Nhạc vàng là tên gọi chung của dòng nhạc bình dân hình thành từ cuối thập niên 1950 ở miền Nam Việt Nam sử dụng nhiều giai điệu khác nhau như bolero, tango, moderator, slow, dân ca cải biên... Đây là dòng nhạc tiếp nối của dòng nhạc tiền chiến.

Khái niệm nhạc vàng thường xoay quanh giữa vấn đề phân biệt giai điệu, tiết tấu, lối hát, nội dung sáng tác, tư tưởng chính trị.

Tên gọi

"Nhạc Vàng" là một khái niệm được sử dụng theo sự phân loại chính thức của nhạc sĩ Trần Hoàn khi còn là Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Người đề xuất sự phân loại này là nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Theo đó, âm nhạc được phân loại theo "màu sắc", màu vàng tượng trưng cho sự vàng úa, hoàng hôn, khô héo, ru ngủ với hàm ý tiêu cực cho các bài hát trữ tình buồn. Màu đỏ (nhạc đỏ, hồng ca) được ghép cho nhạc cách mạng, nhạc chiến tranh quân sự và nhạc đoàn đội, hùng ca, tỉnh ca, nhạc phong trào Thanh niên xung phong, những bài hát có màu sắc chính trị cách mạng. Màu đỏ với hàm ý tích cực, tượng trưng cho sự tươi sáng và lòng nhiệt huyết tuổi trẻ hăng hái góp sức, xây dựng, cống hiến sức lực và tuổi thanh xuân cho quốc gia dân tộc và cộng đồng xã hội.

Cách phân loại này bắt chước từ Trung Quốc, vì trong Hán ngữ nhạc màu vàng (黃色音樂, Hán Việt: hoàng sắc âm nhạc) được hiểu là nhạc tình thời thượng của thập niên 1930, dòng nhạc này phổ biến ở Thượng Hải. "Nhạc màu vàng" theo đó bị coi "là thứ âm nhạc lãng mạn bi quan, hoặc khêu gợi tình dục và những khát vọng thấp kém của xác thịt". Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Trung Quốc cũng có hai màu nhạc chính là hồng ca (nhạc đỏ, nhạc cổ vũ quân sự chính trị) và hoàng ca (nhạc vàng, nhạc trữ tình thời thượng được cho là có xuất xứ từ Thượng Hải thời kỳ quân phiệt), nhạc vàng Trung Quốc bị coi là dòng nhạc phản động, khêu gợi luyến ái và có tính chất "ô uế" văn hóa, có hại cho sự nghiệp xây dựng đất nước và phát triển văn hóa lành mạnh.

Còn ở miền Nam Việt Nam và sau này ở hải ngoại, khái niệm nhạc vàng thường được hiểu là chất liệu (golden) chứ không phải màu sắc (yellow). Ví dụ, Trung tâm Asia từng thực hiện chương trình Tình khúc sau cuộc chiến - 30 Years of Golden Hits. Nhà nghiên cứu nước ngoài khi viết sách cũng gọi là Golden Music.[1]

Sau năm 1975, một số người làm âm nhạc ở miển Bắc có lúc gọi nhạc vàng là nhạc sến với ý châm biếm.[2]

Nguồn gốc

Buổi ban đầu, nền tảng phát triển của nhạc vàng là sự tiếp nối của phong cách tân nhạc được khai phá từ những thập kỷ 1930–1940 (còn gọi là nhạc cải cách) rồi pha trộn với những yếu tố dân ca trữ tình truyền thống của Nam Bộ mà tạo nên nét đặc trưng của dòng nhạc này. Giống như hầu hết các dòng tân nhạc khác của Việt Nam hình thành từ trước năm 1975, sự phát triển của nhạc vàng bị chi phối rất mạnh bởi hoàn cảnh lịch sử - chính trị của nó, đặc biệt là sự chia cắt đất nước bởi Chiến tranh Việt Nam. Nhạc vàng được xem là một trong những di sản văn hóa của thời Pháp thuộc, Quốc gia Việt NamViệt Nam Cộng Hòa với nhiều ca khúc từ 1930 đến 1975 và hải ngoại sau này.

