Mãng Cổ Nhĩ Thái

con trai thứ 5 của Nỗ Nhĩ Cáp Xích

Mãng Cổ Nhĩ Thái (chữ Hán: 莽古爾泰, tiếng Mãn: ᠮᠠᠩᡤᡡᠯᡨᠠᡳ, Möllendorff: Manggūltai, Abkai: Manggvltai, 1587 - 11 tháng 1 năm 1633), Ái Tân Giác La, là Hoàng tử và một trong Tứ đại Bối lặc thời kỳ đầu nhà Thanh.

Mãng Cổ Nhĩ Thái
莽古尔泰
Hoàng tử nhà Thanh
Manggultai.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫuxem văn bản
Hậu duệxem văn bản
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Mãng Cổ Nhĩ Thái
(愛新覺羅 莽古爾泰)
Hoàng tộcÁi Tân Giác La
Thân phụThanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích
Thân mẫuKế phi Phú Sát Cổn Đại
Sinh1587
Mất11 tháng 1, 1636(1636-01-11) (48–49 tuổi)

Cuộc đờiSửa đổi

Mãng Cổ Nhĩ Thái sinh vào năm Minh Vạn Lịch thứ 15 (1587) trong gia tộc Ái Tân Giác La. Ông là con trai thứ năm của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, mẹ ông là Kế phi Phú Sát Cổn Đại. Ông là anh trai cùng mẹ của Mãng Cổ Tế.

Những năm Thiên MệnhSửa đổi

Sơ phong Bối lặcSửa đổi

Năm Minh Vạn Lịch thứ 40 (1612), ông theo Nỗ Nhĩ Cáp Xích chinh phạt Ô Lạp bộ, anh dũng thiện chiến và liên tục đánh hạ 6 thành. Mãng Cổ Nhĩ Thái thỉnh vượt sông truy kích Bối lặc Bố Chiếm Thái, Nỗ Nhĩ Cáp Xích: "Không nên đuổi theo! Không có người hầu làm sao có chủ? Không có dân làm sao có quân? Trước làm suy yếu thế lực của hắn là được rồi." Nghe lệnh, ông không tiếp tục truy kích mà ở lại phá hủy sáu thành của Ô Lạp và di chuyển đến sông Phú Lặc Cáp (富勒哈河). Hôm sau, ông xây xong một tòa thành gỗ ở Ô Lạp, lưu lại hơn ngàn quân đóng giữ.[1]

Năm Thiên Mệnh nguyên niên (1616), tháng 4, ông được phong làm Hòa Thạc Bối lặc (和硕贝勒), trở thành một trong Tứ đại Bối lặc, thường xưng "Tam Bối lặc", là Kỳ chủ của Chính Lam kỳ.[2]

Theo quân chinh chiếnSửa đổi

Năm thứ 4 (1619), Liêu Đông kinh lược Dương Hạo (楊鎬) của nhà Minh phái Tổng binh Đỗ Tùng (杜松) dẫn theo 6 vạn quân xuất phát từ Phủ Thuận quan (抚顺关) và Lưu Đinh (劉綎) dẫn 4 vạn quân xuất phát từ Khoan Điện, cùng tấn công kinh đô Hách Đồ A Lạp của Hậu Kim.

Ông theo Nỗ Nhĩ Cáp Xích phòng thủ ở Tùng Giới phàm (松界凡), bố trí quân mai phục ở cốc khẩu Tát Nhĩ Hử (薩爾滸), chờ Minh binh đi qua một nửa mới bắt đầu tấn công, quân Hậu Kim chiếm được Cát Lâm nhai, Minh binh dựng doanh trại ở núi Tát Nhĩ Hử, ông một lần nữa theo Bối lặc Đại Thiện suất lĩnh hơn một ngàn quân tăng viện cho Cát Lâm nhai, hợp quân tấn công quân chủ lực của nhà Minh ở núi Tát Nhĩ Hử, đại phá quân Minh, danh tướng Đỗ Tùng tử trận. Lại theo Nỗ Nhĩ Cáp Xích rút quân, trảm đầu Lưu Đình.

