Nhạc vàng ở Việt Nam có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là dòng nhạc trữ tình lãng mãn từ thời tiền chiến, sau phát triển ở miền nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 và ở hải ngoại sau này cũng như trong nước sau Đổi mới chịu ảnh hưởng nhạc miền Nam Việt Nam trước 1975. Nghĩa thứ hai, phổ biến hơn, hay được gọi với một số tên khác là nhạc mùi, nhạc sến, nhạc bolero, nhạc quê hương là tên gọi chung của dòng nhạc bình dân hình thành từ cuối thập niên 1950 ở miền Nam Việt Nam, sử dụng nhiều giai điệu khác nhau như bolero, rumba, tango, ballade, slow, chachacha ... Đây là dòng nhạc tiếp nối của dòng nhạc tiền chiến trên một số khía cạnh. Khái niệm nhạc vàng này phân biệt với các dòng khác thường xoay quanh giữa vấn đề giai điệu, tiết tấu, lối hát, hòa âm, nội dung sáng tác, tư tưởng bao gồm cả chính trị, có khi không rành mạch.

Tên gọi

Từ nhạc vàng du nhập từ Trung Quốc khởi đầu Tân nhạc Việt Nam. Cách phân loại này bắt chước từ Trung Quốc, vì trong Hán ngữ nhạc màu vàng (黃色音樂, Hán Việt: hoàng sắc âm nhạc) được hiểu là nhạc tình thời thượng của thập niên 1930, dòng nhạc này phổ biến ở Thượng Hải. "Nhạc màu vàng" theo đó bị coi "là thứ âm nhạc lãng mạn bi quan, hoặc khêu gợi tình dục và những khát vọng thấp kém của xác thịt". Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Trung Quốc cũng có hai màu nhạc chính là hồng ca (nhạc đỏ, nhạc cổ vũ quân sự chính trị) và hoàng ca (nhạc vàng, nhạc trữ tình thời thượng được cho là có xuất xứ từ Thượng Hải thời kỳ quân phiệt), nhạc vàng Trung Quốc bị coi là dòng nhạc phản động, khêu gợi luyến ái và có tính chất "ô uế" văn hóa, có hại cho sự nghiệp xây dựng đất nước và phát triển văn hóa lành mạnh.

Nhạc vàng có nhiều nghĩa, từ nghĩa màu vàng mà ra. Nghĩa xấu màu vàng chỉ sự ủy mị, bạc nhược, chậm tiến, chết chóc, nhưng nghĩa tốt là chỉ quý như vàng, đắt như vàng, đẹp như vàng, sáng như vàng hay nghĩa khác biểu tượng vương triều quân chủ, tức sự sang trọng. Tuy nhiên trong thời kỳ thịnh hành trước 1975 các nhà chuyên môn cũng ít khi đề cập đến từ này, và ngay các trung tâm băng nhạc thời chế độ cũ hay ở hải ngoại cũng hiếm khi đề cập đến. Từ nhạc vàng chỉ phổ biến trong dân chúng.[1]

Theo Jason Gibbs :"Khi tôi mới đến Việt Nam trong những năm 1990 nhiều người nói đến nhạc vàng, nhưng người ta rất ít (gần như không) nói về nhạc sến. Ở miền Bắc “nhạc vàng” là thuật ngữ để nói về tất cả các loại nhạc được phổ biến ở miền Nam (và ở các thành thị miền Bắc dưới thời chính quyền Pháp và Bảo Đại trước 1954). Sau năm 1975 nhạc vàng vẫn là tên gọi của các loại nhạc bị cấm từ trước, rồi các loại nhạc sản xuất ở hải ngoại. Thực ra nhạc vàng là nhạc thị trường theo góc nhìn của một xã hội bao cấp". Ông cũng nêu quan điểm nhạc sến "Tôi được nghe đến tên gọi “nhạc sến” lần đầu tiên năm 1995 lúc xếp hàng trước khi vào thính phòng nghe một chương trình nhạc truyền thống Việt Nam ở San Francisco"[2] . Quan điểm khác: Nhạc vàng là khái niệm người miền Bắc gọi các ca khúc của miền Nam trước 1975, nhạc vàng người ta lại chia ra vài loại như nhạc lính, nhạc quê hương và nhạc sến. Có quan niệm cho cần phân biệt nhạc quê hương với nhạc sến[3]. Theo nhạc sĩ Tuấn Khanh "Bolero sau nửa thế kỷ, mới tạm định hình với cái tên hiện nay. Trước đó, mỗi khúc quanh của thời cuộc lại đặt để cho hàng chục ngàn bài tình ca đô thị miền Nam này mỗi cái tên khác như nhạc sến, nhạc mùi, nhạc bình dân... và rồi là nhạc vàng."[4] Theo Phạm Duy thì" "Có sự thành công của những bài hát thông thường và chỉ được coi là nhạc thương phẩm - mệnh danh là nhạc vàng - với những tình cảm dễ dãi phù hợp với tuổi choai choai, với em gái hậu phương và lính đa tình, tuy không được coi trọng nhưng lại rất cần thiết cho vài tầng lớp xã hội trong thời chiến"[5].