Đặc điểm

Đặc trưng của các sáng tác nhạc vàng là lời ca trữ tình bình dân được viết trên những giai điệu chậm buồn đều đều (bolero, rumba, ballade...), âm hưởng dân ca, hát bằng giọng thứ quãng âm trung hoặc trầm.[3] Đôi khi nhạc vàng còn được dùng chỉ các bài thời tiền chiến hay "tình khúc 1954–1975" chậm buồn nhưng giai điệu khác với nhạc vàng, hay một số bài đậm chất dân gian nhưng không mang đặc trưng của nhạc vàng theo nghĩa phổ thông (nhiều bài đậm chất dân gian theo điệu chachacha). Đặc trưng của dòng nhạc vàng là lời ca giản dị, câu nhạc dễ nghe, chất chứa nỗi niềm của một bộ phận trong xã hội, chủ yếu là những người nghèo, bình dân. Dòng nhạc vàng có thể xem là chính thức định hình và đạt tới giai đoạn hoàng kim của nó trên phần đất Nam Việt Nam trong giai đoạn 1955–1975.

Điệu Bolero được sử dụng phổ biến nhất trong các bài nhạc vàng, vì vậy nhạc vàng thường được gắn liền với nhạc bolero. Tuy nhiên không phải bài nhạc vàng nào cũng viết theo giai điệu bolero và bolero chỉ là một phần thuộc nhạc vàng.

Giai đoạn trước năm 1975

Ở phía Nam vĩ tuyến 17

Tại miền Nam, nhạc vàng phát triển thành nhiều phong cách, từ nhạc tình tự quê hương với biến thể từ dân ca Nam Bộ, nhạc lính, bolero kể chuyện, "kích động nhạc",... Bài hát điệu Rumba đầu tiên là Trăng sơn cước của Văn Phụng và Văn Khôi viết năm 1949, còn bài hát điệu bolero đầu tiên là Nắng chiều của Lê Trọng Nguyễn năm 1952.

Nhiều sáng tác của các nhạc sĩ nổi tiếng được xem là có đóng góp cho Tân nhạc Việt Nam nhiều ca khúc có giá trị như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Cung Tiến,... thời kỳ này cũng được xem là nhạc vàng, căn cứ cụ thể vào từng bài hát của họ. So với thời kỳ thập niên 1950 về trước, sáng tác của Phạm Duy có những chuyển biến rất đa dạng, nhiều đề tài, thái độ từ tâm linh, tôn giáo, xã hội và một số mang màu sắc thị trường như dòng nhạc trẻ, nhạc vỉa hè. Trịnh Công Sơn thì ảnh hưởng nhiều bởi chủ nghĩa hiện sinh, thái độ lạc lõng bơ vơ, "nổi loạn tinh thần" và mang màu sắc vô thần (tư tưởng này có một số nét trùng lặp giống chủ nghĩa cộng sản về lý thuyết).

Những hãng phát hành băng và đĩa nhạc cũng cho ra nhiều sản phẩm với danh hiệu "nhạc vàng" như hãng Hương Giang, hãng Dạ Lan của nhạc sĩ Anh Bằng, và hãng Shotguns[4] của Ngọc Chánh. Nhạc vàng sau đó được hiểu là thể loại nhạc tình êm dịu có tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi hoặc có nỗi lòng riêng tư của lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Ở phía Bắc vĩ tuyến 17

Phong trào bài trừ "nhạc màu vàng" ở Trung Quốc thời Mao Trạch Đông lan sang miền Bắc Việt Nam. Nhà nước chống nhạc "ủy mị" vì thiếu tinh thần đấu tranh cách mạng.[5] Cả nhạc vàng lẫn dòng nhạc tiền chiến thịnh hành trước năm 1954 cũng không được hát. Đối lập với nhạc vàng bị cấm đoán là nhạc đỏ, tức dòng nhạc nêu cao tinh thần cách mạng, mục tiêu đấu tranh giai cấp và cổ vũ những người Cộng sản chiến đấu.

