Mèo cát (Felis margarita) hay mèo đụn cát là một loài mèo hoang nhỏ sống ở sa mạc cát và đá xa nguồn nước. Với bộ lông màu cát đến xám nhạt, nó ngụy trang tốt trong môi trường sa mạc. Chiều dài đầu và thân của nó từ 39–52 cm với đuôi dài 23–31 cm. Đôi tai dài 5–7 cm của nó được đặt thấp ở hai bên đầu, giúp phát hiện con mồi đang di chuyển dưới lòng đất. Lớp lông dài bao phủ lòng bàn chân có tác dụng cách nhiệt cho bàn chân chống lại nhiệt độ cực nóng và lạnh ở sa mạc.

Mèo cát
Persian sand CAT.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Carnivora
Họ (familia)Felidae
Phân họ (subfamilia)Felinae
Chi (genus)Felis
Loài (species)F. margarita[2]
Danh pháp hai phần
Felis margarita
Loche, 1858
Phạm vi phân bố của mèo cát, 2016[1]
Phạm vi phân bố của mèo cát, 2016[1]
Phân loài
F. m. margarita Loche, 1858
F. m. thinobia (Ognev, 1927)
Danh pháp đồng nghĩa[2]

Con mèo cát đầu tiên mà khoa học biết đến được phát hiện ở Algeria Sahara và được mô tả vào năm 1858. Đến nay, nó đã được ghi nhận ở một số địa điểm không còn tồn tại ở Maroc, Algeria, Niger, ChadAi Cập. Ở Trung Á, nó được ghi nhận lần đầu tiên vào giữa những năm 1920 tại sa mạc Karakum. Khoảng cách lớn giữa hai khu vực này trong phạm vi toàn cầu của nó đã được thu hẹp một phần vào năm 1948, khi một tấm da mèo cát được tìm thấy trong một ốc đảo của Rub 'al KhaliOman. Nó phân bố không liên tục ở các sa mạc của bán đảo Ả RậpTrung Đông. Vào đầu những năm 1970, mèo cát bị bắt ở Tây Nam Pakistan và được xuất khẩu đến các vườn thú trên toàn thế giới. Do phân bố rộng rãi, nó được đánh giá là loài ít quan tâm trong sách đỏ IUCN.

Mèo cát thường nghỉ ngơi trong các ổ ngầm vào ban ngày và săn mồi vào ban đêm. Nó di chuyển trung bình 5,4 km vào ban đêm để tìm kiếm các loài gặm nhấm và chim nhỏ. Trong số những người Tuareg, nó có tiếng là giết cả những con rắn độc một cách hiệu quả. Vào mùa xuân, con cái sinh ra hai đến ba con mèo con, chúng sẽ trưởng thành về mặt tình dục khi được một tuổi. Các yêu cầu sinh thái của nó vẫn chưa được hiểu rõ, vì chỉ có một số nghiên cứu chuyên sâu nhắm vào các quần thể mèo cát hoang dã đã được thực hiện.

Phân loàiSửa đổi

Tổng cộng có 6 phân loài:

F. m. thinobia đôi khi được xem là một loài riêng biệt; F. m. scheffeli được Hiệp định mậu dịch về các loài bị đe dọa trong các quần thể động thực vật tự nhiên (CITES) xếp vào loài bị đe dọa trong khi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế chỉ xếp nó vào loài sắp bị đe dọa vào năm 2001.

Đặc điểmSửa đổi

Mèo cát trong vườn thú Cincinnati
Hình minh họa sọ mèo cát[3]

Bộ lông của mèo cát có màu cát nhạt, nhưng nhạt hơn nhiều ở phần dưới của đầu, xung quanh mũi, cổ họng và trên bụng. Một đường màu đỏ nhạt chạy từ góc ngoài của mỗi mắt qua má.[4] Hoa văn khác nhau giữa các cá thể: một số không có đốm hoặc sọc, một số có đốm mờ, một số có cả đốm và sọc. Có các vạch màu nâu sẫm đến hơi đen trên các chi, và đuôi có đầu màu đen với hai hoặc ba vòng sẫm xen kẽ với các dải đệm.[5] Đầu màu nâu cát. Đôi mắt lớn màu vàng lục có viền trắng và mũi hơi đen. [6] Râu của mèo có màu trắng và dài tới 8 cm.[7] Mèo cát là một loài mèo nhỏ, có đặc điểm là đầu phẳng, rộng, chân ngắn và đuôi tương đối dài 23–31 cm. Nó cao 24–36 cm ở vai và nặng 1,5–3,4 kg. Chiều dài đầu và thân từ 39–52 cm. Đôi tai dài 5–7 cm được đặt thấp, tạo ra vẻ ngoài rộng và phẳng cho đầu. Đôi tai có màu hung ở gốc và có màu đen, và nhọn hơn so với tai của mèo manul (Otocolobus manul).[8]

