Nhã Lãng A (tiếng Mãn: ᠶᠠᠯᠠᠩᡤᠠ, Möllendorff: Yalangga, chữ Hán: 雅朗阿; 16 tháng 7 năm 1733 - 2 tháng 1 năm 1795), Ái Tân Giác La, là một Hoàng thân thuộc 1 trong 12 Thiết mạo tử vương của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Nhã Lãng A
雅朗阿
Quận vương nhà Thanh
Đa La Khắc Cần Quận vương
Tại vị1780 - 1790
Tiền nhiệmKhánh Hằng
Kế nhiệmHằng Cẩn
Thông tin chung
Phối ngẫuxem văn bản
Hậu duệxem văn bản
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Nhã Lãng A
(愛新覺羅 雅朗阿)
Thụy hiệu
Đa La Khắc Cần Trang Quận vương
(多羅克勤莊郡王)
Hoàng tộcÁi Tân Giác La
Thân phụKhắc Cần Quận vương Nột Thanh Ngạch
Thân mẫuTrắc Phúc tấn Thư Mục Lộc thị
Sinh(1733-07-16)16 tháng 7, 1733
Mất2 tháng 1, 1795(1795-01-02) (61 tuổi)

Cuộc đờiSửa đổi

Nhã Lãng A sinh vào giờ Mẹo, ngày 6 tháng 6 (âm lịch) năm Ung Chính thứ 11 (1733), trong gia tộc Ái Tân Giác La. Ông là con trai thứ mười của Khắc Cần Quận vương Nột Thanh Ngạch (訥清額), mẹ ông là Trắc Phúc tấn Thư Mục Lộc thị (舒穆祿氏).

Năm Càn Long thứ 16 (1751), tháng 10, ấm phong Tam đẳng Thị vệ. Đến năm thứ 25 (1760), tháng 2, bị hàng vị Tứ đẳng Thị vệ.

Năm thứ 26 (1761), tháng 7, ông thụ chức Phó Đô thống Mông Cổ Tương Hồng kỳ. Tháng 9 cùng năm, nhậm chức Ô Lý Nhã Tô Đài Tham tán đại thần (乌里雅苏台叅赞大臣).

Năm thứ 27 (1762), tháng 8, điều làm Phó Đô thống Mãn Châu Tương Hồng kỳ. 1 năm sau (1763), lại điều làm Khoa Bố Đa Tham tán đại thần (科布多參贊大臣).

Năm thứ 31 (1766), tháng 12, nhậm chức Phó Đô thống Thành Đô. 1 năm sau (1787), tháng 4, thụ Kinh châu Tướng quân (荆州将军).

Năm thứ 35 (1770), tháng 11, duyên sự bị hàng ba cấp, điều dụng. Cùng tháng, ban thưởng phẩm cấp Phó Đô thống, điều đến Khố Nhĩ Khách Lạt Ô Tô (库尔喀喇乌苏) làm việc.

Năm thứ 39 (1774), tháng 12, được điều làm Phó Đô thống Thịnh Kinh. 1 năm sau (1775) lại điều làm Phó Đô thống Hắc Long Giang.

Năm thứ 41 (1776), ông được phong làm Tuy Viễn thành Tướng quân.

Năm thứ 44 (1779), Khắc Cần Lương Quận vương Khánh Hằng qua đời, ông được thế tập tước vị Khắc Cần Quận vương (克勤郡王) đời thứ 10.

Năm thứ 45 (1780), tháng 9, quản lý Tương Lam kỳ Giác La học. Cùng tháng, nhậm chức Tông nhân phủ Hữu Tông chính (宗人府右宗正).

Năm thứ 47 (1782), quản lý sự vụ Đô thống Hán quân Chính Bạch kỳ. 1 năm sau (1783), tháng 4, điều làm Đô thống Mãn Châu Tương Hồng kỳ. Tháng 7, quản lý sự vụ Đô thống Mãn Châu Chính Hoàng kỳ.

Năm thứ 51 (1786), tháng 11, nhậm Ngọc Điệp quán Tổng tài (玉牒館總裁).

Năm thứ 59 (1794), tháng 12, ông qua đời, thọ 62 tuổi, được truy thụy Khắc Cần Trang Quận vương (克勤莊郡王).

Gia quyếnSửa đổi

Thê thiếpSửa đổi

Đích Phúc tấnSửa đổi

  • Qua Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏), con gái của Tá lĩnh Vĩnh Thanh (永清).

Trắc Phúc tấnSửa đổi

  • Trương Giai thị (張佳氏), con gái của Cát Nhĩ Mã (噶尔玛).

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Hằng Địch (恆廸, 1749 - 1751), mẹ là Đích Phúc tấn Qua Nhĩ Giai thị. Chết yểu.
  2. Hằng Nguyên (恆元, 1750 - 1789), mẹ là Đích Phúc tấn Qua Nhĩ Giai thị. Được phong làm Tam đẳng Thị vệ (1781). Năm 1799 được truy phong làm Khắc Cần Quận vương. Có ba con trai.
  3. Hằng Cẩn (恆謹; 1761 - 1803), mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị. Năm 1795 được thế tập tước vị Khắc Cần Quận vương. Năm 1799 bị đoạt tước. Sau được phong Bất nhập Bát phân Phụ quốc công (1802). Có hai con trai.
  4. Hằng Tiết (恆節, 1771 - 1820), mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị. Được phong làm Tam đẳng Trấn quốc Tướng quân (三等鎮國將軍). Có hai con trai.

Tham khảoSửa đổi