Theo báo chí Việt Nam "Nhạc vàng để chỉ các ca khúc trữ tình lãng mạn thời tiền chiến và trong vùng do chế độ Sài Gòn kiểm soát. Các ca khúc này có thể được xem là thuộc dòng nhạc nhẹ, với các thể điệu phổ biến như bolero, rumba, slow, tango, chachacha, boston,..., với đặc trưng là dễ hát, dễ đi vào quần chúng bình dân. Nhạc cổ điển không phát triển trong chế độ cũ, mặc dù có Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn và Trường Quốc gia Âm nhạc Huế, nhưng giáo trình nghèo nàn... Các nhạc sĩ có năng lực sáng tác nhạc cổ điển như Nghiêm Phú Phi thì "thất nghiệp" phải đi làm hòa âm, còn Hoàng Thi Thơ thì sáng tác nhạc đại chúng, nhạc giải trí vì nó dễ kiếm tiền. Thiếu vắng "nhạc hùng", nhạc cổ điển "mới" có thể chơi với dàn nhạc giao hưởng, họ hay "mượn tạm" các ca khúc thời kháng Pháp, sửa lời, và một số sáng tác thời Pháp chiếm như Hòn vọng phu (Lê Thương), Hội trùng dương (Phạm Đình Chương), giai điệu khá đơn giản nhưng có tính dân tộc có giá trị đáng kể về mặt nghệ thuật... Một nền âm nhạc phân chia giai cấp và ảnh hưởng của thị trường khiến cho sự phân loại không dễ dàng... Nhưng phổ biến hơn cả, là hai dòng "nhạc sang" và "nhạc sến" đều là những khái niệm ra đời ngay trong lòng của thị trường âm nhạc thời đó. Dù là sang hay sến, dù là Văn Phụng, Ngô Thụy Miên, Lam Phương, hay Vinh Sử, thì đều là nhạc nhẹ với cái tên chung là nhạc thời trang (tức là nhạc thị trường bây giờ). Do tác động của kinh tế thị trường, ít tác phẩm có chiều sâu về nghệ thuật, nên năm 1970 một số văn nhạc sĩ như Nguyễn Đình Toàn, Ngọc Chánh, Hoàng Trọng, Hoàng Nguyên, Phạm Mạnh Cương,... đã giới thiệu nhiều tác phẩm có giá trị hơn của "thời tiền chiến" và đặt cho nó cái tên là nhạc tiền chiến, với những bài cả dòng nhạc nhẹ lẫn nhạc cổ điển và bán cổ điển. Cái tên này chỉ là để phân biệt với nhạc thời trang hay "nhạc thương phẩm" theo Phạm Duy lúc đó...Để chiều theo thị hiếu, khác với miền Bắc lúc đó đề cao nhạc cổ điển và dân ca, hát theo lối Bel canto, trừ một số rất ít thế hệ cũ như Thái Thanh, Kim Tước, thì hầu hết các ca sĩ miền Nam hát theo lối hát truyền thống, giọng trầm tròn vành rõ chữ. Đối với dòng "nhạc vàng" phổ biến nhất lúc đó, thì bên cạnh phối theo nhạc nhẹ, hát bằng giọng Bắc, dù không hay ít ảnh hưởng dân ca, còn có thể chơi với dàn nhạc dân gian (dù trên thực tế là hiếm trước 1975) và hát giọng Nam với một số ít các bài hát ảnh hưởng sâu sắc dân ca Nam Bộ. Lối hát "giọng mũi" là đặc trưng của nhạc điệu bolero, và phù hợp "giọng bẹt" của người miền Nam, mà làm cho nó càng trở nên mùi mẫn... Trong số các nhạc sĩ thời đó, nổi bật nhất là Trịnh Công Sơn, dù chỉ là những bản ballad nhẹ nhàng chịu ảnh hưởng nhạc phương Tây "đương đại", giai điệu đơn giản, không cầu kỳ, tiết tấu nhịp nhàng "dễ chịu", nhưng hồn thơ thì thấm đẫm..."[6]

Sau năm 1975, một số người làm âm nhạc ở miển Bắc có lúc gọi nhạc vàng là nhạc sến (nghĩa là "sến súa") với ý châm biếm.[7] Trong văn nói ngày nay, nhạc vàng còn được gọi là nhạc mùi (nghĩa là "nhạc mùi mẫn").

Giữa thập niên 90 khi nhà nước cho phép nhiều dòng nhạc thì phổ biến trong dân chúng các tên gọi dân dã nhạc vàng, nhạc đỏ, nhạc xanh. Nhà nước cũng dần chấp nhận những tên gọi đó, nhưng giới chuyên môn thường xuyên không sử dụng. "Nhạc Vàng" là một khái niệm được sử dụng theo sự phân loại chính thức của nhạc sĩ Trần Hoàn khi còn là Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam. Người đề xuất sự phân loại này là nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Theo đó, âm nhạc được phân loại theo "màu sắc", màu vàng tượng trưng cho sự vàng úa, hoàng hôn, khô héo, ru ngủ với hàm ý tiêu cực cho các bài hát trữ tình buồn. Màu đỏ (nhạc đỏ, hồng ca) được ghép cho nhạc cách mạng, nhạc chiến tranh quân sự và nhạc đoàn đội, hùng ca, tỉnh ca, nhạc phong trào Thanh niên xung phong, những bài hát có màu sắc chính trị cách mạng. Màu đỏ với hàm ý tích cực, tượng trưng cho sự tươi sáng và lòng nhiệt huyết tuổi trẻ hăng hái góp sức, xây dựng, cống hiến sức lực và tuổi thanh xuân cho quốc gia dân tộc và cộng đồng xã hội.

