Mở trình đơn chính

Kiến An vương Nguyễn Phúc Đài (chữ Hán: 建安王 阮福旲; 5 tháng 10 năm 179514 tháng 11 năm 1849), là một hoàng tử của Nguyễn Thế Tổ Gia Long Đế.

Kiến An Vương
建安王
Hoàng tử nhà Nguyễn
Thông tin chung
Hậu duệ40 con trai
41 con gái
Tên húy
Nguyễn Phúc Đài
阮福旲
Thụy hiệuCung Thuận Kiến An vương
恭慎建安王
Thân phụNguyễn Thế Tổ
Gia Long
Thân mẫuThuận Thiên Cao Hoàng hậu
Trần Thị Đang
Sinh5 tháng 10 năm 1795
Mất14 tháng 11 năm 1849 (54 tuổi)
An tángDương Xuân, Hương Thủy, Thừa Thiên

Ông là người học rộng hay thơ, đã để lại 2 tác phẩm là Dưỡng môngBảo quang[1].

Tiểu sửSửa đổi

Hoàng tử Đài là con trai thứ 5 của vua Gia Long, mẹ là Thuận Thiên Hoàng hậu Trần Thị Đang. Ông sinh vào ngày 23 tháng 8 (âm lịch) năm Ất Mão (1795), là anh em cùng mẹ với ngài Thánh Tổ Minh MạngThiệu Hóa Quận vương Nguyễn Phúc Chẩn. Năm 1817, ông được phong làm Kiến An công (建安公).

Kiến An công là người ngay thẳng, rộng rãi, giỏi văn thơ, lấy lễ tiếp đãi kẻ sĩ nên vì thế mà tiêu xài phung phí, đến nỗi bổng lộc không đủ. Vua Minh Mạng mới nối ngôi có đến thăm ông, ban cho 2000 quan tiền, răn dạy rằng: "Bổng lộc của em là đồ béo bở của dân, phải cần kiệm để hưởng lấy nghiệp nhà, chớ hoang phí để hại đức. Ta vì thiên hạ giữ của, há có thể dùng của công để làm ơn riêng được ư?".

Năm 1833, Kiến An công sai thuộc hạ là Lê Văn Quát đi Hà Nội mua ngựa, Quát đi tắt lên Cao Bằng sách nhiễu tiền của dân. Quan tuần phủ Lạng SơnHoàng Văn Quyền đem việc ấy tâu cho vua Minh Mạng biết, Quát bị xử tử, Kiến An công liên lụy bị phạt bổng một năm.

Cũng năm đó, Lê Văn Khôi nổi dậy, Kiến An công lấy cớ người vợ lẽ là cháu gọi Khôi bằng cậu, xin truất làm nàng hầu (thấp hơn danh phận vợ lẽ). Vua bảo rằng: "Cháu gọi bằng cậu là bên ngoại, luật cũng không khép tội nay đã truất làm tì, chuẩn cho được đoàn tụ. Và về việc ấy em không can hệ gì, bất tất phải suy sợ quá làm gì nên cứ chiếu lệ thưởng chầu hầu".

Năm 1842, thời vua Thiệu Trị, Kiến An công lúc này đã già yếu, vua cho miễn quỳ lạy chỉ cần làm lễ một vái. Năm Thiệu Trị thứ 3, mãn tang ngài Thánh Tổ, vua ưa ái cho Kiến An công miễn bưng chén dâng rượu chúc thọ, cho ông ngồi ở hàng trên mỗi khi có tiệc yến ở đại đình. Vua lại cấp cho ông một chiếc thuyền "Trường bồng sam bản" để đi theo hầu. Năm thứ 4, Kiến An công lên tuổi thọ 50, vua thưởng cho 2000 quan tiền, lại sai hoàng tử mang tờ dụ và các vật phẩm ban cho để mừng thọ.

Năm 1849, thời Tự Đức, ngày 21 tháng 9 (âm lịch), Kiến An công mất, thọ 55 tuổi. Vua vô cùng thương tiếc, cho nghỉ coi chầu 5 ngày, truy tặng ông làm Kiến An vương (建安王), tên thụy là Cung Thuận (恭慎), ban cấp của công, sai quan chuẩn bị tang lễ, ngày an táng vua sai quan đến tế một đàn. Tẩm mộ của ông nằm ở Dương Xuân, (Hương Thủy, Thừa Thiên).

Gia quyếnSửa đổi

Kiến An vương có tất cả 40 con trai và 41 con gái.

  • Con trưởng Nguyễn Phúc Lương Kỳ, mất năm Minh Mạng thứ 9 (1829), truy tặng Phụng Quốc khanh (奉國卿).
  • Con thứ Nguyễn Phúc Lương Viên, năm Thiệu Trị thứ 3 (1844) phong làm Phúc Trạch Đình hầu (福澤亭侯). Năm Tự Đức thứ 8 (1855), công tử được tập phong Kiến An Quận công (建安郡公).

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Dưỡng mông: dưỡng là "nuôi", mông là "tối tăm", có nghĩa là "nuôi chí tối tăm". Bảo quang: bảo là "giấu kỹ", quang là "ánh sáng", có nghĩa là "giấu đi ánh sáng". Tên của cả hai cuốn đều mang ý nghĩa là "thích ở ẩn".