Mở trình đơn chính
Khu công nghiệp Thốt Nốt tại Cần Thơ

Công nghiệp hóa ở Việt Nam là quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ dựa vào nông nghiệpthủ công sang máy móc công nghiệp là chính. Quá trình công nghiệp hóa tại Việt Nam bắt đầu từ thời Pháp thuộc khi người Pháp xây dựng những cơ sở công nghiệp đầu tiên tại Việt Nam và kéo dài cho đến ngày nay[1]. Dù có một lịch sử công nghiệp hóa lâu dài nhưng đến ngày nay nền công nghiệp Việt Nam vẫn chưa hoàn chỉnh và lạc hậu so với thế giới[2][3][4], tỷ trọng công nghiệp vẫn chưa chiếm ưu thế trong tổng thu nhập quốc gia nên vẫn được xem là một nước nông nghiệp.

Lịch sửSửa đổi

Quá trình công nghiệp hóa tại Việt Nam bắt đầu từ thời Pháp thuộc. Quá trình này tiến triển chậm. Nền công nghiệp Việt Nam nhỏ bé và không hoàn chỉnh với các cơ sở sản xuất lớn là của tư bản Pháp còn công nghiệp bản địa chỉ gồm những doanh nghiệp nhỏ hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng tiêu dùng và các hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Người Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp khai khoáng, cơ khí, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp nhẹ nhưng vẫn chưa hình thành nền tảng công nghiệp hoàn chỉnh tại Việt Nam, trong khi Nhật Bản đã xây dựng khá nhiều cơ sở công nghiệp tại các thuộc địa của họ như Triều Tiên, Mãn Châu. Công nghiệp thời Pháp thuộc đã cung cấp một số sản phẩm và kỹ thuật mới như: điện, xi măng, diêm, bia, xà phòng, thuốc lá, thuỷ tinh, ô tô, xe đạp, tàu điện, tàu hoả, các sản phẩm cơ khí... Một số sản phẩm quen thuộc được sản xuất theo qui trình mới như nước máy, giấy, vải, thuốc lá... Nhờ sự giao thương mà lần đầu tiên, người Việt Nam được biết các sản phẩm của phương Tây, như: dầu hỏa và đèn dầu hỏa, thuốc lá điếu, diêm, xà phòng, sữa bò, kính đeo mắt, ô che mưa nắng, giầy dép, kính lắp cửa, các đồ dùng thủy tinh... làm thay đổi tiêu dùng nội địa. Sau khi thiết lập được chính quyền tại Việt Nam, Pháp cũng đã thiết lập chế độ bảo hộ mậu dịch, dựng hàng rào thuế quan và áp dụng một số độc quyền có lợi cho hàng hoá Pháp. Nền kinh tế xuất hiện một số kỹ thuật có thể coi là hiện đại vào thời kỳ đó tạo ra một năng suất mới trong sản xuất và đời sống như kỹ thuật khai thác hầm mỏ, kỹ thuật chế biến lâm sản, tốc độ và chất lượng của giao thông liên lạc, kỹ thuật và chất lượng xây dựng... Công nghiệp đã góp phần mở rộng thị trường trong nước và thị trường nước ngoài, một bộ phận dân cư trong nước, nhất là dân thành thị làm quen với những sản phẩm hiện đại phương Tây như điện, xà phòng, nước máy, thuốc lá, xi măng… Một số ngành sản xuất cổ truyền như lúa gạo, cà phê, chè, gỗ... có khả năng mở rộng sản xuất, để bước đầu vươn ra thị trường quốc tế. Công nghiệp còn tạo ra một đội ngũ công nhân và kỹ thuật viên Việt Nam tiếp thu kỹ thuật phương Tây.[5]

Công nghiệp thời Pháp thuộc sử dụng nhân công giá rẻ nên có tỷ suất lợi nhuận cao nhưng sản lượng rất thấp. Công nghiệp mang tính chất thâm dụng lao động do nó chú trọng khai thác lao động giá rẻ của dân bản xứ hơn thâm dụng tư bản để nâng cao năng suất và sản lượng. Cho đến 1931, trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội của Đông Dương là 750 triệu đồng Đông Dương, công nghiệp chỉ chiếm có 105 triệu, tức chỉ đạt 14%. Trong thập kỷ 1930, công nghiệp đã có một bước tiến xa hơn: tăng gấp đôi so với những gì Pháp đã làm ở đây trong vòng 70 năm (1860-1930). Đến năm 1938, trong tổng sản phẩm quốc nội của Đông Dương là 1014 triệu đồng Đông Dương, công nghiệp chiếm 233,08 triệu, tức 22%. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ dân cư Việt Nam được hưởng những thành tựu của sự phát triển công nghiệp. Điện, nước máy, xà phòng, đường sắt, đường nhựa và điện tín vẫn còn xa lạ với nông thôn, người nghèo. Tính tới năm 1940, lượng điện tiêu thụ trên đầu người tại Việt Nam chỉ bằng 1/107, lượng sắt thép sử dụng bằng 1/10 so với nước Pháp.[5] Nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp với phương thức sản xuất không thay đổi trong hàng ngàn năm. Quan hệ sản xuất tại nông thôn vẫn là quan hệ địa chủ – tá điền như thời Trung cổ, còn tại thành thị, chủ nghĩa tư bản chỉ mới manh nha xuất hiện. Người Việt có mức sống rất thấp, nghèo đói phổ biến trên toàn đất nước, đặc biệt ở miền Bắc và miền Trung. Ở nông thôn tồn tại mâu thuẫn giữa địa chủ và tá điền còn ở thành thị có sự tương phản giữa tầng lớp tư sản, quan chức cao cấp và thị dân lớp dưới. Người Pháp xây dựng một số cơ sở hạ tầng cơ bản tại An Nam. Hệ thống kinh tế mà Pháp đầu tư tại An Nam như các đồn điền cao su, mỏ than, các thành phố lớn, đường sắt, cảng biển là để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của họ chứ không phải để phục vụ lợi ích của dân bản xứ.[6] Dù người Pháp đã mang những yếu tố hiện đại vào nền kinh tế Việt Nam nhưng nhìn tổng thể nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong tình trạng tiền tư bản, bán Trung cổ.

