Nghệ Tĩnh là một tỉnh cũ thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam, tồn tại từ năm 1976 đến năm 1991.

Nghệ Tĩnh
Tỉnh Nghệ Tĩnh
Tỉnh
Hành chính
VùngBắc Trung Bộ
Tỉnh lỵThành phố Vinh
Phân chia hành chính1 thành phố, 1 thị xã, 25 huyện
Thành lập1975[1]
Giải thể1991[2]
Địa lý
Tọa độ: 18°40′13″B 105°41′25″Đ / 18,67038°B 105,690269°Đ / 18.670380; 105.690269
Tỉnh Nghệ Tĩnh (màu đỏ) năm 1976
Nghe Tinh.GIF

Địa bàn tỉnh Nghệ Tĩnh hiện nay tương ứng với hai tỉnh Nghệ AnHà Tĩnh.

Địa lýSửa đổi

Tỉnh Nghệ Tĩnh có vị trí địa lý (năm 1989-1991):

Diện tích, dân sốSửa đổi

  • Diện tích (1991): 22.502 km2
  • Dân số (1991): 3.311.532 người

Lịch sửSửa đổi

Hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh dưới thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê vốn cùng thuộc một đơn vị hành chính gọi là Hoan Châu. Đến thời nhà Lý, năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An và từ năm 1490 (thời Hậu Lê) gọi là xứ Nghệ An. Thời nhà Tây Sơn gọi là Nghĩa An trấn, thời nhà Nguyễn, Gia Long lại đặt làm Nghệ An trấn.

Năm 1831, vua Minh Mạng chia Nghệ An trấn thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam) và Hà Tĩnh (phía nam sông Lam).

Ngày 27 tháng 12 năm 1975, Quốc hội ban hành nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ Tĩnh.[1]

Sau khi hợp nhất, tỉnh Nghệ Tĩnh có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: thành phố Vinh, thị xã Hà Tĩnh và 25 huyện: Anh Sơn, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Con Cuông, Diễn Châu, Đô Lương, Đức Thọ, Hưng Nguyên, Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh, Kỳ Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghi Xuân, Nghĩa Đàn, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, Thạch Hà, Thanh Chương, Tương Dương, Yên Thành. Tỉnh lỵ của tỉnh đặt tại thành phố Vinh.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Nghệ Tĩnh để tái lập tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh[2]:

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a b “Nghị quyết về việc hợp nhất một số tỉnh do Quốc hội ban hành”.
  2. ^ a b “Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Quốc hội ban hành”.