Ở Trung Á, bộ lông mùa đông của mèo cát rất dài và dày, với những sợi lông dài tới 5,1 cm. Móng vuốt của mèo cát ở chi trước ngắn và rất sắc, còn móng vuốt ở bàn chân sau thì nhỏ và cùn.[9] Mặt dưới bàn chân của nó được bảo vệ khỏi nhiệt độ khắc nghiệt bởi một lớp lông dày bao phủ.[5] Những sợi lông dài mọc giữa các ngón chân của nó tạo ra một lớp lông đệm trên tấm đệm bàn chân, giúp cách nhiệt chúng khi di chuyển trên cát nóng. Đặc điểm này làm cho dấu vết của mèo bị che khuất và khó xác định và theo dõi.[10]

Hộp sọ của nó được uốn cong theo đường viền bên với các vòm hình zygomatic rộng. Củ tai có hình tam giác và ống tai rất rộng, giúp mèo có thính giác tốt hơn. Các ống thính giác và các đoạn từ tai ngoài đến trống tai được mở rộng rất nhiều so với các loài mèo hoang dã nhỏ khác; các bộ phận bên trong của tai được bảo vệ khỏi các vật thể lạ bởi những sợi lông trắng dài và gần nhau.[3] Tai ngoài của mèo cát tương tự như mèo nhà, nhưng ống tai của chúng có kích thước gấp đôi. Mức độ tiếp nhận âm thanh đầu vào cao hơn khoảng năm lần so với mèo nhà. Ngoài ra, độ nhạy thính giác của mèo cát lớn hơn mèo nhà khoảng 8 decibel.[11] Nó có thương số lực cắn ở đầu răng nanh là 136,7.[12]

Phân bố và sinh cảnhSửa đổi

 
Mèo cát được nuôi nhốt

Như cái tên nêu ra, loài mèo này sống ở các vùng hoang mạc khô hạn và... có cát. Trong đó, các hoang mạc có địa hình bằng phẳng, không gợn sóng và có thảm thực vật phân bố thưa thớt được chúng ưa thích hơn cả - nguồn thức ăn ở đây ít ra phong phú hơn so với các đụn cát nơi thực phẩm khá là ít ỏi. Chúng có thể tồn tại trong nhiệt độ dao động từ −5 °C (23 °F) đến 52 °C (126 °F) và khi thời tiết khắc nghiệt chúng sẽ rút vào trú ẩn trong các hang đào. Một nguồn nước quan trọng của mèo cát chính là lượng nước nằm ngay trong cơ thể con mồi, chính vì thế chúng có thể sống suốt nhiều tháng mà không cần uống nước - mặc dù chúng không từ chối nếu nhìn thấy một vũng nước trước mặt.[13]

Hành vi và sinh tháiSửa đổi

Mèo cát là loài sống đơn độc - ngoại trừ mùa giao phối. "Nhà" của chúng là các hang đào, thường là hang của các con cáo hay nhím bỏ lại. Các hang của chuột nhảy gerbil và các loài gặm nhấm khác cũng được tận dụng - nhưng thường phải đào rộng thêm. Sản phẩm hoàn chỉnh là một chiếc hang tương đối thẳng và có một lối ra vào với chiều dài có thể lên tới 3m. Mèo cát ra khỏi hang lúc chạng vạng tối để săn mồi, mục tiêu là các loài gặm nhấm, thằn lằn, chimcôn trùng, mặc dù khẩu phần của chúng có thể hầu như chỉ bao gồm các loài gặm nhấm.[13]

Khi săn mồi hay di chuyển, mèo cát ẩn mình sát bề mặt cát và sẵn sàng dùng mọi thứ xung quanh để ngụy trang. Chúng dùng đôi tai lớn và nhạy bén để lắng nghe động tĩnh con mồi dưới bề mặt cát, và một khi đã phát hiện mục tiêu thì chúng lập tức đào cát lên để "moi" "nạn nhân" ra. Lượng nước trong cơ thể con mồi được tận dụng triệt để vì vậy mèo cát có thể không cần uống nước mà vẫn sống trong nhiều tháng. Thế nên, chúng cũng hiếm khi lần mò tới các nguồn nước, nơi mà các động vật săn mồi gây hại đến chúng cũng có thể hiện diện.