Tóm lại nhạc vàng theo cách hiểu phổ biến hiện nay là nhạc bình dân hình thành khoảng cuối thập niên 1950 ở miền Nam Việt Nam, cùng thời gian đó còn có tên gọi khác là nhạc sến (hoặc nhạc sến là một khái niệm hẹp hơn hay rộng hơn tùy theo quan điểm). Ngoài ra còn có các tên khác như nhạc trữ tình, nhạc quê hương (có thể bị trùng lẫn với các dòng khác), nhạc mùi, hay gần đây hơn là nhạc bolero cho dù không phải bài nào cũng theo điệu bolero hay hát theo điệu bolero.

Nguồn gốc

Buổi ban đầu, nền tảng phát triển của nhạc vàng là sự tiếp nối của phong cách tân nhạc được khai phá từ những thập kỷ 1930–1940 (còn gọi là nhạc cải cách) rồi pha trộn với những yếu tố dân ca trữ tình truyền thống của Nam Bộ mà tạo nên nét đặc trưng của dòng nhạc này. Giống như hầu hết các dòng tân nhạc khác của Việt Nam hình thành từ trước năm 1975, sự phát triển của nhạc vàng bị chi phối rất mạnh bởi hoàn cảnh lịch sử - chính trị của nó, đặc biệt là sự chia cắt đất nước bởi Chiến tranh Việt Nam. Nhạc vàng được xem là một trong những di sản văn hóa của thời Pháp thuộc, Quốc gia Việt NamViệt Nam Cộng Hòa với nhiều ca khúc từ 1930 đến 1975 và hải ngoại sau này.

Đặc điểm

Đặc trưng của các sáng tác nhạc vàng là lời ca trữ tình bình dân được viết trên những giai điệu chậm buồn đều đều (bolero, rumba, ballade...), âm hưởng dân ca, hát bằng giọng thứ quãng âm trung hoặc trầm.[8] Đôi khi nhạc vàng còn được dùng chỉ các bài thời tiền chiến hay "tình khúc 1954–1975" chậm buồn nhưng giai điệu khác với nhạc vàng, hay một số bài đậm chất dân gian nhưng không mang đặc trưng của nhạc vàng theo nghĩa phổ thông (nhiều bài đậm chất dân gian theo điệu chachacha). Đặc trưng của dòng nhạc vàng là lời ca giản dị, câu nhạc dễ nghe, chất chứa nỗi niềm của một bộ phận trong xã hội, chủ yếu là những người nghèo, bình dân. Dòng nhạc vàng có thể xem là chính thức định hình và đạt tới giai đoạn hoàng kim của nó trên phần đất Nam Việt Nam trong giai đoạn 1955–1975.

Điệu Bolero được sử dụng phổ biến nhất trong các bài nhạc vàng, vì vậy nhạc vàng thường được gắn liền với nhạc bolero. Tuy nhiên không phải bài nhạc vàng nào cũng viết theo giai điệu bolero và bolero chỉ là một phần thuộc nhạc vàng. Một số nhạc sĩ các dòng khác cũng có thể sử dụng bolero để sáng tác.

Trong quang phổ Tân nhạc Việt Nam, nếu xét dưới góc độ phân biệt nhạc cổ điển và nhạc nhẹ / trữ tình / đương đại , thì nhạc vàng xếp vào nhạc nhẹ, nhưng rất nhiều bài ảnh hưởng dân ca ở mức độ khác nhau, do đó thường hát với một dàn nhạc nhẹ, đôi khi có các nhạc cụ dân tộc. Về cấu trúc thường A-B-A, theo cấu trúc phổ biến âm nhạc đại chúng thế giới khi đó, nhịp điệu tiết tấu ít biến đổi thường 4/4. Chủ đề các bài hát thường là mô tả tâm trạng cá nhân, kể chuyện, xoay quanh nghèo, thất tình, quê hương hay người lính... Hát thường giọng ngực, ít note cao, nặng tự sự giãi bày nên coi trọng tròn chữ, ngọt ngào phù hợp tâm lý đối tượng hay nghe dòng này.