Giai đoạn sau năm 1975

Trong nước

Sau năm 1975, cũng như số phận các loại hình văn hóa khác ở miền Nam, dòng nhạc này bị gán nhãn chính trị là "nhạc phản động" hoặc "đồi trụy", "ru ngủ", không thể hiện được con người xã hội chủ nghĩa lý tưởng như tinh thần cộng đồng, yêu lao động, có chí khí vươn lên, mà lại thể hiện tư tưởng an phận, than thở, thích nhận ân huệ. Kết quả là nhiều tác phẩm trong đó có băng cassette, đĩa nhạc cùng những bài vở ghi chép nhạc vàng bị tiêu hủy. Nhiều nhạc sĩ bỏ ra nước ngoài (nhất là các nhạc sĩ Thiên Chúa giáo), trong khi phần đông nhạc sĩ vô thần hay theo đạo Phật vẫn ở lại và có sáng tác mới. Dù vậy, nhạc vàng vẫn được nhiều người ưa thích cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Có những người trong nước vẫn cố gắng tìm nghe bất chấp hình phạt của luật pháp.[6][7]

Mãi đến khi bắt đầu thời kỳ Đổi mới thì các loại nhạc vàng mới dần dà được chính quyền xem xét lại và cho phổ biến một cách hạn chế tuỳ theo tác giả và tác phẩm. Năm 1986, lần đầu tiên chính quyền cho ra danh mục 36 tác phẩm âm nhạc của Miền Nam trước kia nay được phép công khai trình diễn. Dù vậy, ca sĩ Thanh Lan cho đến cuối thập niên 1980 vẫn phải lén lút thu thanh, thực hiện từ nửa đêm đến rạng sáng thì nghỉ để tránh bị công an phát giác.[8] Danh sách nhạc sang thập niên 1990 thì bỏ, thay vào đó Bộ Văn hóa đề nghị cổ xúy nhạc xanh, tức nhạc trẻ của thời đại Đổi Mới nhưng không thành công.[9] Số người nghe nhạc vàng ngày càng đông, không chỉ ở phía nam vĩ tuyến 17 và hải ngoại mà cả ở miền Bắc, thậm chí theo chân người Việt đi lao động ở Liên XôĐông Âu vào thập niên 1980. Chính quyền tỏ ra bất lực trước phong trào nhạc vàng sống lại.[10]

Sang đầu thế kỷ 21, những nhà kinh doanh và tổ chức ca nhạc trong nước đã tổ chức nhiều buổi trình diễn nhạc vàng, đưa ca sĩ từ hải ngoại về hát vì dễ kiếm lời. Vào tháng 8 năm 2010 hai ca sĩ mà tên tuổi gắn liền với "nhạc sến", Hương LanTuấn Vũ đã trình diễn những bản nhạc vàng ở Nhà hát Lớn Hà Nội trong nửa tháng với giá vé tại những chỗ tốt nhất lên đến 1.700.000 đồng Việt Nam mà vé vẫn bán hết. Nhạc vàng từ chỗ bị cấm đoán sau năm 1975 để rồi đến năm 2010 đã trình diễn ở giữa thủ đô Hà Nội.[3]

Hải ngoại

Đối với người Việt hải ngoại thì nhạc vàng là một dòng nhạc chủ đạo trong thị hiếu người nghe nhạc và cùng với tình khúc 1954-1975 trở thành dòng nhạc chủ đạo của tân nhạc hải ngoại, tuy nhiên ranh giới giữa hai dòng nhạc này không còn rõ rệt như thời kỳ trước năm 1975.