Năm 1945, Việt Nam giành được độc lập rồi rơi vào tình trạng hỗn loạn. Toàn bộ nền kinh tế trong đó có công nghiệp ngưng trệ. Năm 1947, chiến tranh Đông Dương bùng nổ. Công nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh. Các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ đều ngừng phát triển, thậm chí suy thoái. Một số nhà tư sản dân tộc tản cư ra vùng kháng chiến. Công nghiệp thời kỳ này hoạt động cầm chừng. Hàng công nghiệp chủ yếu được nhập khẩu.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954hiệp định Geneve tháng 7 năm 1954 thì Việt Nam bị chia làm hai vùng tập trung quân sự, sau đó do không có tổng tuyển cử theo hiệp định nên quốc gia bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc Việt Nam một mặt đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và mặt khác trợ giúp Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến tại miền Nam Việt Nam. Trong khi đó, Miền Nam Việt Nam thành lập chính phủ riêng với trợ giúp tài chính và quân sự từ Mỹ và quốc tế, tiến hành xây dựng nền kinh tế theo hướng thị trường ở miền Nam Việt Nam.

Tại miền Bắc, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội gặp rất nhiều khó khăn và thách thức. Gần 100 năm đô hộ của Pháp đã làm cho nền kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc có xuất phát điểm rất thấp. Sự phát triển kinh tế thời chiến gặp nhiều khó khăn do các chiến dịch ném bom của Mỹ. Hơn nửa triệu người chết, các thành phố, các cơ sở công nghiệp, hệ thống cơ sở hạ tầng, làng mạc ruộng đồng bị tàn phá nặng nề. Trong khi đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định muốn thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ nhằm thống nhất Việt Nam đồng thời công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa miền Bắc[7]. Miền Bắc thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ I nhằm xây dựng nền tảng công nghiệp cho nền kinh tế, phát triển nông nghiệp đủ sức đáp ứng nhu cầu của xã hội. Trong thời kỳ này miền Bắc chú trọng phát triển công nghiệp nặng bằng cách đầu tư vào các ngành điện, cơ khí, luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng...[8] Các chiến dịch ném bom của Mỹ làm gián đoạn quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau Sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 2/8/1964 Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam. Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tháng 3/1965 nhận định "trong cuộc chiến tranh cách mạng yêu nước của nhân dân cả nước chống đế quốc Mỹ, miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn, những nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam... Hướng tích cực nhất để làm thất bại âm mưu của địch là tập trung lực lượng của cả nước để đánh bại hoàn toàn địch ở miền Nam".[8] Ngày 2/3/1965 Mỹ bắt đầu Chiến dịch Sấm Rền ném bom phá hủy cơ sở hạ tầng, các cơ sở công nghiệp, các lực lượng phòng không của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kéo dài cho đến ngày 1/11/1968. Trong suốt thời gian này nền kinh tế miền Bắc chịu thiệt hại nặng nề, không thể tiếp tục phát triển. Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận đàm phán với Mỹ để kết thúc Chiến tranh Việt Nam, Mỹ chấm dứt ném bom. Nền kinh tế miền Bắc bước vào giai đoạn phục hồi. Cơ sở hạ tầng được xây dựng lại, các nhà máy được sửa chữa và tiếp tục hoạt động, sản xuất nông nghiệp cũng được khôi phục.[9]

