá trình oxy hoá của cơ thể, giảm thiểu nguy cơ tử vong do bệnh tim mạchung thư.

Cà chua đỏ, còn sống
Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 75 kJ (18 kcal)
4 g
Đường 2.6 g
Chất xơ thực phẩm 1 g
0.2 g
1 g
Vitamin
Vitamin C
(16%)
13 mg
Other constituents
Nước 95 g
Tỷ lệ phần trăm xấp xỉ gần đúng sử dụng lượng hấp thụ thực phẩm tham chiếu (US recommendations) cho người trưởng thành.

Thuộc tính dùng làm thuốcSửa đổi

Lycopen được chứng mình có thể bảo vệ cơ thế chống lại quá trình oxi hóa trong nhiều nghiên cứu dịch tễ học. Cà chua là nguồn nhiều Lycopen, tiêu thụ cà chua có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú, ung thư đầu và cổ, có thể chống lại rất mạnh các bệnh thoái hóa thần kinh.[13] Uống nước sốt cà chua xay nhuyễn là giúp trị các triệu chứng bệnh tiểu đường. Tiêu thụ cà chua còn giúp mang lại lợi ích cho việc giảm nguy cơ tim mạch và bệnh liên quan đến tiểu đường loại 2.[14]

Độc tínhSửa đổi

Lá và thân cây cà chua có chứa atropine, tomatinealkloid tropane là độc hại nếu nuốt phải. Trái cà chua chín không chứa các hợp chất này. Việc sử dụng lá cà chua làm trà (tisane) từng là nguyên nhân của ít nhất một cái chết.[15] Tuy nhiên, mức độ của tomatine nói chung quá nhỏ để có thể gây nguy hiểm.[16]

Cà chua có thể gây hại cho những con chó nếu nó ăn quá nhiều trái cà chua.[17]

Ngày 30 tháng 10 năm 2006, Trung tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Hoa Kỳ (CDC) công bố cà chua có thể là nguồn gốc của một dịch bệnh bùng phát gây ra 172 bệnh nhân trong 18 tiểu bang.[18] Cà chua có liên quan đến bảy dịch salmonella từ năm 1990.[19] Năm 2008 dịch này bùng phát khiến nhà chức trách loại bỏ cà chua ra khỏi sạp hàng tạp hóa và nhà hàng trên khắp Hoa Kỳ[20]

Giá Trị Dinh Dưỡng Của Cà ChuaSửa đổi

Lợi ích sức khoẻ của cà chua có thể là do sự giàu có của họ về các chất dinh dưỡng và vitamin, bao gồm một lượng vitamin A , vitamin C và vitamin K ấn tượng , cũng như lượng vitamin B6 , folate và thiamin đáng kể . Chúng cũng là nguồn kali , mangan , magiê , phốt pho và đồng . Họ cũng có chất xơ và protein, cũng như một số hợp chất hữu cơ như lycopene cũng góp phần vào lợi ích sức khoẻ tổng thể mà cà chua có thể mang lại cho sức khoẻ của chúng ta!

Lợi Ích Sức Khoẻ Của Cà ChuaSửa đổi

Lợi ích sức khoẻ của cà chua đã được nhân loại biết đến từ thời cổ đại. Họ là những nguồn chất chống oxy hoá phong phú đã được chứng minh là có hiệu quả chống lại nhiều dạng ung thư. Một số lợi ích sức khoẻ khác của cà chua như sau:

Cà chuaNguồn chứa nhiều chất chống oxy hoá: Cà chua có chứa một lượng lớn lycopene, một chất chống oxy hoá có hiệu quả cao trong việc thu nhặt ung thư gây ra các gốc tự do. Lợi ích này thậm chí có thể thu được từ các sản phẩm cà chua được xử lý nhiệt như ketchup. Lycopene trong cà chua phòng chống ung thư và có hiệu quả đặc biệt trong việc chống lại ung thư tuyến tiền liệt , ung thư cổ tử cung, ung thư dạ dày và trực tràng, cũng như ung thư họng và thực quản. Nó cũng bảo vệ chống ung thư vú và ung thư miệng, theo các nghiên cứu của Trường Y tế Công cộng Harvard.