Tháng 8, ông theo đại quân thảo phạt Diệp Hách, vây thành, Diệp Hách Bối lặc Bố Dương Cổ và em trai Bố Nhĩ Hàng Cổ (布尔杭古) đầu hàng, bình định được Diệp Hách bộ.[3]

Năm thứ 5 (1620), Nỗ Nhĩ Cáp Xích phạt Minh, tấn công Ý Lộ (懿路), Bồ Thành, ra lệnh cho Mãng Cổ Nhĩ Thái mang theo quân đội của mình truy đuổi quân Minh. Ông suất lĩnh hơn trăm quân tinh duệ, truy kích Tổng binh Lý Bỉnh Thành (李秉诚) và Phó tướng Triệu Suất Giáo (赵率教) ra khỏi Thẩm Dương mới rút quân về.[4]

Năm thứ 6 (1621), hàng tướng Trấn Giang thành là Trần Lương (陈良) bị xúi giục đầu phục vào dưới trướng Mao Văn Long (毛文龙), Mãng Cổ Nhĩ Thái cùng Đại Thiện di chuyển dân chúng từ Kim Châu đến Phục Châu (复州).[5]

Năm thứ 10 (1625), ông suất quân đánh hạ Lữ Thuận Khẩu của nhà Minh. Cùng năm đó, Lâm Đan hãn của Sát Cáp Nhĩ tấn công Khoa Nhĩ Thấm, ông suất quân đi cứu viện. Lúc đại quân đánh đến Nông An Tháp (农安塔), Lâm Đan hãn thất bại bỏ chạy.[6]

Năm thứ 11 (1626), Nỗ Nhĩ Cáp Xích suất quân thảo phạt Ba Lâm bộ của Khách Nhĩ Khách, mệnh các Bối lặc suất binh tập kích Tích Lạp Mục Lăng (锡拉穆楞). Các Bối lặc khác vì đi đường quá mệt nhọc mà không thể đi tiếp, chỉ có Mãng Cổ Nhĩ Thái không dừng lại. Ông một mình dẫn binh qua sông trong đêm, tấn công bất ngờ, bắt được số lượng lớn tù nhân.[7]

Những năm Thiên ThôngSửa đổi

Năm Thiên Thông nguyên niên (1627), Hoàng Thái Cực vừa kế vị không lâu đã đích thân xuất quân, phát động trận Ninh - Cẩm. Mãng Cổ Nhĩ Thái suất quân tấn công Hữu Truân vệ của nhà Minh, bắt giữ và dùng một ngàn quân bảo vệ đường lương vận ở Tháp Sơn.[8]

Năm thứ 3 (1629), ông theo Hoàng Thái Cực và đai quân Bát kỳ tấn công Minh triều, Bối lặc A Ba Thái phá Long Tỉnh quan tiến vào Trường Thành, tấn công Hán Nhi Trang (汉儿庄). Mãng Cổ Nhĩ Thái cùng Đa Nhĩ Cổn, Đa Đạc tiếp ứng, áp sát, ép thủ tướng Hán Nhi Trang thành đầu hàng. Hoàng Thái Cực cũng tự mình suất quân đánh hạ Hồng Sơn Khẩu (洪山口), áp sát Tuân Hóa.[9]

Ông từ Hán Nhi Trang thành chỉnh hợp quân đội, đánh bại Tổng binh Triệu Suất Giáo, bắt sống phó tướng Tang Điều Nguyên (臧调元). Sau đó, ông dẫn đại quân tiến vào Thông Châu, tiếp cận thủ đô nhà Minh và tất cả các đạo quân của nhà Minh đều đến cứu viện. Mãng Cổ Nhĩ Thái phái Ba Nha Lạt (巴牙喇) suất quân đi đầu, ông cùng Đa Đạc bọc hậu. Lúc này, đại quân nhà Minh tấn công đến, đều bị ông cùng Đa Đạc đánh lui, tiêu diệt toàn bộ. Ông theo Hoàng Thái Cực kiểm duyệt quân Bát kỳKế Châu, sau đó đại phá viện binh của nhà Minh tại Sơn Hải quan.[10]

Năm thứ 4 (1630), tháng 2, ông suất quân đánh hạ Vĩnh BìnhTuân Hóa. Khi đang rút quân thì gặp phải quân Minh, đều bị ông đánh bại.[11]

Hoạch tội bị khiển tráchSửa đổi

Năm thứ 5 (1631), theo đại quân đánh Trận Đại Lăng Hà, Chính Lam kỳ vây khốn phía nam của Đại Lăng Hà, ông cùng Đức Cách Loại suất lĩnh đám người Ba Nha Lạt tiếp ứng. Minh triều Tổng binh Ngô Cương, Giám quân đạo Trương Xuân dẫn quân đến cứu viện, đóng quân ở 15 dặm bên ngoài thành. Mãng Cổ Nhĩ Thái theo Hoàng Thái Cực tấn công đạo quân này, bắt sống đám người Trương Xuân.