Tại miền Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Ngô Đình Diệm thực hiện các kế hoạch kinh tế 5 năm nhằm phát triển công nghiệp để giảm nhập khẩu, tăng xuất khẩu, tiết kiệm ngoại tệ. Trọng tâm của chính sách công nghiệp Việt Nam Cộng hòa là chế tạo những sản phẩm tiêu thụ thông dụng bằng cách phát triển công nghiệp nhẹ để cung cấp cho thị trường trong nước và công nghiệp chế biến nông sản.[10] Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, từ năm 1965, đường lối sản xuất thay thế nhập khẩu bị gác lại. Việt Nam Cộng hòa từ bỏ việc phát triển kinh tế theo kế hoạch để thay thế bằng chính sách kinh tế tự do, nhà nước can thiệp một cách hạn chế vào nền kinh tế. Một số ngành công nghiệp non trẻ như dệt, sản xuất đường bỗng dưng không được bảo hộ nữa nên gặp khó khăn. Nhưng một số ngành khác lại có cơ hội phát triển đa phần là các ngành nhanh có lợi nhuận và dễ thực hiện. Số lượng các cơ sở sản xuất nhỏ, ít vốn nhưng có tỷ suất lợi nhuận cao hoạt động bằng cách nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài về chế biến phát triển mạnh làm nguồn ngoại tệ của Việt Nam Cộng hòa bị hao hụt và nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Muốn nhập khẩu cần có ngoại tệ mà nguồn ngoại tệ chủ yếu là viện trợ Mỹ vì xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa không đủ bù đắp cho nhập khẩu do đó nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa ngày càng phụ thuộc vào viện trợ. Chính sách tự do hóa nền kinh tế đã thất bại trong việc xây dựng nền tảng công nghiệp quốc gia khiến nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài vì không có một chương trình phát triển công nghiệp, không tận dụng được nội lực, thương mại phát triển mạnh hơn công nghiệp. Nhìn chung, công nghiệp vẫn tăng trưởng, trừ năm 1968 và sau đó là năm 1972 bị giảm sút do tác động của chiến tranh.[11]

Sau ngày đất nước thống nhất (1975), Việt Nam tiếp tục thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa để trở thành một nước công nghiệp hóa. Sau 10 năm thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ II và Kế hoạch 5 năm lần thứ III Việt Nam vẫn chưa xây dựng được nền tảng công nghiệp quốc gia trong khi nhiều quốc gia khác đã công nghiệp hóa thành công bằng mô hình kinh tế kế hoạch. Do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, nhà nước Việt Nam xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu. Nhà nước xem thị trường là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản dẫn đến không thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, lấy kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, muốn nhanh chóng xóa sở hữu tư nhân và kinh tế cá thể, tư nhân. Nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng vì Việt Nam sao chép mô hình kinh tế kế hoạch của Liên Xô mà không thật sự hiểu rõ ưu điểm và nhược điểm của mô hình này, không đủ năng lực quản lý kinh tế để phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm. Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ hiểu đơn giản xây dựng chủ nghĩa xã hội là quốc hữu hóa tư liệu sản xuất, sau đó phát triển kinh tế theo kế hoạch. Chính tư duy đơn giản đó dẫn họ đến thất bại. Hơn nữa nội lực của Việt Nam quá yếu nên mô hình kinh tế kế hoạch hóa cũng không thể nào phát huy được tác dụng tập trung nội lực để đầu tư phát triển.

Giữa thập niên 1980, tình hình kinh tế xã hội tiếp tục khó khăn gay gắt. Cuộc khủng hoảng kinh tế nảy sinh từ cuối thập niên 1970, do cải tạo tư sản ở miền Nam quá mức, do chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc kéo dài gần 10 năm, và càng gay gắt hơn khi Việt Nam bắt đầu chuyển sang cơ chế thị trường bằng chính sách cải cách Giá - lương - tiền bao gồm đổi tiền, tăng lương bằng cách in tiền vào năm 1985.[12] Nhiều người gửi tiền tiết kiệm lâm vào cảnh bi đát do lạm phát phi mã xảy ra sau khi đổi tiền. Có người bán một con bò lấy tiền gửi tiết kiệm, sau khi đổi tiền chỉ mua được vài con gà. Việc ngăn cấm thị trường tự do khiến tình trạng khan hiếm lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng trở nên nặng nề. Thị trường thực phẩm, hàng tiêu dùng bị ngăn cấm trong khi nhà nước chỉ phân phối tem phiếu thịt giá thấp riêng cho cán bộ, công nhân viên (số lượng thật ra rất ít, khoảng 0,3-0,5 kg/người/tháng) và người dân ở thành phố (mỗi người 0,1 kg/tháng). Điều này khiến tình trạng khan hiếm hàng tiêu dùng kéo dài triền miên, và vật giá trên thị trường chợ đen tăng mạnh. Chất lượng sống của nhân dân đi xuống khiến sự bất mãn trong xã hội tăng lên, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam sa sút. Gần một triệu người vượt biên ra nước ngoài để tìm cuộc sống tốt đẹp hơn tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo lớn thu hút sự chú ý của dư luận thế giới lúc đó.

Tại các nước áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch thành công nhất như Liên Xô, trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng dựa vào lao động và vốn thì cơ chế này có tác dụng nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Nhưng nó lại thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học - công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Vì vậy Liên Xô trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế mạnh nhất dưới sự lãnh đạo của Stalin đã phải áp dụng kỷ luật lao động cứng rắn (bao gồm cả hình phạt tù hoặc đày đến các trại lao động cải tạo) đi kèm với các biện pháp động viên khen thưởng để chống lại tình trạng trì trệ, thiếu trách nhiệm của cán bộ quản lý đồng thời thúc đẩy tăng năng suất lao động. Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học — công nghệ hiện đại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây; trong đó có Việt Nam, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.