Khi nhạc phương Tây du nhập vào Việt Nam, thì bao gồm cả nhạc cổ điển và nhạc đại chúng, về sau hay có cái tên là nhạc nhẹ, nhạc đương đại...Từ đó có ba dòng phát triển song hành là nhạc thính phòng, dân gian và nhạc nhẹ. Nhạc cổ điển còn gọi là nhạc nghệ thuật, có đặc trưng cấu trúc phức tạp, nhiều quãng cao rộng... chơi với dàn nhạc giao hưởng / thính phòng. Còn nhạc đại chúng (bình dân) là dòng nhạc xuất hiện muộn hơn, và theo tiêu chuẩn nghệ thuật khắt khe thời đó, thì gọi là nhạc thương mại, nhạc thị trường thường chơi dàn nhạc nhẹ, hay phong cách mộc acoustic hay nhạc cụ điện tử. Về sau các quan điểm cởi mở hơn, thì nhạc nhẹ có thể là nghệ thuật, cũng có thể là thị trường. Nhạc vàng của Trung Quốc phát triển mạnh nhất ở Thượng Hải và sau này là Hồng Kông đặt nền móng cho C Pop, ban đầu có đặc trưng là pha tạp chất nhạc jazz (rất thịnh hành trên thế giới lúc đó) với nhạc dân gian ngũ cung của Trung Quốc, thường biểu diễn ở các phòng trà, vũ trường, hộp đêm. Việt Nam thuộc địa của Pháp nên ảnh hưởng nhiều hơn nhạc trữ tình Pháp (và sau này cả Nhật), nhưng chữ nhạc vàng được du nhập từ Trung Quốc. (Trên thực tế nhạc vàng đó - C Pop chỉ ảnh hưởng mạnh ở Việt Nam từ giữa thập niên 1990). Khi đó Đảng cộng sản Trung Quốc phát động chống Quốc dân Đảng, chống Nhật, trong văn hóa cũng chống luôn nhạc vàng mà họ cho là văn hóa tư sản mà họ cho là băng hoại đạo đức, ăn chơi hay còn màu sắc hoài niệm phong kiến. Phong trào này thực tế ảnh hưởng từ Stalin. Dưới thời Stalin, rất khắt khe với nhạc jazz và nhạc phương Tây nói chung. Ông thi hành chủ nghĩa biệt lập, bao gồm đẩy mạnh văn hóa dân tộc - dân gian. Nhạc cổ điển thì bài trừ nhạc màu sắc tôn giáo. Suốt thời kỳ Liên Xô, nhạc nhẹ nói chung thường xuyên bị cấm hoặc bị hạn chế, tuy nhiên thực tế thì nó vẫn tồn tại. Đến thập niên 1960 Liên Xô có chấp nhận nhạc pop (nhưng Việt Nam muộn hơn rất nhiều), và đầu thập niên 80 thì chấp nhận nhạc rock, mà trước đó họ cho là kích động bạo lực, có tính chất nổi loạn vô chính phủ. Do ảnh hưởng của Liên Xô, bài trừ kinh tế thị trường nên các nước XHCN nói chung đều có thời gian dài không chính thức thừa nhận nhạc nhẹ - nhạc đại chúng mà họ xem như nhạc thị trường. Chỉ có hai dòng được chính thức thừa nhận là nhạc cổ điển và nhạc dân gian. Với nhạc dân gian cũng rất khắt khe, như ở Việt Nam thì ca trù và hát văn bị cấm, nhã nhạc bị cấm... Nhạc vàng (hiểu theo nghĩa nhạc tiền chiến sau này), bị chỉ trích và chính thức bị cấm sau 1954 trước hết là do ảnh hưởng từ Liên Xô và Trung Quốc. Về tổng thể trước 1945 có những sáng tác chất cổ điển / bán cổ điển của các nhạc sĩ như Văn Cao, Lưu Hữu Phước hay Đỗ Nhuận. Nhưng phổ biến hơn cả là nhạc nhẹ. Một số bài ảnh hưởng của dân ca - dân gian (ví dụ Cô hàng nước, Cô hàng cà phê, Gái xuân, chất ngũ cung như Đặng Thái Phong, hay Văn Cao, ca trù như Văn Cao, Nguyễn Đình Phúc..). Thiên về dân ca trước 1954 chủ yếu dân ca Bắc, nhưng cũng có dân ca miền Trung, ví dụ sáng tác của Dương Thiệu Tước. Các bài chủ yếu theo điệu Valse, Tango, Slow, Rumba. Ví dụ Mơ hoa, Gái xuân là những bài Rumba rất gần gũi nhạc vàng hiểu theo nghĩa phổ biến sau này. Nhịp 4/4 hay 2/4 đều dễ hát. Cũng có những ca khúc sôi động hơn như Ngựa phi đường xa. Sau 1945 nhạc dân ca mới / nhạc mambo phát triển mạnh hơn, đặc biệt ở Phạm Duy. Nhiều bài của ông có chất dân ca Bắc Bộ kết hợp với nhạc cổ điển hay nhạc nhẹ. Hòn vọng phu chất dân ca Bắc với nhạc cổ điển. Trăng sáng vườn chè chất dân ca Bắc với nhạc nhẹ. Đến cuối thập niên 1940 nhạc yêu nước / cách mạng vẫn ảnh hưởng nhiều chất lãng mạn của Pháp. Sang đầu thập niên 1950 nhạc cách mạng của Liên Xô, Trung Quốc ảnh hưởng mạnh ở Việt Nam. Lúc này phổ biến lối hát Bel Canto, tôn vinh giọng cao và kỹ thuật thanh nhạc cổ điển, ảnh hưởng không chỉ vùng Việt Minh kiểm soát mà cả ở các vùng do Pháp kiểm soát. Một số nhạc sĩ có đi kháng chiến nhưng vẫn có những sáng tác ảnh hưởng của nhạc tiền chiến, chất nhạc nhẹ như Ngày về , Sơn nữ ca, Đường về Việt Bắc, Hướng về Hà Nội...