Trong lúc vây công Đại Lăng Hà, Mãng Cổ Nhĩ Thái tấu lên Hoàng Thái Cực việc quân đội của mình vì vây công quân Minh mà trọng thương nhiều. Hoàng Thái Cực liền hỏi đến việc Mãng Cổ Nhĩ Thái không nghe lệnh, làm lỡ quân cơ. Ông liền một mực phủ nhận. Hoàng Thái Cực tiếp tục truy vấn "Nếu đó là vu cáo, vậy thì nên trị tội bọn hắn. Nhưng nếu sự thật đúng là như vậy, ngươi không có tội hay sao?".[12] Ông lập tức mất bình tĩnh, lớn giọng cho rằng mình vốn luôn thuận theo, là Đại Hãn muốn giệt trừ mình. Dứt lời, ông liền cầm đao của mình lên, nhiều lần định nhảy vào tấn công Hoàng Thái Cực. Em trai cùng mẹ của ông là Đức Cách Loại cực lực ngăn cản ông phạm vào tội đại nghịch.[13]

Mãng Cổ Nhĩ Thái càng thêm tức giận, lập tức rút đao ra khỏi vỏ. Hoàng Thái Cực cực kì tức giận, vì vậy liền mắng Mãng Cổ Nhĩ Thái, nhắc đến việc ông từng vì Kế phi Phú Sát thị phạm tội mà giết luôn cả mẹ ruột. Sau đó, các Bối lặc cùng nhau nghị tội, phán Mãng Cổ Nhĩ Thái tội đại bất kính, cách tước Hòa Thạc Bối lặc, hàng xuống Đa La Bối lặc, tước đi năm Ngưu lục, phạt một vạn lượng bạc.[14]

Qua đờiSửa đổi

Năm thứ 6 (1632), ông tiếp tục theo đại quân tấn công Sát Cáp Nhĩ, Lâm Đan hãn thất bại dẫn quân trốn thoát. Đại quân chuyển hướng tấn công Minh triều, tập kích Đại ĐồngTuyên Phủ (宣府)[15].

Ngày 12 tháng 12 cùng năm (11 tháng 1 năm 1633), Mãng Cổ Nhĩ Thái bạo bệnh qua đời, chung niên 46 tuổi. Hoàng Thái Cực đích thân đến viếng, đau buồn khóc tiễn đưa ông.

Năm sau (1633), con gái của Mãng Cổ Tế đến bái kiến Hoàng Thái Cực, nhớ đến bá phụ Mãng Cổ Nhĩ Thái mà khóc lên, Hoàng Thái Cực và các Bối lặc cũng rơi nước mắt[16].

Năm thứ 9 (1635), thuộc hạ của Mãng Cổ TếLãnh Tăng Cơ (冷僧机) tố cáo Mãng Cổ Nhĩ Thái cùng Bối lặc Đức Cách Loại, Mãng Cổ Tế minh thệ oán hận, ý đồ ám sát Hoàng Thái Cực, Ngạch phò của Mãng Cổ Tế là Tắc Nặc Mộc Đỗ Lăng đứng ra làm chứng. Sau đó, lại lục soát được 16 tấm có "Đại Kim quốc Hoàng Đế chi ấn". Cuối cùng, với tội mưu nghịch, Mãng Cổ Nhĩ Thái bị truy đoạt tất cả tước vị. Mãng Cổ Tế cùng con trai ông là Ngạch Tất Luân, anh trai cùng mẹ khác cha Ngang A Lạt đều bị tội liên đới mà xử tử. Các con còn lại của ông đều bị tước đi tư cách Tông thất. Đến những năm Khang Hi, hậu duệ của ông được ban cho Hồng đái tử, phụ nhập vào cuối Ngọc điệp.

Gia quyếnSửa đổi

Thê thiếpSửa đổi

  • Nguyên phối: Nạp Lạt thị (纳喇氏), con gái của Nạp Mục Đô Lý Thị (纳穆都里氏)
  • Kế thất: Nạp Lạt thị (纳喇氏), con gái của Cáp Đạt Bối lặc Mạnh Cách Bố Lộc.
  • Tam thú thê (không rõ họ và xuất thân)
  • Thiếp (không rõ họ và xuất thân)