Sự sụp đổ của Liên Xô khiến Việt Nam phải thực hiện Đổi Mới vào năm 1986 để chuyển hướng sang kinh tế thị trường. Đảng Cộng sản Việt Nam chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước và đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp[13]. Tính đến năm 2016, sau 30 năm, kinh tế Việt Nam đạt được những kết quả khả quan. Trong suốt 30 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Giai đoạn đầu Đổi Mới (1986-1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 4,4%/năm, giai đoạn 1991-1995 GDP bình quân tăng 8,2%/năm; giai đoạn 1996-2000 GDP bình quân tăng 7,6%/năm; giai đoạn 2001-2005 GDP tăng bình quân 7,34%/năm; giai đoạn 2006-2010, do suy giảm kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,32%/năm. Giai đoạn 2011-2015, GDP của Việt Nam tăng chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu vực và thế giới. Quy mô nền kinh tế tăng nhanh: GDP bình quân đầu người năm 1991 chỉ là 188 USD/năm. Đến năm 2003, GDP bình quân đầu người đạt 471 USD/năm và đến năm 2015, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 204 tỷ USD, GDP đầu người đạt gần 2.200 USD/năm. Lực lượng sản xuất có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng.[14][15] Tỷ lệ nghèo đói giảm từ 58% năm 1992 xuống còn 7,6% cuối năm 2013[16]. Cơ cấu kinh tế của Việt Nam bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại, giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp. Tuy nhiên mục tiêu công nghiệp hóa không thành công[17]. Việt Nam vẫn chưa có một nền công nghiệp hoàn chỉnh[18]. Tham vọng trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 hoàn toàn không thực tế trong khi Việt Nam lại thiếu một chính sách công nghiệp hóa hữu hiệu[19]. Việt Nam tiếp tục đặt mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2030[20].

Lý thuyết công nghiệp hóa của Đảng Cộng sản Việt NamSửa đổi

Định nghĩaSửa đổi

Nghị quyết TW khoá VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.

Quan điểm về công nghiệp hóaSửa đổi

  • Giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với hợp tác, mở rộng, hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài, xây dựng một nền kinh tế mở cửa hội nhập hướng mạnh về sản xuất cho xuất khẩu, đồng thời thay thế sản phẩm nhập khẩu cho có hiệu quả.
  • Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, được mọi thành phần kinh tế tham gia, trong đó nền kinh tế nhà nước là chủ đạo.
  • Lấy việc phát huy yếu tố con người làm chủ đạo, tăng trưởng kinh tế gắn liền với cải thiện đời sống người dân, tăng cường dân chủ, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội.
  • Khoa học công nghệ là động lực của công nghiệp hóa - hiện đại hóa, kết hợp công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những khâu có tính chất quyết định.
  • Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội tổng thể là tiêu chuẩn cơ bản để xây dựng phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư phát triển và công nghệ, đầu tư có chiều sâu để khai thác tối đa nguồn lực hiện có, trong phát triển mới ưu tiên phát triển quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh, đồng thời xây dựng một số công trình quy mô lớn thật cần thiết và có hiệu quả.
  • Kết hợp chặt chẽ toàn diện, phát triển kinh tế quốc phòng.

Mục tiêu tổng quátSửa đổi

Công nghiệp hóa là mục tiêu lâu dài, xây dựng Việt Nam trở thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, quan hệ cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất, tinh thần cao, an ninh quốc phòng vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ra sức phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp, với tỷ trọng ngành công nghiệp vượt trội hơn các ngành khác.

Mục tiêu cụ thểSửa đổi

Năm 2014, nhà nước Việt Nam ban hành Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 nhằm phát triển công nghiệp quốc gia[21]. Đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp với tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp chiếm 16-17%, công nghiệp khoảng 40-41%, dịch vụ chiếm 42-43%, tỷ trọng lao động trong tổng lao động xã hội, lao động công nghiệp và dịch vụ là 50%, nông nghiệp là 50%.

Các vùng công nghiệp Việt NamSửa đổi

Quyết định số 73/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ngày 4/4/2006.Có sáu vùng công nghiệp tại Việt Nam được quy hoạch từ nay đến năm 2020.