Từ đầu - giữa thập niên 50 thì điệu Bolero và Slow Rock bắt đầu ảnh hưởng mạnh ở Việt Nam. Các sáng tác Bolero đậm chất nhạc Pháp chưa có những tác phẩm nổi bật nào. Về Slow Rock thì Đoàn Chuẩn với Lá đổ muôn chiều, Hoàng Dương với Hướng về Hà Nội. Có một sự chuyển dịch đáng kể của thời tiền chiến sang thời mới, về sử dụng tiết điệu. Thời tiền chiến Valse, Slow thì giai đoạn sau là Boston, Slow Rock. Bên cạnh đó là Tango, Rumba, về sau Bolero (Rumba chậm), ngoài ra Chachacha, Habanera. Điệu Boston, đặc biệt Slow Rock, chậm buồn, thích hợp với các nhạc cụ điện tử, sáng tác nhạc thị trường. Nếu so với Slow, thì Slow Rock có tiết tấu mạnh mẽ hơn, buồn bã, dằng xé, đau đớn, nặng tính tự sự, ảnh hưởng của Rock. Như vậy từ Slow sang Slow Rock, là quá trình hiện đại hóa âm nhạc, có tính đương đại hơn, mặt khác thể hiện tính thị trường nhiều hơn, thiên về u sầu , than thở hơn là lãng mạn bay bổng. Hai điệu Slow Rock và Boston sử dụng nhiều nhất ở dòng sang giai đoạn sau 1954 ở miền Nam. Từ giữa thập niên 1950 phổ biến các ca khúc phổ thông, ballad có tính hài hòa cân đối, thường cấu trúc ABA (hay AABA), bài hát theo một niêm luật khá chặt chẽ, lời có nhiều vần (giống như Thơ mới giai đoạn trước 1945), phần điệp khúc ít có thay đổi, nói chung cả bài giai điệu đều đều, và dễ hát. Cấu trúc này ảnh hưởng của dòng trữ tình / ballad phổ biến trên thế giới khi đó. Các sáng tác nghiêng về dân ca phần nhiều Rumba. Các sáng tác có tính ballad thời gian này như Ngày trở về, Chuyến đò vĩ tuyến, Chiều mưa biên giới, Đò chiều..., sang thập niên 1960 thì điệu Bolero phổ biến hơn, thậm trí chiếm vị trí áp đảo. Bên cạnh đó miền Nam cũng có những sáng tác cổ điển như Thuyền viễn xứ. Các nhạc sĩ như Phạm Đình Chương hay Phạm Duy sau này cũng có những sáng tác nhạc nhẹ như Nửa hồn thương đau, hay Mùa thu chết. Phạm Duy có Huyền sử một người mang tên Quốc chất dân ca Nam. Ở miền Bắc lúc đó thì không thừa nhận chính thức nhạc nhẹ / nhạc vàng, chỉ phát triển nhạc dân gian và nhạc cổ điển, và rất khắt khe. Một mặt đánh giá cao nhạc cổ điển, nhưng mặt khác âm nhạc phải có tính chính trị rõ rệt, tuyên truyền, đi vào quần chúng nhất là công - nông, do đó nhạc đỏ (tên vào giữa thập niên 1990) thường là sự kết hợp chất nhạc cổ điển với chất bình dân đại chúng, đặc biệt là mặt lời (tuy nhiên không nhất thiết phải quá vần do ảnh hưởng thơ tự do). Phần lớn các bài nhạc đỏ không sử dụng lời hoa mĩ, mà nó gần gũi quần chúng lao động. Tuy nhiên sau này khi hướng các nhạc sĩ chế độ cũ sáng tác theo khuynh hướng cách mạng, thì nhà nước lại phê phán nhạc vàng ca từ bình dân, và chủ trương các sáng tác phải có tính hình tượng hơn. Sang thập niên 1960 nhạc đỏ thiên nhiều hơn về các ca khúc bình dân, có thể hát với các nhạc cụ đơn giản như guitar, accordion, kèn harmonica,..., giai điệu rất dễ hát, nhưng dòng này vẫn có những đặc trưng như quãng âm cao rộng, hát theo lối Bel Canto. Một dòng bình dân khác là nhạc hành quân điệu March rất hợp với lối hát tập thể, vừa nghiêm túc vừa dễ hát, mạnh mẽ, hợp với kèn đồng. Ở miền Nam, có sự du nhập nhạc Pop/ Rock (thường là từ Mỹ), và nhạc trẻ hình thành. Nhiều bài hát vui tươi như Xuân đã về, hay Sầu đông, Biết đến thủa nào, 60 năm cuộc đời, Lính dù lên điểm... Có các sáng tác hay được gọi là nhạc kích động có thể nhạc Tây hay nhạc nhẹ có chất dân ca kiểu Túp lều lý tưởng...Sau 1975 nhạc lãng mạn lẫn nhạc trẻ bị cấm, thường là cho là văn hóa tư sản, phục vụ ăn chơi, ru ngủ, thoát ly thực tế, hoài niệm, hay là có tính kích động nổi loạn, bạo lực, tình dục (cảm xúc hoài niệm thường là có cảm giác bó thắt lồng ngực, đau ở thượng vị...). Cuối những năm 1970 đầu những năm 1980 nhà nước dần chấp nhận nhạc nhẹ, nhưng các sáng tác phục vụ cho chính trị, lúc này có những nhạc sĩ trẻ hay vận dụng nhạc nhẹ, và gọi các ca khúc của họ là "ca khúc chính trị". Thực tế có nhiều bài theo điệu Slow Rock, hay Rumba- Bolero, hay là hát theo điệu Bolero, ví dụ Hương thầm, Bài ca không quên, Gọi nắng cho em, Biển hát chiều nay, Miền trung nhớ Bác... nghe trẻ trung hơn với các sáng tác giai đoạn trước. Bài Mùa xuân từ những giếng dầu chất Rock. Tuy nhiên nhạc chính thống vẫn ảnh hưởng nhiều của nhạc cổ điển, kể cả về sau này. Năm 1986 mới có Nhà hát nhạc nhẹ. Các sáng tác dân gian lúc này chủ yếu là dân gian đương đại, tức chất dân gian pha trộn nhạc trẻ (Pop - Rock - Blues/ Jazz - Hip Hop). Khi đó thịnh hành nhạc Dance/ Disco, nhiều sáng tác pha trộn chất Rock với dân ca (ví dụ Ngẫu hứng lý ngựa ô, Ngọn lửa cao nguyên...). Ngoài ra dòng nhạc quê hương, thường là dân ca pha trộn nhạc nhẹ và chất cổ điển, thường hát theo lối Bel Canto. Một số nhạc sĩ sáng tác gần khuynh hướng Bolero trước 75 như Trần Tiến, hay các bài mới của Thanh Sơn, Vũ Đức Sao Biển, các bài Mừng tuổi mẹ, Hoàng hôn màu tím...Các sáng tác nhạc sến mới của Ngọc Sơn, Vinh Sử (Mưa bụi,...). Thế hệ sau sáng tác thiên nhiều hơn về dân ca Nam Bộ, và có cấu trúc khác với nhạc trước 75, thường mạnh mẽ gân guốc hơn...Trong khi nhạc trẻ thiên về thử nghiệm mới mẻ, phá cách...