Nguồn giàu vitamin và khoáng chất: Một loại cà chua đơn có thể cung cấp khoảng 40% nhu cầu vitamin C hàng ngày. Vitamin C là một chất chống oxy hóa tự nhiên ngăn ngừa các gốc tự do gây ung thư làm hư hại hệ thống của cơ thể. Nó cũng chứa nhiều vitamin A và kali, cũng như sắt . Kali đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khoẻ thần kinh và sắt là điều cần thiết để duy trì sức khoẻ máu bình thường. Vitamin K, rất cần thiết cho máu đông máu và kiểm soát chảy máu, cũng rất phong phú trong cà chua.

Giảm Cholesterol và bảo vệ tim: Các lycopene trong cà chua ngăn ngừa huyết thanh quá trình oxy hóa lipid, do đó việc gây một tác dụng bảo vệ chống lại bệnh tim mạch bệnh . Mức tiêu thụ đều đặn đã được chứng minh là làm giảm mức cholesterol LDL và triglyceride trong máu. Những lipid này là những thủ phạm chính trong các bệnh tim mạch và dẫn đến sự lắng đọng chất béo trong các mạch máu.

Chống tác động của khói thuốc lá: Hai thành phần chính của cà chua, axit coumaric và axit chlorogenic, chống lại nitrozamin được sản xuất trong cơ thể và là chất gây ung thư chính được tìm thấy trong thuốc lá. Sự hiện diện của vitamin A với số lượng lớn như vậy cũng đã được hiển thị để giảm tác động của chất gây ung thư và có thể bảo vệ bạn chống lại ung thư phổi.

Cải thiện Tầm nhìn: Vitamin A, có trong cà chua, giúp cải thiện thị lực, cũng như trong việc phòng ngừa mù mắt ban đêm và thoái hóa điểm vàng. Vitamin A là một chất chống oxy hóa mạnh mẽ có thể được hình thành từ sự dư thừa beta-carotene trong cơ thể. Rất nhiều vấn đề về thị giác xảy ra do những tác động tiêu cực của các gốc tự do, và vitamin A là một chất chống oxy hoá mạnh mẽ.

Sức khoẻ tiêu hóa: Cà chua giữ cho hệ tiêu hóa lành mạnh bằng cách ngăn ngừa táo bón và tiêu chảy . Nó cũng ngăn ngừa chứng vàng da và loại bỏ độc tố khỏi cơ thể một cách hiệu quả. Hơn nữa, chúng có một lượng lớn chất xơ, có thể lên đến nhiều phân và giảm triệu chứng táo bón. Một lượng chất xơ bổ dưỡng giúp kích thích sự chuyển động của cơ bắp trong cơ bắp trơn, và cũng giải phóng các chất lỏng dạ dày và tiêu hóa. Điều này có thể điều chỉnh chuyển động ruột của bạn, do đó cải thiện sức khỏe tiêu hóa tổng thể của bạn và giúp bạn tránh những điều kiện như ung thư đại trực tràng.

Giảm huyết áp:  Tiêu thụ cà chua hàng ngày làm giảm nguy cơ phát triển bệnh cao huyết áp, hay còn gọi là cao huyết áp. Điều này một phần là do mức độ ấn tượng của kali được tìm thấy trong cà chua. Kali là chất làm giãn mạch, có nghĩa là nó làm giảm sự căng thẳng trong mạch máu và động mạch, do đó tăng tuần hoàn và giảm căng thẳng lên tim bằng cách loại bỏ cao huyết áp.

Quản lý bệnh tiểu đường: Một nghiên cứu được tiến hành bởi Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ cho thấy việc tiêu thụ cà chua hàng ngày làm giảm căng thẳng oxy hoá của bệnh đái tháo đường týp 2 .

Da khỏe mạnh: Cà chua hỗ trợ duy trì răng khỏe mạnh, xương, tóc và da. Việc sử dụng nước ép cà chua ở chỗ thậm chí còn được biết đến để chữa bệnh cháy nắng nghiêm trọng . Tiêu thụ hàng ngày bảo vệ da chống lại đỏ da do tia UV gây ra .  Họ xếp hạng cao trong việc chuẩn bị các sản phẩm chống lão hóa .

Ngăn ngừa Nhiễm trùng đường tiểu: Uống cà chua cũng làm giảm tỷ lệ mắc bệnh nhiễm trùng đường tiểu , cũng như ung thư bàng quang . Điều này là bởi vì cà chua có hàm lượng nước cao, có thể kích thích tiểu tiện, vì vậy chúng là thuốc lợi tiểu theo những cách nhất định. Điều này làm tăng việc loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể, cũng như lượng nước dư thừa, muối , acid uric, và một số chất béo nữa!

