Nguyễn Côn

nguyên Trưởng ban Kinh tế Trung ương, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

Nguyễn Côn (sinh ngày 15 tháng 5 năm 1917) là một cựu chính khách Việt Nam. Ông từng là Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim của Việt Nam.

Nguyễn Côn
Chức vụ
Nhiệm kỳ1976 – 1979
Tiền nhiệmchức vụ thành lập
Kế nhiệmNguyễn Lam
Nhiệm kỳ28 tháng 3 năm 1974 – 22 tháng 11 năm 1977
&00000000000000030000003 năm, &0000000000000239000000239 ngày
Tiền nhiệmĐinh Đức Thiện
Kế nhiệmNguyễn Văn Kha
Nhiệm kỳ30 tháng 10 năm 1967 – 2 tháng 7 năm 1976
&00000000000000080000008 năm, &0000000000000246000000246 ngày
Thủ tướngPhạm Văn Đồng
Nhiệm kỳtháng 4 năm 1965 – 14 tháng 6 năm 1973
&00000000000000080000008 năm, &000000000000006000000060 ngày
Tiền nhiệmNguyễn Duy Trinh
Kế nhiệmNguyễn Lam
Phó Chủ nhiệmNguyễn Lam (từ 11/8/1969)
Đặng Thí (từ 11/8/1969)
Nguyễn Văn Kha (từ 11/8/1969)
Nhiệm kỳ1968 – 1976
Tổng Bí thưLê Duẩn
Thông tin chung
Sinh15 tháng 5, 1917 (104 tuổi)
xã Thanh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
Nơi ởHà Nội
Đảng pháiĐảng Cộng sản Việt Nam

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa III, IV, V. Bí thư Trung ương Đảng khóa III.

Thân thếSửa đổi

Nguyễn Côn sinh ngày 15 tháng 5 năm 1917[1] tại thôn Liễu Nha, xã Thanh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An trong một gia đình có truyền thống Nho học.

Cố nội ông là Nguyễn Đức Lân, năm Tự Đức thứ 20 đậu Cử nhân khoa Đinh Mão(1860). Cha ông là Nguyễn Văn Chính đậu Giải nguyên năm Duy Tân thứ 6 khoa Nhâm Tý (1912).

Ông được người cha dạy dỗ từ nhỏ và đến năm 1935-1936 theo học tại trường Kỹ nghệ thực hành tại Huế.

Tham gia hoạt động cách mạngSửa đổi

Thời gian ông học tại trường Kỹ nghệ thực hành Huế, chịu ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ông cùng một số anh em khác lãnh đạo học sinh tham gia đón Justin Godart, một cựu bộ trưởng, một trí thức tiến bộ ở Pháp, đặc sứ của Chính phủ Mặt trận Bình dân (Pháp) sang điều tra tình hình thuộc địa, tại Huế.

Năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tại nhà máy xe lửa Dĩ An, Sài Gòn. Sau đó ông được bầu làm Bí thư chi bộ nhà máy. Tiếp đến ông lại hoạt động trong nhà máy Ba Son, đồn điền cao su Quang Lợi,...

Lo sợ trước ảnh hưởng của ông với phong trào công nhân lúc bấy giờ, thực dân Pháp đã bắt ông tù đày, tra tấn dã man trong các nhà lao khám lớn Sài Gòn, Côn Đảo, Lê Hi, Đắc Tô và nhà lao Vinh (1940-1945).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông DươngBác Hồ, nhân dân cả nước đã vùng lên khởi nghĩa dành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám, ông và nhiều chiến sĩ cách mạng khác đã thoát khỏi nhà tù đế quốc để trở về địa phương tiếp tục hoạt động cách mạng.

Tháng 8 năm 1945, ông đã trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa dành chính quyền ở Thanh Chương và được cử làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng của huyện. Sau đó ông được bầu là Đại biểu quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và liên tục là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VI.

Năm 1946 ông được Trung ương Đảng phân công vào công tác ở Nam Trung bộ. Từ 1946 - 1950 là Xứ ủy viên, Bí thư Ban cán sự Cục Nam Trung Bộ kiêm Bí thư tỉnh ủy Bình Thuận.

Năm 1951-1954, ông là Ủy viên thường trực Khu ủy Liên khu V, Bí thư Ban cán sự Cực Nam Trung bộ Liên khu VI cho đến hết kháng chiến chống Pháp.

Công tác chính quyền và ĐảngSửa đổi

Cuối năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc.

Năm 1956-1958, ông được bổ nhiệm làm Phó Tổng Thanh tra Chính phủ.

Năm 1958-1959, ông là Thứ trưởng Bộ Kiến trúc.

Năm 1960, ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III.

Năm 1965 - 1973, ông giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước[2].

Năm 1967, ông được phê chuẩn giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Ủy viên Ủy ban Quốc phòng Nhà nước.

Năm 1968, ông được bổ sung vào Ban Bí thư.

Năm 1974, ông tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Ủy viên Ủy ban Quốc phòng Nhà nước, kiêm Bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim, Trưởng ban Cơ khí Trung ương.

Năm 1976, ông chuyển sang làm Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1979, ông được phân công làm Trưởng đoàn chuyên gia kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Campuchia. Tại Đại hội Đảng lần thứ V (1982) ông vẫn được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.

Năm 1986, tại Đại hội VI của Đảng ông không tái cử vào Ban Chấp hành Trung ương và tới tuổi nghỉ hưu.

Tôn vinhSửa đổi

Do những cống hiến to lớn của ông với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, ông đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (2007)[3], Huân chương Hồ Chí Minh (1996) và nhiều phần thưởng cao quý khác. Chiều 20.6, tại Trụ sở Chính phủ, Đảng ủy Văn phòng Chính phủ (VPCP) đã tổ chức lễ trao tặng Huy hiệu Đảng, Huân chương Độc lập và Bằng khen của Đảng ủy khối các cơ quan T.Ư cho các đảng viên của Đảng bộ. 13 người được trao tặng Huy hiệu Đảng đợt này, trong đó có hai người nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng gồm nguyên Bí thư T.Ư Đảng Nguyễn Văn Trân; nguyên Bí thư T.Ư Đảng, nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Côn.[4]

Ngày 6 tháng 10, ông được trao tặng huy hiệu 85 năm tuổi Đảng

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Đồng chí Nguyễn Côn[liên kết hỏng]
  2. ^ http://www.mpi.gov.vn/portal/page/portal/bkhdt/gtcbkhdt/103467/103478[liên kết hỏng]
  3. ^ Trao huân chương cho 15 đồng chí nguyên là lãnh đạo Chính phủ, Văn phòng Chính phủ
  4. ^ “Trao Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng cho nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Côn”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2018. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)

Liên kết ngoàiSửa đổi