Một số khái niệm để phân biệt nhạc vàng:

Nhạc thính phòng, theo nghĩa đen là nhạc hát trong không gian kín hay nhỏ hẹp, dành cho một số đối tượng nghe, thường để chỉ nhạc kén người nghe, dành cho số ít những người am hiểu nghệ thuật. Nhưng ở Việt Nam nhạc thính phòng hay được hiểu bao gồm cả nhạc giao hưởng / opera là nhạc hoành tráng hát ở các nhà hát sang trọng, có thể nghe ở không gian rộng, và nhạc nhẹ hát theo phong cách thính phòng, từ đó có các khái niệm như thính phòng cổ điển (tức nhạc cổ điển), thính phòng giao thoa hay cổ điển giao thoa, bán cổ điển, thính phòng đương đại, cổ điển đương đại ( kết hợp chất cổ điển và nhạc nhẹ), dân gian thính phòng. Đối lập nhạc thính phòng là nhạc dân dã, có thể hát ngoài đường ngoài chợ, sân khấu ngoài trời, ngoài đồng ruộng, trong công xưởng hay chiến trường... Một phần nhạc tiền chiến, nhạc đỏ, nhạc sang và toàn bộ nhạc vàng theo cách hiểu thịnh hành thuộc dòng dân dã, chứ không phải thính phòng (nhạc trẻ cũng vậy). Đối lập với chữ cổ điển là "đương đại" .

Nhạc nhẹ, tức là nhạc đại chúng, hay nhạc đương đại, thường hát với một dàn nhạc nhẹ, hay những nhạc cụ đơn giản. Dòng này có chất hiện đại. Tuy nhiên chữ "đương đại" được hiểu trong mỗi thời đại khác nhau. Nhạc nhẹ thường chia làm hai dòng chính là dòng trữ tình, nhẹ nhàng hoặc u buồn, tức là dòng ballad, và dòng nhạc trẻ nghe trẻ trung sôi động như Pop - Rock - Jazz - Blues, nhạc Hiphop, Dance. (Ở Việt Nam nhạc trẻ hiện phổ biến nhất là dòng Pop Ballad, tức kết hợp chất hiện đại của Pop với chất buồn dịu của Ballad). Phần lớn nhạc tiền chiến là nhạc nhẹ, một phần nhạc đỏ (các sáng tác về sau), và gần như toàn bộ nhac sang - nhạc vàng (nhạc sến) trước 1975 thuộc dòng nhạc nhẹ, hầu hết là chất trữ tình / ballad. Nhạc vàng cũng có thể gọi là nhạc đương đại, tuy nhiên từ này hay được dùng ám chỉ nhiều hơn đến các sáng tác vào giai đoạn sau thống nhất đặc biệt nhạc trẻ bây giờ. (Thập niên 30 những bài sau gọi tiền chiến là đương đại, thập niên 60 là nhạc nhẹ miền Nam, thập niên 80 là nhạc Dương Thụ, Thanh Tùng, thập niên 2010 là nhạc Sơn Tùng M-TP gọi là "đương đại"- từ này vận dụng linh hoạt). Nhạc vàng cũng có thể gọi là dân gian đương đại trong hầu hết, nhưng dân gian đương đại hay được dùng ám chỉ chất dân gian, bao gồm cả dân ca, ca trù, hát văn, chèo, ca Huế... pha trộn chất nhạc trẻ, chứ không phải dòng ballad.