Những tồn tại và thách thứcSửa đổi

Quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi đầu tư khổng lồ của nhà nước và xã hội để tạo lập cơ sở hạ tầng, trung tầng và thượng tầng để phục vụ công nghiệp hóa. Trong khi các địa phương lại có xu hướng hiểu một cách đơn giản và máy móc và cố gắng thành lập nhiều khu công nghiệp để mong rằng mục tiêu công nghiệp hóa sớm đạt thành. Trong khi đó các khu công nghiệp chỉ là một phần nhỏ của cơ sở hạ tầng, thì các cơ sở trung tầng (giáo dục đào tạo kỹ thuật, thương mại, ngân hàng, ngoại thương, ngoại hối, tài chính công...) và cơ sở thượng tầng (luật pháp, hệ thống tư pháp, chính sách kinh tế, môi trường, chính sách đất đai...) phát triển không đồng bộ. Nhà nước Việt Nam rất chú trọng việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng cách ban hành nhiều chính sách ưu đãi về thuế, đất đai...[22] Họ xem vốn đầu tư nước ngoài là nguồn lực quan trọng để Việt Nam công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực tế cho thấy động lực công nghiệp hóa của Việt nam đến từ các công ty nước ngoài chứ không phải từ các công ty trong nước[23]. Tuy nhiên, việc thu hút vốn đầu tư của nước ngoài không thể tạo ra nền tảng công nghiệp quốc gia vì các công ty nước ngoài vào Việt Nam chỉ để tận dụng chi phí nhân công và môi trường thấp của Việt Nam[24]. Khi khai thác hết những lợi thế này thì họ sẽ rút khỏi Việt Nam khiến nền công nghiệp Việt Nam quay về điểm xuất phát. Vốn đầu tư nước ngoài chỉ có tác dụng tích cực với nền công nghiệp bản địa khi công ty có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ cho công ty Việt Nam[25][26]. Tuy nhiên các công ty nước ngoài không sẵn sàng chuyển giao công nghệ cho công ty Việt Nam vì vấn đề bản quyền cũng như họ không muốn tạo ra thêm đối thủ cạnh tranh. Chính vì vậy nhà nước cần có một chính sách quốc gia có thể đem lại lợi ích chung cho cả bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao[23]. Việt Nam lại không có chính sách rõ ràng để tận dụng tối đa hiệu ứng chuyển giao công nghệ của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài[26]. Khả năng tiếp thu công nghệ nước ngoài lại phụ thuộc vào chất lượng nhân lực mà điều này lại phụ thuộc vào chất lượng của nền giáo dục. Việt Nam có lực lượng lao động đông do cơ cấu dân số trẻ nhưng lại thiếu kỹ năng do không được đào tạo tốt[27] nên khả năng hấp thu công nghệ còn yếu. Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa cái Việt Nam có thể tiếp thu không phải là “công nghệ cao”, mà là những kiến thức không độc quyền có thể tiếp cận được trên toàn cầu và miễn phí nhưng chưa được triển khai ở trong nước[23]. Ngoài ra, một nền công nghiệp trưởng thành phải có khả năng phát triển công nghệ chứ không thể cứ phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài. Khả năng nghiên cứu phát triển ra công nghệ mới phụ thuộc vào trình độ khoa học - kỹ thuật của quốc gia mà điều này phụ thuộc vào chất lượng của nền giáo dục, năng lực của các cơ sở nghiên cứu và mức độ đầu tư cho khoa học. Trong khi đó chất lượng của nền giáo dục Việt Nam được xem là chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế[28][29], các cơ sở nghiên cứu thiếu năng lực[30] còn đầu tư cho khoa học chỉ ở mức thấp so với các nước khác[31]. Nhìn chung mức độ chuyển giao công nghệ của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa đạt như kỳ vọng[32] trong khi đó Việt Nam lại thiếu khả năng nghiên cứu phát triển ra công nghệ mới[33], thiếu khả năng sáng tạo[34]. Những lý do này góp phần làm cho quá trình công nghiệp hóa tại Việt Nam không như mong muốn.

Tuy có sự thống nhất về quan điểm phát triển giữa trung ương và địa phương, nhưng địa phương đã thi hành các kế hoạch phát triển theo phong cách riêng đặc thù của địa phương, hoặc áp dụng sao chép máy móc mô hình của các địa phương khác thành công trong việc thu hút vốn nước ngoài để phát triển công nghiệp như Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc... đã khiến quá trình phát triển bị phân tán tài nguyên và nhân lực. Các địa phương trở thành các đối thủ cạnh tranh với nhau trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài dẫn đến sự thiếu liên kết giữa các địa phương ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc gia[35]. Tuy nhiên điều này cũng có mặt tích cực là các địa phương phải tự nâng cao năng lực quản lý nhà nước để có thể thu hút được vốn đầu tư nước ngoài trong sự cạnh tranh với các địa phương khác. Sự phát triển công nghiệp còn phụ thuộc vào chính sách công nghiệp quốc gia. Nếu khả năng hoạch định chính sách của chính phủ tốt có thể thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp và ngược lại nếu khả năng hoạch định kém thì công nghiệp phát triển chậm thậm chí suy thoái. Tại Việt Nam, các viện nghiên cứu trong nước chỉ được nhìn nhận như những bông hoa trang trí đẹp đẽ, thay vì được sử dụng đúng chức năng, vai trò của mình[36] nhưng chính phủ Việt Nam lại dựa vào sự hỗ trợ của các định chế tài chính quốc tế như World Bank, IMF trong việc hoạch định chính sách kinh tế[37]. Trong khi đó các nước Đông Á đều tự hoạch định chính sách kinh tế dựa vào sự tư vấn của các viện nghiên cứu bản địa, có khi chính sách của họ đi ngược lại lời khuyên của các đồng minh chính trị và các định chế tài chính quốc tế[37].