TomatoinfographicNgăn ngừa bệnh sỏi mật: Tiêu thụ cà chua thường xuyên cũng có thể giúp giảm bớt các bệnh túi mật như sỏi mật .

Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh hiệu quả của cà chua đối với nhiều bệnh mãn tính và các loại ung thư. Các đặc tính chống oxy hóa của cà chua cũng có thể được lấy từ thực phẩm chế biến, bao gồm cả cà chua được tìm thấy trong sốt cà chua và puree. Tiêu thụ cà chua hàng ngày đáp ứng yêu cầu hàng ngày của vitamin và khoáng chất và có tác dụng bảo vệ tổng thể trên cơ thể.

Một vài hình ảnh về cà chuaSửa đổi

Hình ảnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Slow Food® Upstate” (PDF). Renato Vicario. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2014. 
  2. ^ “Solanum lycopersicum- Tomato”. Encyclopedia of Life. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2014. 
  3. ^ “Solanaceae Source: Phylogeny of the genus Solanum”. Natural History Museum. Molecular phylogenetic analyses have established that the formerly segregate genera Lycopersicon, Cyphomandra, Normania, and Triguera are nested within Solanum, and all species of these four genera have been transferred to Solanum 
  4. ^ Sam Cox (December 2000) I Say Tomayto, You Say Tomahto...Bản mẫu:Self-published inline
  5. ^ Curiosities of I-5, facts about King and the benefits of volunteers Chester Progressive, Jan 16, 2008.
  6. ^ Online Etymology Dictionary: Tomato
  7. ^ a ă Smith, Andrew F (1994). The tomato in America: early history, culture, and cookery. Columbia, S.C, USA: University of South Carolina Press. ISBN 1-5700-3000-6. [cần số trang]
  8. ^ Hartz, T. et al. Processing Tomato Production in California. UC Vegetable Research and Information Center.
  9. ^ FAOSTAT, Crop statistics
  10. ^ Tomato-Tobacco Mosaic Virus Disease Extension.umn.edu. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2006.
  11. ^ J. Narvaez-Vasquez and M. L. Orozco-Cardenas. Systemins and AtPeps: Defense-related peptide signals, (2008) Chapter 15 Induced Plant Resistance to Herbivory. ISBN 978-1-4020-8181-1
  12. ^ Redenbaugh, Keith, Bill Hiatt, Belinda Martineau, Matthew Kramer, Ray Sheehy, Rick Sanders, Cathy Houck and Don Emlay (1992). Safety Assessment of Genetically Engineered Fruits and Vegetables: A Case Study of the Flavr Savr Tomato. CRC Press. tr. 288. 
  13. ^ Evangelia Mourvaki, Stefania Gizzi, Ruggero Rossi, Stefano Rufini,"Passionflower Fruit—A "New" Source of Lycopene?", Journal of Medicinal Food. Spring 2005: 104-106.
  14. ^ Shidfar F, Froghifar N, Vafa M, Rajab A, Hosseini S, Shidfar S, Gohari M.,"The effects of tomato consumption on serum glucose, apolipoprotein B, apolipoprotein A-I, homocysteine and blood pressure in type 2 diabetic patients." Int J Food Sci Nutr. 2011 May;62(3):289-94
  15. ^ Pittenger, Dennis R. (2002). “Vegetables That Contain Natural Toxins”. California Master Gardener Handbook. ANR Publications. tr. 643–4. ISBN 978-1-879906-54-9. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009. 
  16. ^ Mcgee, Harold (ngày 29 tháng 7 năm 2009). “Accused, Yes, but Probably Not a Killer”. The New York Times. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2010. 
  17. ^ Hound health handbook: the definitive guide to keeping your dog happy By Betsy Brevitz page 404
  18. ^ “CDC Probes Salmonella Outbreak, Health Officials Say Bacteria May Have Spread Through Some Form Of Produce – CBS News”. Cbsnews.com. Ngày 30 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008. 
  19. ^ “A selection of North American tomato related outbreaks from 1990–2005”. Food Safety Network. Ngày 30 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2010. 
  20. ^ “Tomatoes taken off menus”. Calgary Herald. Ngày 11 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2010. 

Tham khảoSửa đổi

(tiếng Anh)