Nhạc dân gian, ngoài cổ nhạc, là nhạc mới sáng tác theo phong cách dân gian. Chất dân ca là chủ yếu (thường mang tính bình dân nhất), nhưng cũng có chất khác từ ca trù, hát văn đến vọng cổ, chèo... Có những sáng tác dân gian thính phòng như nhiều ca khúc Phạm Duy, hay nhạc đỏ, một số thuộc dòng quê hương sau này. Nhạc vàng trừ số ít nhạc nhẹ / nhạc Tây, thì đa số ảnh hưởng dân ca, đặc biệt dân ca Nam Bộ, là sự kết hợp của nhạc dân ca với nhạc nhẹ phương Tây. Khác với nhạc sang thường chất ballad phương Tây hát bằng giọng Bắc, thì nhạc vàng / sến có thể có một số nhạc nhẹ thuần túy (thường ở điệu Slow Rock, Tango) hát bằng giọng Bắc, thì đại đa số là chất nhạc nhẹ pha trộn dân ca, đặc biệt ở điệu Bolero, Rumba, Chachacha, có cả dân ca thượng du miền Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, dân ca Huế, Tây Nguyên, nhưng đại đa số là dân ca Nam Bộ. Trừ khi ảnh hưởng sâu của dân ca / dân gian vùng nào đó hát bằng giọng vùng đó, thì nguyên tắc của tân nhạc Việt Nam là thường hát bằng giọng Bắc. Về sau phát triển mạnh dòng dân gian đương đại pha trộn nhạc dân gian với nhạc trẻ (không gọi nhạc vàng).

Một số ví dụ: Trương Chi (Văn Cao - bán cổ điển có chất ca trù), Sông Lô (cổ điển), Áo mùa đông (Đỗ Nhuận - cổ điển), Hòn vọng phu (cổ điển pha dân ca Bắc), Tình ca (Phạm Duy - cổ điển và dân ca Bắc), Tình ca (Hoàng Việt - cổ điển), Hà Nội Huế Sài Gòn (Hoàng Vân - cổ điển và dân ca Huế) , Câu hò bên bờ Hiền Lương (dân gian thính phòng), Biển nhớ (Trịnh Công Sơn- nhạc nhẹ /ballad), Bản tình cuối (ballad), Xin anh giữ trọn tình quê (nhạc nhẹ và dân ca Nam), Thương về miền Trung, Trăm năm bến cũ, Em về với người (nhạc nhẹ và dân ca Trung), Về dưới mái nhà, Ngày đá đơm bông (dân ca Bắc - nhạc nhẹ), Chiều lên bản Thượng (dân ca Tây Nguyên - nhạc nhẹ), Rừng lá thấp (dân ca Nam với nhạc nhẹ), Nếu chúng mình cách trở, Áo em chưa mặc một lần (dân ca Nam với nhạc nhẹ) (nói chung hầu hết các bài nhạc lính hay nhạc tình /sến là dân ca Nam trộn chất ballad, còn dòng quê hương thường có pha trộn dân ca các vùng khác), Bóng cây Kơ-nia, Tiếng đàn Ta lư (cổ điển và dân ca Tây Nguyên), Đi học (dân ca Bắc- đồng dao), Về quê (dân ca Bắc với nhạc nhẹ), Trên đỉnh Phù Vân (dân gian đương đại, ca trù pha trộn nhạc trẻ), Ngẫu hứng sông Hồng, Quê nhà (Trần Tiến - dân gian đương đại pha trộn nhạc trẻ với dân gian), Hương tóc mạ non (đậm chất dân ca Nam Bộ, dòng dân gian), Lời của gió (nhạc trẻ), Hoa sữa (ballad), Kiếp đỏ đen (kết hợp chất sến dân gian Trung Hoa với nhạc nhẹ) , Giấc mơ mùa lá, Gió lộng 4 phương (Trần Mạnh Hùng - bán cổ điển), Để Mị nói cho mà nghe (dân gian đương đại)... Với nhiều bài slow rock theo phong cách nhạc trước 1975 thì gọi là sang hay sến tùy theo quan điểm, ví dụ bài Mười năm tình cũ (ballad),...

