Mở trình đơn chính

Quảng Uy công Nguyễn Phúc Quân (chữ Hán: 廣威公 阮福昀; 20 tháng 8 năm 1809 – 26 tháng 5 năm 1829), có sách ghi là Quảng Oai công, là một hoàng tử của Nguyễn Thế Tổ Gia Long Đế.

Quảng Uy công
廣威公
Hoàng tử nhà Nguyễn
Thông tin chung
Hậu duệkhông có
Tên húy
Nguyễn Phúc Quân
阮福昀
Thụy hiệuCung Trực Quảng Uy công
恭直廣威公
Thân phụNguyễn Thế Tổ
Gia Long
Thân mẫuĐức phi
Lê Ngọc Bình
Sinh20 tháng 8 năm 1809
Mất26 tháng 5 năm 1829 (20 tuổi)
An tángTrúc Lâm, Hương Thủy, Thừa Thiên

Tiểu sửSửa đổi

Hoàng tử Quân là con trai thứ 10 của vua Gia Long, mẹ là Cung Thận Đức phi Lê Ngọc Bình. Ông sinh ngày 7 tháng 4 (âm lịch) năm Kỷ Tỵ (1809). Năm Gia Long thứ 16 (1817), vua cha phong ông làm Quảng Uy công (廣威公), năm đó hoàng tử mới 8 tuổi.

Hoàng thân ngỗ ngượcSửa đổi

Theo Đại Nam liệt truyện, Quảng Uy công khi còn trẻ là người ngổ ngáo xấc xược, chỉ thích chơi đùa. Giáo đạo (tức thầy dạy) của ông là Ngô Đình Giới dạy rất nghiêm khắc nên ông rất ghét. Một hôm, ông cho người đầy tớ bắt một con nhái trói ở sân, lấy roi đánh và bảo rằng: “Mày chớ có khinh ta”[1]. Biết ông bày trò đó để phỉ báng, đe doạ mình, ông Giới xin vua không dạy hoàng tử nữa.

Những năm đầu Minh Mạng, vua cho Trần Đại Nghĩa làm giáo đạo lo việc dạy dỗ Quảng Uy công. Ngài còn ban cho ông Nghĩa một cái roi và dụ rằng: “Em nhỏ tuổi của trẫm, sinh trưởng ở trong cung cấm, không dạy thì không nên người có đức được. Khanh sớm khôn khéo dẫn bảo, có lỗi thì đánh, chớ để cho kiêu lười thành tính”. Vua cũng cho Hàn lâm Trực giảng là Nguyễn Đăng Sĩ làm giảng quan trong phủ riêng của Quảng Uy công.

Theo Quốc sử di biên, ông được xem là người hào phóng, thương người, hay bố thí. Ai làm thất ý ông thì bị đánh bằng roi sắt, bị xẻo tai, hoặc chặt ngón tay. Mỗi khi thấy những tên quan võ bàn tán, phân biệt nhân phẩm người Đàng TrongĐàng Ngoài, ông liền mắng rằng: “Lũ mày không biết người Đàng Ngoài tức là ông cha người Đàng Trong à?”[2]. Ông thường sai một đầy tớ làm ghế ngồi, gối dựa, khiến cho người đầy tớ đó bị liệt mà không đứng dậy được[2].

Cũng theo Quốc sử di biên, Quảng Uy công là người khỏe mạnh, lại thích võ, tay không mà dám đánh với hổ dữ. Ông thường nuôi những con trâu, cho tô sơn lên chúng và đem đi đấu với voi để lấy làm vui. Chó săn, gà chọi con nào chết thì ông cho lấy gấm lụa khâm liệm mà chôn[2]. Ai có chó săn, gà chọi tốt mà không chịu nộp thì bị đánh đập, dân chúng ca thán khắp nơi. Vua anh biết được quở mắng ông và phạt lương bổng rất nặng, thuộc hạ của ông cũng bị xử nghiêm.

Vua thường răn dạy ông chớ có tiêu xài hoang phí, ông khóc mà nói rằng: “Cha mẹ mất cả, không còn lấy gì làm vui, cho nên phải như thế”. Vua sau đó không bàn đến chuyện này nữa[2].

Qua đờiSửa đổi

Mùa hạ năm Minh Mạng thứ 10 (1829), Quảng Uy công mắc bệnh đậu mùa. Vua sai đặt giường và bắt người hầu của công đều mặc đồ màu đỏ và tía. Y viện dâng thuốc cho ông bao giờ cũng tâu trình cho vua coi. Vua Minh Mạng cũng thường khuyên giải để cho em mình vui, hỏi ông muốn gì, ông nói muốn chóng khỏi bệnh để càng được phá gia sản thôi. Vua cười to cho ông thích chí[2]

Bệnh không chữa khỏi, rồi Quảng Uy công cũng mất, hưởng dương mới 21 tuổi (tuổi mụ). Vua nghỉ coi chầu 3 ngày, ban thụy là Cung Trực (恭直), sai Hoàng trưởng tử Miên Tông (là vua Thiệu Trị sau này), đến tế rượu. Vua còn ban phát gấm vóc vải lụa và tiền, sai quan sắp xếp việc tang lễ. Tẩm mộ của ông nằm ở Trúc Lâm, Hương Thủy, Thừa Thiên.

Gia quyếnSửa đổi

Ngoài Quảng Uy công Quân, Đức phi còn hạ sinh thêm được 2 hoàng nữ và 1 hoàng tử, là An Nghĩa Công chúa Ngọc Ngôn (18041856), Mỹ Khê Công chúa Ngọc Khuê (18071827) và Thường Tín Quận vương Nguyễn Phúc Cự (常信郡王 阮福昛; 18101849).

Quảng Uy công có hơn 30 vợ và nàng hầu nhưng lại không có người con nào. Chính vì thế, bài Phiên hệ thi của Minh Mạng dành cho con cháu của ông không bao giờ được dùng đến. Tất cả gia sản của ông đều giao cho người em là hoàng tử Cự coi giữ[2].

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Từ Giới trong tên của giáo đạo Ngô Đình Giới vốn đọc là "Giái", gần âm với "nhái" nên Quảng Uy công mới đem ra trêu đùa.
  2. ^ a ă â b c d theo Quốc sử di biên, tr.247-248