Như đã nói, mèo cát chỉ tụ họp thành nhóm vào mùa giao phối, vì vậy việc xác định số lượng của chúng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên dường như số lượng của chúng ở sa mạc Ả Rập đã giảm do nguồn thức ăn của chúng ít phong phú hơn trước. Theo các quan sát, mèo cát có thể di chuyển tổng cộng 5 đến 10 km trong một đêm, tuy nhiên - trái với các loài mèo khác - chúng không bảo vệ lãnh thổ của mình và thậm chí có thể "trao đổi" nhà với nhau.

Các mối đe dọa đối với mèo cát bao gồm con người, sói, rắnchim săn mồi.[14] Mèo cát nhìn chung khá dễ bảo và dạn người.

Mèo cát giao tiếp với nhau bằng mùi và vết cào trên các vật thể trong tầm kiểm soát của chúng, và cả bằng nước tiểu - tuy nhiên trái với các loài mèo khác chúng không dùng phân. Tiếng kêu của chúng cũng giống như mèo nhà mặc dù chúng có thể tạo ra những tiếng kêu to và có cao độ lớn - nhất là khi tìm kiếm bạn tình.[13]

Sinh sản và vòng đờiSửa đổi

 
Một con mèo cát con được nuôi nhốt.

Thời kỳ động dục của mèo cát kéo dài chừng 5-6 ngày, trong thời kỳ này các cá thể mèo tăng cường kêu và đánh dấu sự hiện diện bằng mùi. Trung bình mèo cát chỉ đẻ mỗi năm một lứa vào khoảng từ tháng Năm đến tháng Sáu, mỗi lứa ba con và thai kỳ kéo dài khoảng 59-66 ngày; mặc dù trong một số khu vực mèo cát có thể sinh 2 lứa/năm. Mèo con nặng chừng 39 đến 80 gam (1,4 đến 2,8 oz) lúc mới sinh và có bộ lông vàng nhạt pha chút sắc đỏ. Mèo con lớn rất nhanh, đạt 3/4 kích thước của mèo trường thành khi mới 5 tháng tuổi. Chúng sống độc lập khi được một năm tuổi và trưởng thành sinh dục không lâu sau đó.[15] Trong số 228 con mèo cát sinh ra trong các vườn thú trên thế giới, chỉ có 61% sống thọ hơn 30 ngày tuổi, nguyên nhân của tỉ lệ tử vong cao chủ yếu là do mèo con thiếu thốn sự chăm sóc của những con mèo mới làm mẹ lần đầu.[16]

Đến nay vẫn chưa rõ tuổi thọ của mèo cát trong tự nhiên là bao nhiêu, tuy nhiên những con mèo nuôi nhốt có thể sống đến 13 năm.

Bảo tồnSửa đổi

 
Mèo cát tại vườn thú Bristol, Anh

Săn bắn mèo cát bị cấm ở Algérie, Iran, Israel, Kazakhstan, Mauritanie, Niger, PakistanTunisia, nhưng ở Ai Cập, Mali, Maroc, Oman, Ả Rập Xê ÚtCác Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất thì chúng không được pháp luật bảo vệ.[14]

Mèo cát trong điều kiện nuôi nhốt rất dễ tổn thương bởi các bệnh đường hô hấpnhiễm trùng đường hô hấp trên là nguyên nhân tử vong chủ yếu của mèo cát trưởng thành. Bệnh hô hấp phổ biến nhất là nhiễm virút rhinotracheitis. Chính vì vậy mèo cát phải được nuôi ở nơi có không khí rất khô và thoáng với độ ẩm và nhiệt độ không dao động quá lớn.[16]

Tính đến ngày 20 tháng 1 năm 2010, có 26 con mèo cát được nuôi nhốt tại Hoa Kỳ.[17] Vào tháng 5 năm 2010, vườn bách thú Al Ain tuyên bố tại nơi này hai chú mèo cát con đầu tiên đã được sinh ra bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.[18]