Khả năng tập trung các nguồn lực của nền kinh tế vào khu vực sản xuất công nghiệp cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa. Tỷ trọng đầu tư vào công nghiệp trong tổng đầu tư xã hội càng lớn thì công nghiệp phát triển càng nhanh. Các nước công nghiệp hóa thành công nhất đều cố gắng đưa ra những chính sách khuyến khích đầu tư vào công nghiệp như các nước Đông Bắc Á[38], thậm chí sử dụng biện pháp cưỡng ép tiết kiệm để tập trung đầu tư vào công nghiệp như Liên Xô[39]. Trong khi đó tại Việt Nam các nguồn lực trong nền kinh tế chưa tập trung vào các ngành công nghiệp. Thương mại phát triển mạnh hơn công nghiệp. Các công ty tư nhân lớn ở Việt Nam là các công ty thương mại và địa ốc[40]. Việt Nam đã không chú ý xây dựng nền tảng công nghiệp gồm công nghiệp chế tạo máy, luyện kim, công nghiệp hỗ trợ để từ đó phát triển những ngành công nghiệp khác mà chỉ phát triển những ngành có thể đem lại lợi nhuận trước mắt[41]. Sau 30 năm Đổi Mới công nghiệp chế biến chế tạo của Việt Nam gần như giậm chân tại chỗ (tăng 1,6% trong tỷ trọng GDP) trong khi đây là ngành cốt lõi của nền công nghiệp quyết định trình độ công nghiệp hóa[42]. Các hoạt động đầu cơ chiếm ưu thế chứ không phải đầu tư để tạo ra giá trị gia tăng[43]. Năng suất lao động trong các ngành sản xuất công nghiệp thấp hơn khu vực và thế giới trong khi khả năng sinh lời của các ngành tài chính, địa ốc lại cao hơn mức trung bình của thế giới. Nhiều người Việt Nam thích mua bán bất động sản hơn là đầu tư dài hạn để có được kỹ năng, công nghệ và năng lực quản trị kinh doanh. Khó có thể thúc đẩy công nghiệp hóa hoặc nâng cao giá trị sáng tạo trong nước trong điều kiện như thế.[23] Chính vì những lý do này Việt Nam không thể công nghiệp hóa nhanh chóng, nền kinh tế Việt Nam phát triển không tương xứng với lượng vốn mà Việt Nam nhận được[43][44]. Điều này cũng cho thấy nền kinh tế Việt Nam không có khả năng hấp thu hết lượng vốn mà nó nhận được để tạo ra giá trị gia tăng và việc làm nên vốn chảy vào các thị trường tài sản[45][46] và làm tăng tình trạng tham nhũng do các doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công thiếu hiệu quả.

Hiệu quả đầu tư nhà nước còn rất kém (thể hiện nơi chỉ số ICOR của Việt Nam khá cao so với quy mô nền kinh tế) do nhiều nguyên nhân: quản lý kém, không minh bạch và tệ nạn tham nhũng còn đang hoành hành. Nếu hiệu quả đầu tư quá kém (nghĩa là nhà nước đổ vốn rất nhiều nhưng thành quả thu được không tương xứng) thì quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam sẽ rất tốn kém. Theo đó, chi phí để hoạt động, vận hành và duy trì một nền kinh tế công nghiệp hóa của Việt Nam cũng sẽ rất cao nếu các tồn tại và thách thức trên không được giải quyết. Chi phí cao sẽ khiến sản phẩm của Việt Nam phải bán giá thành cao hơn các nước khác và vì thế sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Do không thể giảm chi phí, để giảm giá thành thì không còn cách nào khác là phải tiếp tục duy trì chi phí nhân công ở mức thấp và dịch vụ chất lượng kém. Điều này góp phần trầm trọng hóa vấn đề "khoảng cách thu nhập" giữa công nhân và giới quản lý, giới chủ và tạo tiền đề bất ổn xã hội. Công nghiệp Việt Nam thâm dụng lao động lớn, giá trị gia tăng thấp. Việt nam mới chỉ tham gia vào những khâu giản đơn trong chuỗi sản xuất công nghiệp. Năng suất lao động công nghiệp của Việt Nam nằm trong nhóm các nước thấp nhất trong khu vực. Nền công nghiệp Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào nguyên liệu, nhiên liệu, máy móc, thiết bị nhập khẩu trong khi đó các công ty nước ngoài chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam[23].