Hậu duệSửa đổi

  1. Mại Đạt Lễ (邁達禮, 1603 - 1634), mẹ là Kế thất Cáp Đạt Na Lạp thị. Có hai con trai.
  2. Quảng Cổ (廣顧, 1604 - 1606), mẹ là Kế thất Cáp Đạt Na Lạp thị. Chết yểu.
  3. Tát Cáp Lương (薩哈良, 1606 - 1642), mẹ là Kế thất Cáp Đạt Na Lạp thị. Có hai con trai.
  4. Tát Đống Ngạch (薩棟額, 1608 - ?), mẹ thiếp không rõ họ tên. Có hai con trai.
  5. Ngạch Bật Luân (額弼綸, 1609 - ?), mẹ là Kế thất Cáp Đạt Na Lạp thị. Có một con trai.
  6. Phí Dương Cổ Thái (費揚古泰, 1610 - ?), mẹ là Kế thất Cáp Đạt Na Lạp thị. Có một con trai.
  7. Tát Cáp Nạp (薩哈納, 1614 - ?), mẹ thiếp không rõ họ tên. Có một con trai.
  8. A Khắc Tháp Mã (阿克塔瑪, 1620 - 1622), mẹ là Kế thất Cáp Đạt Na Lạp thị. Vô tự.
  9. Thư Tùng (舒松, 1623 - 1652), mẹ là Tam thú thê không rõ họ tên.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ 清史稿·卷二百十七·列传四》:莽古尔泰,太祖第五子。岁壬子,从太祖伐乌喇,克六城,莽古尔泰请渡水击之,太祖曰:“止!无仆何以为主?无民何以为君?我且削之。”遂毁六城,移军富勒哈河。越日,於乌喇河建木城,留兵千守焉。
  2. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:天命元年,授和硕贝勒,以序称三贝勒。
  3. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:四年,明经略杨镐遣总兵杜松以六万人出抚顺关,刘綎以四万人出宽甸。莽古尔泰从太祖御松界凡,伏兵萨尔浒谷口,伺明兵过将半击之,我军据吉林崖,明兵营萨尔浒山,复偕贝勒代善等以千人益吉林崖,而合师攻萨尔浒,大破之,松战死。又从太祖还军击斩綎。八月,从伐叶赫。
  4. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:五年,太祖伐明,略懿路、蒲城,令莽古尔泰以所部逐敌,率健锐百人追击明兵,至浑河乃还。
  5. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:六年,镇江守将陈良策叛投毛文龙,莽古尔泰偕代善迁金州民复州。
  6. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:十年,攻克旅顺口。察哈尔林丹汗侵科尔沁部,围克勒珠尔根城,莽古尔泰赴援,至农安塔,林丹汗遁。
  7. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:十一年,太祖伐喀尔喀巴林部,先命诸贝勒略锡拉穆楞,皆以马乏不能进;莽古尔泰独领兵夜渡击之,俘获无算。
  8. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:天聪元年,攻明右屯卫,又以偏师卫塔山粮运。
  9. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:三年,从太宗征明,阿巴泰自龙井关入,攻汉儿庄。莽古尔泰偕多尔衮、多铎为继,降其城,旋谕降潘家口守将。上克洪山口,逼遵化。
  10. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:莽古尔泰自汉儿庄合军击败明总兵赵率教,擒其副将臧调元。师进次通州,薄明都,明诸道兵入援。莽古尔泰遣巴牙喇兵前行,与多铎殿,值明溃卒来犯,击歼之。从上阅蓟州,破山海关援兵。
  11. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:四年二月,克永平、遵化。还,与明兵遇,败之。
  12. ^ 清史稿·卷二百十七·列传四》:五年,从围大凌河,正蓝旗围其南,莽古尔泰与德格类率巴牙喇兵策应。明总兵吴襄、监军道张春赴援,距城十五里而营。莽古尔泰从上击之,获春等。当围大凌河时,莽古尔泰以所部兵被创,言於上。上偶诘之曰:“闻尔所部兵每有违误。”莽古尔泰恚曰:“宁有是耶?”上曰:“若告者诬,当治告者;果实,尔所部兵岂得无罪?”言已,将起乘马。
  13. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:莽古尔泰曰:“上何独与我为难?我固承顺,乃犹欲杀我耶?”抚佩刀,频目之。
  14. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:贝勒德格类,其母弟也,斥其悖,拳殴之,莽古尔泰益怒,抽刃出鞘。左右挥之出,上愤曰:“是固尝弑其母以邀宠者!”诸贝勒议莽古尔泰大不敬,夺和硕贝勒,降多罗贝勒,削五牛录,罚银万及甲胄、雕鞍马十、素鞍马二。
  15. ^ 《清史稿·卷二百十七·列传四》:六年,从伐察哈尔,林丹汗遁。移师伐明,略大同、宣府。
  16. ^ 中国第一历史档案馆 编 (1989). “清初内国史院满文档案译编·上” (bằng tiếng Zh-hans). 新华书店北京发行所 发行;北京彩虹印刷厂 印刷 . 北京永安路106号: 光明日报出版社. tr. 12. (四月)二十八日。闻外蒙古嫩科尔沁大嬷嬷、小嬷嬷及舅乌克善、格格额驸满朱习礼之妻、额驸满朱习礼、台吉绰依尔济等来朝……次格格额驸满朱习礼之妻见汗,念及伯父贝勒莽古尔泰凄然恸哭,汗与诸贝勒俱泪下,相见毕,未令设宴…… 

Tham khảoSửa đổi