Việc mèo cát bị biến mất tại Israel cùng với tình trạng bị đe dọa của chúng nói chung đã khiến Vườn thú Jerusalem khởi động một chương trình "tái định cư" cho mèo cát ở ngoài tự nhiên. Các khu vực có điều kiện khí hậu, thủy thổ thích hơp cho mèo cát được xây dựng tại Khu Bảo tồn Điểu cầm Kibbutz Lotan tại sa mạc Arava. Các cá thể mèo cát đầu tiên được đưa vào sống tại các khu vực này và sau đó được đưa ra ngoài tự nhiên. Việc theo dõi chúng được thực hiện bởi các nhân viên của Kibbutz Lotan và bởi các nhân viên kiểm lâm của Cục Bảo vệ Tự nhiên và Công viên Quốc gia Israel (INNPPA). Tuy nhiên chương trình này đã thất bị hoàn toàn: tất cả các cá thể mèo tham gia chương trình đều không sống sót được ngoài tự nhiên.[19]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă Sliwa, A.; Ghadirian, T.; Appel, A.; Banfield, L.; Sher Shah, M.; Wacher, T. (2016). Felis margarita. IUCN Red List of Threatened Species 2016: e.T8541A50651884. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  2. ^ a ă Wozencraft, W. C. (2005). “Species Felis margarita. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World . Nhà in Đại học Johns Hopkins. tr. 536 |các trang= hay |at= dư (trợ giúp). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ a ă Osborn, D.; Helmy, I. (1980). Felis margarita Loche, 1858”. The contemporary land mammals of Egypt (including Sinai). Fieldiana Zoology New Series No. 5. Chicago: Field Museum of Natural History. tr. 444–447.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  4. ^ Loche, V. (1858). “Description d'une nouvelle espèce de Chat” [Description of a new species of cat]. Revue et Magasin de Zoologie Pure et Appliquée. 2 X: 49–50. 
  5. ^ a ă Schauenberg, P. (1974). “Données nouvelles sur le Chat des sables Felis margarita Loche, 1858” [New data on the Sand Cat Felis margarita Loche, 1858] (PDF). Revue Suisse de Zoologie 81 (4): 949–969. doi:10.5962/bhl.part.76053. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  6. ^ Sunquist, M.; Sunquist, F. (2002). “Sand Cat Felis margarita (Loche, 1858)”. Wild Cats of the World. Chicago: University of Chicago Press. tr. 67–74. ISBN 978-0-226-77999-7.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  7. ^ Cole, F. R.; Wilson, D. E. (2015). “Felis margarita (Carnivora: Felidae)”. Mammalian Species 47 (924): 63–77. doi:10.1093/mspecies/sev007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  8. ^ Sliwa, A. (2013). Felis margarita Sand Cat”. Trong Kingdon, J.; Hoffmann, M. Mammals of Africa, Volume V: Carnivores, Pangolins, Equids and Rhinoceroses. London: Bloomsbury Publishing. tr. 199–202. ISBN 978-1408189962. 
  9. ^ Heptner, V. G.; Sludskij, A. A. (1992) [1972]. “Sand Cat”. Mlekopitajuščie Sovetskogo Soiuza. Moskva: Vysšaia Škola [Mammals of the Soviet Union. Volume II, Part 2. Carnivora (Hyaenas and Cats)]. Washington DC: Smithsonian Institution and the National Science Foundation. tr. 636–665.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  10. ^ Abbadi, M. (1991). “Israel's elusive feline: Sand Cats”. Israel Land and Nature 16 (3): 111–115. 
  11. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1 tại dòng 1696: Chế độ ID thủ công không rõ.
  12. ^ Christiansen, P.; Wroe, S. (2007). “Bite forces and evolutionary adaptations to feeding ecology in carnivores”. Ecology 88 (2): 347–358. PMID 17479753. doi:10.1890/0012-9658(2007)88[347:bfaeat]2.0.co;2.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  13. ^ a ă â Sunquist, Mel; Sunquist, Fiona (2002). Wild cats of the World. Chicago: University of Chicago Press. tr. 67–74. ISBN 0-226-77999-8. 
  14. ^ a ă Sand Cat (Felis margarita). lioncrusher.com
  15. ^ Mellen, J.D. (1993). “A comparative analysis of scent marking, social and reproductive behavior in 20 species of small cats (Felis)”. Am. Zool. 33: 151–166. doi:10.1093/icb/33.2.151. 
  16. ^ a ă Sausman, Karen (2007). “Sand cat a true desert species”. International Zoo Yearbook 35: 78–81. 
  17. ^ [1][liên kết hỏng]
  18. ^ Sand cat pair at Al Ain Wildlife Park and Resort. Khaleejtimes.com. Truy cập 2011-09-27.
  19. ^ Jerusalem Biblical Zoo – Re-introduction – Sand cats. Jerusalemzoo.org.il. Truy cập 2011-09-27.