Một thách thức khác mà quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam phải đối mặt là quá trình này kết thúc quá sớm và chuyển sang phát triển dịch vụ do hàng công nghiệp bản địa không cạnh tranh nổi với hàng công nghiệp nước ngoài cũng như tỷ trọng vốn đầu tư vào công nghiệp trong tổng vốn đầu tư xã hội giảm. Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác như chi phí nhân công tăng khiến đầu tư nước ngoài vào công nghiệp giảm và hàng nội địa ngày càng khó cạnh tranh với hàng nước ngoài, chất lượng lao động không đáp ứng nổi đòi hỏi ngày càng cao của nền công nghiệp hiện đại. Việt Nam vừa mới trở thành nước thu nhập trung bình thấp đã phải đối diện với nguy cơ này sẽ làm tốc độ phát triển chậm lại vì năng suất lao động trong dịch vụ thường thấp hơn công nghiệp nhất là với những nước thiếu lao động có trình độ cao để phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như Việt Nam.[47] Nếu không có một nền công nghiệp hoàn chỉnh có khả năng sáng tạo ra công nghệ mới, có thể tạo ra giá trị gia tăng cao, có thể tham gia vào toàn bộ chuỗi giá trị thì Việt Nam sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình sau khi đã khai thác hết những lợi thế của mình[23][48]. Việt Nam chỉ có thể trở thành nước phát triển khi làm chủ được toàn bộ chuỗi giá trị sản phẩm mà không cần đến đầu tư nước ngoài[49]. Nhà nước Việt Nam đang mong muốn đưa Việt Nam tham gia vào "cuộc cách mạng công nghiệp 4.0" trong điều kiện thiếu nền tảng công nghiệp[50][51][52]. Tuy nhiên làm chủ công nghệ là một quá trình học hỏi, nghiên cứu, thực hành lâu dài chứ không thể nóng vội theo kiểu "đi tắt đón đầu" mà Việt Nam từng chủ trương khi bắt đầu Đổi Mới đã không mang lại kết quả. Nếu xem "cách mạng công nghiệp 4.0" là sự nâng cao trình độ tự động hóa lên cấp độ mới thì ít nhất phải có những cơ sở công nghiệp để có thể tự động hóa chúng. Phương Tây mất hai thế kỷ để công nghiệp hóa còn Hàn Quốc phát triển một cách thần kỳ cũng phải mất 30 năm mới có thể làm chủ công nghệ phương Tây trong khi đó Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa nên sẽ phải trải qua một thời kỳ học hỏi, thực hành lâu dài để làm chủ những công nghệ cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng nền tảng công nghiệp.[53] Nếu không có những chính sách thích hợp Việt Nam sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình khi đầu tư giảm, công nghiệp tăng trưởng chậm và không đa dạng, thị trường lao động không năng động. Sách lược thích hợp để vượt qua bẫy thu nhập trung bình là tăng năng suất, cải tiến công nghệ, tăng cường khả năng đổi mới - sáng tạo, tăng khả năng sản xuất của nền công nghiệp bằng cách tăng cường đào tạo nhân lực chất lượng cao, điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và xây dựng công nghiệp hỗ trợ.[54] Thực tế cho thấy có nhiều dấu hiệu Việt Nam đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình như tăng trưởng ngày càng chậm dần, năng xuất sản xuất tăng chậm hơn tiền lương khiến năng lực cạnh tranh giảm làm công nghiệp chế tạo tăng chậm lại trong khi các ngành công nghệ cao kém phát triển, hệ số vốn ICOR ngày càng cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ chậm, các vấn đề xã hội như ô nhiễm, chênh lệch giàu nghèo... ngày càng tăng[23]. Việt Nam gần như đã không học hỏi và áp dụng được kinh nghiệm công nghiệp hóa của những nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc hay những nước Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ The Economics of French Rule in Indochina: A Biography of Paul Bernard (1892-1960), Andrew Hardy, Modern Asian Studies, Vol. 32, No. 4 (Oct., 1998), pp. 807-848
  2. ^ Công nghiệp Việt Nam vẫn lạc hậu sau 30 năm Đổi mới, VnExpress, 22/4/2016
  3. ^ Báo cáo về thực trạng và giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, Vietnam Finance, 21/12/2018
  4. ^ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ, Nguyễn Xuân Dũng, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  5. ^ a ă TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945, Bộ Công thương Việt Nam, 22/07/2019
  6. ^ Paris - Saigon - Hanoi, trang 44-47, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003
  7. ^ Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà, 11/01/2016, Báo Nhân dân
  8. ^ a ă Giai đoạn 1955-1975: Xây dựng CNXH và Đấu tranh thống nhất đất nước, Xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ, Chính phủ Việt Nam, 20/08/2010
  9. ^ GIAI ĐOẠN 1955-1975: XÂY DỰNG CNXH VÀ ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC, Khôi phục kinh tế và đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ, Chính phủ Việt Nam
  10. ^ Hiện tình kinh tế Việt Nam – Quyển I, trang 22, Nguyễn Huy, Nxb Lửa Thiêng, 1972
  11. ^ Hiện tình kinh tế Việt Nam – Quyển I, trang 12-14, Nguyễn Huy, Nxb Lửa Thiêng, 1972
  12. ^ “Công cuộc 'sắp xếp lại giang sơn' trước đại hội Đổi mới 1986”. 
  13. ^ Tiêu chí nước công nghiệp của Việt Nam năm 2020, VnEconomy, 29/09/2007
  14. ^ Những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế, Báo Nhân dân, 05/01/2016