Đến đầu thế kỷ 21, nhạc vàng bắt đầu thoái trào ở hải ngoại. Những khán giả gốc Việt thích nghe nhạc vàng đã lớn tuổi và dần qua đời, trong khi lớp trẻ gốc Việt sinh ra ở Âu - Mỹ thì đã chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa, âm nhạc bản xứ nên chỉ thích nghe nhạc Âu - Mỹ, ít quan tâm đến các dòng nhạc tiếng Việt. Vì vậy, thị trường văn nghệ hải ngoại ngày càng thu hẹp, các trung tâm chuyên trình diễn nhạc vàng ở hải ngoại phải thu hẹp dần hoạt động. Từ năm 2007, nhiều nghệ sĩ chuyên hát nhạc vàng ở hải ngoại bắt đầu từ hải ngoại trở về Việt Nam để tìm kiếm cơ hội phát triển sự nghiệp.[11]

Nghệ sĩ nổi bật

Nhạc sĩ: Anh Bằng, Bắc Sơn, Bằng Giang, Châu Kỳ, Đài Phương Trang, Giao Tiên, Hàn Châu, Hoài An, Hoài Linh, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Lê Dinh, Lê Minh Bằng (nhóm), Minh Kỳ, Nhật Ngân, Song Ngọc, Tâm Anh, Thanh Sơn, Trầm Tử Thiêng, Trần Thiện Thanh, Trịnh Lâm Ngân (nhóm), Trúc Phương, Tú Nhi, Vinh Sử, Y Vân

Ca sĩ: Thanh Tuyền, Anh Khoa, Băng Châu, Băng Tâm, Bảo Yến, Cẩm Ly, Chế Linh, Duy Khánh, Duy Trường, Đàm Vĩnh Hưng, Đan Nguyên, Đặng Thế Luân, Giang Tử, Giao Linh, Hạ Vy, Hoàng Oanh, Hùng Cường, Hương Lan, Hương Thủy, Kim Anh, Lâm Nhật Tiến, Lệ Quyên, Lưu Hồng, Mai Thiên Vân, Mạnh Đình, Mạnh Quỳnh, Mỹ Huyền, Ngọc Huyền, Ngọc Sơn, Nhật Trường, Như Quỳnh, Phi Nhung, Phương Dung, Phương Hồng Quế, Phượng Mai, Quang Lê, Quốc Khanh, Sơn Ca, Sơn Tuyền, Tâm Đoan, Thái Châu, Thanh Thúy, , Trung Chỉnh, Trường Vũ, Tuấn Vũ, Tường Nguyên, Y Phụng

Đánh giá

Xem thêm

Các dòng nhạc tương tự:

Tham khảo

  1. ^ Olsen Popular Music of Vietnam 5 Sep 2010 – Popular Music of Vietnam: The Politics of Remembering, the Economics of Forgetting by Dale A.Olsen Routledge, New York, London, 2008
  2. ^ Nguyễn Quang Long, Nên gạt bỏ ý miệt thị nhạc “sến” (Báo điện tử VietNamNet, 14/09/2013)
  3. ^ a ă Trần Củng Sơn. Một thoáng 26 năm. San Jose, CA: Hương Quê, 2011. Trang 474-7.
  4. ^ “Ho^`n Que^”. 
  5. ^ Jason Gibbs (Nguyễn Trương Quý dịch), Nhạc vàng “hoá vàng” (Talawas, 23.6.2005)
  6. ^ Sài Gòn, Lệ Thu
  7. ^ Taylor, Philip. tr 150-153.
  8. ^ Kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng. tr 258
  9. ^ Taylor, Philip. tr 150-154.
  10. ^ Taylor, Philip. tr 53-55.
  11. ^ Hà Ngân, Vì sao nghệ sĩ hải ngoại ùn ùn về Việt Nam (Báo Thanh Niên, 05/10/2015)
  12. ^ Ca sĩ Thanh Lam trả lời trên báo Trí Thức Trẻ, ngày 21/10/2017
  13. ^ Tranh luận về Bolero: Thụt lùi hay phát triển? (Báo Công an nhân dân điện tử, 28/08/2017)