Nguyễn Phúc Chẩn

Nguyễn Phúc Chẩn (chữ Hán: 阮福昣; 30 tháng 4 năm 180326 tháng 10 năm 1824), tước phong Thiệu Hóa Quận vương (紹化郡王), là một hoàng tử con vua Gia Long nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Thiệu Hóa Quận vương
紹化郡王
Hoàng tử nhà Nguyễn
Thông tin chung
Sinh30 tháng 4 năm 1803
Mất26 tháng 10 năm 1824 (21 tuổi)
An tángHuyện Hương Trà, Huế
Hậu duệThiện Khuê
Thiện Chỉ
Tên húy
Nguyễn Phúc Chẩn
阮福昣
Thụy hiệu
Cung Lương Thiệu Hóa Quận vương
恭良紹化郡王
Tước vịThiệu Hóa công
Thiệu Hóa Quận vương (truy tặng)
Thân phụNguyễn Thế Tổ
Gia Long
Thân mẫuThuận Thiên Cao Hoàng hậu
Trần Thị Đang

Tiểu sửSửa đổi

Hoàng tử Chẩn sinh ngày 10 tháng 3 (âm lịch) năm Quý Hợi (1803), là con trai thứ 9 của vua Gia Long, mẹ là Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị Đang[1]. Ông là em cùng mẹ với vua Minh MạngKiến An vương Nguyễn Phúc Đài.

Năm Gia Long thứ 16 (1817), hoàng tử Chẩn được phong làm Thiệu Hóa công (紹化公)[2]. Ông tính cẩn trọng, hiền hòa, cư xử có lễ độ, vua Gia Long vì thế mà yêu ông lắm[3].

Thời Minh MạngSửa đổi

Vua Minh Mạng rất quý các hoàng đệ, cứ 5 ngày một lần sai người đến các phủ của họ hỏi thăm, khi rỗi việc triều chính thì thỉnh thoảng đến chơi[4].

Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), thuộc hạ trong phủ Thiệu Hóa công Chẩn là bọn Nguyễn Đăng Quy trá xưng là thị vệ, đêm đến vào nhà dân đánh bạc, nhân cự đánh quan Tri huyện là Vũ Văn Thục[5]. Dinh thần là Quảng Đức tâu lên. Vua sai đem chém bọn chúng. Thuộc phủ Cai đội là Lê Văn Đắc bị tội trượng và cách chức[5]. Thiệu Hóa công sợ hãi xin nhận tội. Vua nói: “Biết Công thực thà, nhưng quá nhu nhơ nên bọn thuộc hạ sinh nhờn[5].

Năm thứ 4 (1823), vua cho Kiến An công 1000 phương gạo và Thiệu Hóa công Chẩn 500 phương gạo, dụ rằng: “Bớt sự tiêu phiếm, đức tính tiết kiệm là rất tốt, phải nên nghĩ đấy[6].

Thiệu Hóa công Chẩn là người ham học, lại hay làm điều thiện[3]. Vua anh Minh Mạng rất yêu quý, mới lấy phủ của mình khi chưa làm vua ban cho em trai, nhưng ông lại chọn dựng phủ riêng ở làng An Ninh (nay thuộc phường Vỹ Dạ). Trong vườn có ao trồng sen trắng, ngoài hiên trồng tre xanh, gọi là vườn Thê Phượng (tức chim phượng đậu), chỗ ông ở gọi là thôn Bạch Liên[3].

Những năm đầu Minh Mạng, hoàng trưởng tử là Trường Khánh công Miên Tông (vua Thiệu Trị sau này) thường cùng Thiệu Hóa công Chẩn học tập. Vua Thiệu Trị kém hoàng thúc Thiệu Hóa công 4 tuổi, nhưng Công giữ lễ, rất kính trọng Hoàng trưởng tử[3].

Qua đờiSửa đổi

Thiệu Hóa công Chẩn tuổi còn trẻ mà đã mắc bệnh. Khi mới đổ bệnh, Nhân Tuyên Hoàng thái hậu lấy làm lo lắng, một hôm đốt hương khấn trời rằng: “Bệnh của Công có khỏi hay không, xin báo mộng cho biết”. Một đêm, bà Nhân Tuyên nằm mộng thấy một lão già đến trước mặt tâu rằng: “Công chết rồi[7].

Năm Minh Mạng thứ 5, Giáp Thân (1824), ngày 5 tháng 9 (âm lịch), Thiệu Hóa công mất khi mới 22 tuổi[1]. Hay tin người em mất, vua rất thương tiếc, nghỉ coi chầu 5 ngày, truy tặng cho ông làm Thiệu Hóa Quận vương (紹化郡王), thụyCung Lương (恭良)[3]. Tôn Thất Diệu và Tôn Thất Bính được giao trông coi việc tang; hoàng đệ Quảng Uy công Quân đến tứ tế; vua Minh Mạng đích thân đến rót rượu dâng cúng[7].

Ngày an táng Thiệu Hóa Quận vương, xa giá của vua đến lầu ở cửa Đông Nam, Minh Mạng trông theo mà khóc đưa[3][7]. Tẩm mộ của ông được táng tại An Ninh (nay là xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, Huế)[1].

Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), vua đến yết lăng tổ tiên, lúc trở về ngang qua An Ninh, đến mộ của Vương cầm chén rượu rót xuống đất để tế[3].

Gia quyếnSửa đổi

Thiệu Hóa Quận vương chỉ có 2 người con trai.

  • Thiện Khuê, công tử trưởng, năm Minh Mạng thứ 16 (1835) tập phong làm Thiệu Hóa công. Do tiêu xài hoang phí, của dùng trong nhà ngày một hao hụt rồi đem kim sách đi cầm cố nên bị giáng làm Thiệu Hóa Đình hầu[8]. Năm Tự Đức thứ 13 (1860), công tử biết hối cải nên được phục tước[3]. Có con trai tên là Thiệu Giám.
  • Thiện Chỉ, công tử thứ, năm Minh Mạng thứ 20 (1839) được ân phong làm Lại Trạch Đình hầu[3].

Tham khảoSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a b c Nguyễn Phúc tộc thế phả, tr.258
  2. ^ Đại Nam thực lục, tập 1, tr.954
  3. ^ a b c d e f g h i Đại Nam liệt truyện, tập 2, quyển 2: Truyện các hoàng tử – phần Kiến An vương Đài
  4. ^ Đại Nam thực lục, tập 2, tr.59
  5. ^ a b c Đại Nam thực lục, tập 2, tr.189
  6. ^ Đại Nam thực lục, tập 2, tr.291
  7. ^ a b c Đại Nam thực lục, tập 2, tr.376
  8. ^ Đại Nam thực lục, tập 7, tr.553