  15. ^ Nhìn lại 30 năm Đổi mới và hội nhập, 02/01/2017, BÁO ĐIỆN TỬ CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
  16. ^ Việt Nam đạt nhiều thành tựu trong xóa đói, giảm nghèo, BÁO ĐIỆN TỬ CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
  17. ^ Mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 không đạt: kết thúc một mơ ước duy ý chí, Một thế giới, 13/04/2016
  18. ^ Vượt thách thức đưa VN thành nước công nghiệp hiện đại, Vietnamnet, 29/07/2015
  19. ^ Việt Nam mãnh hổ hay mèo rừng - Phát triển kinh tế ở Việt Nam nhìn từ bên ngoài, trang 184, Phạm Văn Thuyết, Nhà xuất bản Trẻ, 2014
  20. ^ Đến năm 2030: Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 23/03/2018
  21. ^ Quyết định 879/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, Thủ tướng Chính phủ
  22. ^ Ưu đãi đầu tư, Trang thông tin điện tử đầu tư nước ngoài, BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ, CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
  23. ^ a ă â b c d đ Bẫy thu nhập trung bình tại Việt Nam thực trạng và giải pháp, Kenichi Ohno & Lê Hà Thanh, Tạp chí khoa học Việt Nam Trực tuyến
  24. ^ Lao động dồi dào, chi phí rẻ: Việt Nam là điểm đến 'hot' của nhà đầu tư, vnmedia.vn, 01/05/2017
  25. ^ 30 năm đón vốn FDI: Chuyển giao công nghệ không như kỳ vọng, Thời báo Tài chính, 25/06/2018
  26. ^ a ă Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam, Chương 11: Nội lực và ngoại lực trong nền cộng nghiệp hóa, Trần Văn Thọ, Nxb Tuổi trẻ
  27. ^ Phát triển kỹ năng: Xây dựng lực lượng lao động cho một nền kinh tế thị trường hiện đại ở Việt Nam, Báo cáo Phát triển Việt Nam 2014, trang 3-5, Ngân hàng Thế giới
  28. ^ NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XI VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, Hà Nội, ngày 4 tháng 11 năm 2013
  29. ^ Giáo dục Việt Nam trước đòi hỏi đổi mới căn bản và toàn diện, Vũ Minh Giang, Đại học Quốc gia Hà Nội, 13/05/2019
  30. ^ Năng lực nghiên cứu khoa học Việt Nam ra sao?, Báo Dân trí, 15/06/2012
  31. ^ Thực trạng đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ từ ngân sách Nhà nước, Tạp chí Tài chính, 01/01/2018
  32. ^ Mức độ chuyển giao công nghệ của khu vực FDI: Chưa đạt như kỳ vọng, Báo Công thương, 19/10/2017
  33. ^ Doanh nghiệp chưa quan tâm hoạt động nghiên cứu và phát triển, Báo Nhân dân, 18/08/2018
  34. ^ SOS thứ bậc VN trên xếp hạng trí tuệ toàn cầu, Vietnamnet, 07/08/2012
  35. ^ Liên kết vùng kinh tế của Việt Nam vừa thiếu, vừa yếu, VnExpress, 14/9/2013
  36. ^ TS Võ Trí Thành tiết lộ “bí mật” của think tank Việt, cafef, 25-08-2018
  37. ^ a ă Việt Nam mãnh hổ hay mèo rừng - Phát triển kinh tế ở Việt Nam nhìn từ bên ngoài, trang 160-161, Phạm Văn Thuyết, Nhà xuất bản Trẻ, 2014
  38. ^ Heather Smith, Industry Policy in East Asia, Asian - Pacific Economic Literature, Volume 9, Issue 1, Pages 17-39, May 1995
  39. ^ Forced Savings in the Soviet Republics: Re-examination, RRC Working Paper No. 54, Yoshisada SHIDA, RUSSIAN RESEARCH CENTER, Instituteof Economic Research, Hitotsubashi University, Tokyo, JAPAN, 2015
  40. ^ Việt Nam mãnh hổ hay mèo rừng - Phát triển kinh tế ở Việt Nam nhìn từ bên ngoài, trang 168-169, Phạm Văn Thuyết, Nhà xuất bản Trẻ, 2014
  41. ^ Việt Nam mãnh hổ hay mèo rừng - Phát triển kinh tế ở Việt Nam nhìn từ bên ngoài, trang 175, Phạm Văn Thuyết, Nhà xuất bản Trẻ, 2014
  42. ^ Công nghiệp hóa thất bại đến mức nào?, Chuyên trang Người Đồng Hành Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số, 22/4/2016
  43. ^ a ă Quá nhiều tiền đổ vào nền kinh tế, Việt Nam liệu có đang phồn hoa giả tạo?, Báo Dân trí, 18/04/2018
  44. ^ Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới: Nước không chịu phát triển, VTC News, 10/08/2015
  45. ^ Lo ngại khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế yếu đi, vòng xoáy tăng trưởng trì trệ có lặp lại?, TrithucVn, 16/08/2016
  46. ^ Khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp đến đâu?, Báo Đại biểu Nhân dân, 29/09/2012
  47. ^ Chính sách công nghiệp hóa của Việt Nam, Trần Văn Thọ, Báo Tia sáng, 15/01/2017
  48. ^ Việt Nam mãnh hổ hay mèo rừng - Phát triển kinh tế ở Việt Nam nhìn từ bên ngoài, trang 174, Phạm Văn Thuyết, Nhà xuất bản Trẻ, 2014
  49. ^ Việt Nam mãnh hổ hay mèo rừng - Phát triển kinh tế ở Việt Nam nhìn từ bên ngoài, trang 196, Phạm Văn Thuyết, Nhà xuất bản Trẻ, 2014
  50. ^ Quyền Bộ trưởng Bộ TTTT Nguyễn Mạnh Hùng: CMCN 4.0 diễn ra, tương lai không phụ thuộc nhiều vào quá khứ, cafef, 12-09-2018
  51. ^ Việt Nam liệu có bỏ lỡ cơ hội bước lên con tàu Cách mạng công nghiệp 4.0?, VTV, 06/09/2017
  52. ^ Thủ tướng chỉ thị tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng CN lần thứ 4, CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ, 6/05/2017
  53. ^ Việt Nam mãnh hổ hay mèo rừng - Phát triển kinh tế ở Việt Nam nhìn từ bên ngoài, trang 157-158, Phạm Văn Thuyết, Nhà xuất bản Trẻ, 2014
  54. ^ Việt Nam mãnh hổ hay mèo rừng - Phát triển kinh tế ở Việt Nam nhìn từ bên ngoài, trang 185-186, Phạm Văn Thuyết, Nhà xuất bản Trẻ, 2014

Liên kết ngoàiSửa đổi