Như vậy định nghĩa chuẩn xác nhất nhạc vàng theo nghĩa phổ biến hiện nay là thuộc dòng nhạc nhẹ/ đại chúng mà trừ số ít, thì pha tạp chất dân ca ở mức độ khác nhau, phần lớn là dân ca Nam Bộ.

Trên thực tế hiện nay rất nhiều ca sĩ trình bày các tác phẩm cũ theo các phong cách khác nhau, pha tạp, không theo nguyên gốc.


Giai đoạn trước năm 1975

Ở phía Nam vĩ tuyến 17

Tại miền Nam, nhạc vàng phát triển thành nhiều phong cách, từ nhạc tình tự quê hương với biến thể từ dân ca Nam Bộ, nhạc lính, bolero kể chuyện, "kích động nhạc",... Bài hát điệu Rumba đầu tiên là Trăng sơn cước của Văn Phụng và Văn Khôi viết năm 1949, còn bài hát điệu bolero đầu tiên là Nắng chiều của Lê Trọng Nguyễn năm 1952.

Nhiều sáng tác của các nhạc sĩ nổi tiếng được xem là có đóng góp cho Tân nhạc Việt Nam nhiều ca khúc có giá trị như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Cung Tiến,... thời kỳ này cũng được xem là nhạc vàng, căn cứ cụ thể vào từng bài hát của họ. So với thời kỳ thập niên 1950 về trước, sáng tác của Phạm Duy có những chuyển biến rất đa dạng, nhiều đề tài, thái độ từ tâm linh, tôn giáo, xã hội và một số mang màu sắc thị trường như dòng nhạc trẻ, nhạc vỉa hè. Trịnh Công Sơn thì ảnh hưởng nhiều bởi chủ nghĩa hiện sinh, thái độ lạc lõng bơ vơ, "nổi loạn tinh thần" và mang màu sắc vô thần (tư tưởng này có một số nét trùng lặp giống chủ nghĩa cộng sản về lý thuyết).

Những hãng phát hành băng và đĩa nhạc cũng cho ra nhiều sản phẩm với danh hiệu "nhạc vàng" như hãng Hương Giang, hãng Dạ Lan của nhạc sĩ Anh Bằng, và hãng Shotguns[9] của Ngọc Chánh. Nhạc vàng sau đó được hiểu là thể loại nhạc tình êm dịu có tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi hoặc có nỗi lòng riêng tư của lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Ở phía Bắc vĩ tuyến 17

Phong trào bài trừ "nhạc màu vàng" ở Trung Quốc thời Mao Trạch Đông lan sang miền Bắc Việt Nam. Nhà nước chống nhạc "ủy mị" vì thiếu tinh thần đấu tranh cách mạng.[10] Cả nhạc vàng lẫn dòng nhạc tiền chiến thịnh hành trước năm 1954 cũng không được hát. Đối lập với nhạc vàng bị cấm đoán là nhạc đỏ, tức dòng nhạc nêu cao tinh thần cách mạng, mục tiêu đấu tranh giai cấp và cổ vũ những người Cộng sản chiến đấu.

Giai đoạn sau năm 1975

Trong nước

Sau năm 1975, cũng như số phận các loại hình văn hóa khác ở miền Nam, dòng nhạc này bị gán nhãn chính trị là "nhạc phản động" hoặc "đồi trụy", "ru ngủ", không thể hiện được con người xã hội chủ nghĩa lý tưởng như tinh thần cộng đồng, yêu lao động, có chí khí vươn lên, mà lại thể hiện tư tưởng an phận, than thở, thích nhận ân huệ. Kết quả là nhiều tác phẩm trong đó có băng cassette, đĩa nhạc cùng những bài vở ghi chép nhạc vàng bị tiêu hủy. Nhiều nhạc sĩ bỏ ra nước ngoài (nhất là các nhạc sĩ Thiên Chúa giáo), trong khi phần đông nhạc sĩ vô thần hay theo đạo Phật vẫn ở lại và có sáng tác mới. Dù vậy, nhạc vàng vẫn được nhiều người ưa thích cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Có những người trong nước vẫn cố gắng tìm nghe bất chấp hình phạt của luật pháp.[11][12]

Mãi đến khi bắt đầu thời kỳ Đổi mới thì các loại nhạc vàng mới dần dà được chính quyền xem xét lại và cho phổ biến một cách hạn chế tuỳ theo tác giả và tác phẩm. Năm 1986, lần đầu tiên chính quyền cho ra danh mục 36 tác phẩm âm nhạc của Miền Nam trước kia nay được phép công khai trình diễn. Dù vậy, ca sĩ Thanh Lan cho đến cuối thập niên 1980 vẫn phải lén lút thu thanh, thực hiện từ nửa đêm đến rạng sáng thì nghỉ để tránh bị công an phát giác.[13] Danh sách nhạc sang thập niên 1990 thì bỏ, thay vào đó Bộ Văn hóa đề nghị cổ xúy nhạc xanh, tức nhạc trẻ của thời đại Đổi Mới nhưng không thành công.[14] Số người nghe nhạc vàng ngày càng đông, không chỉ ở phía nam vĩ tuyến 17 và hải ngoại mà cả ở miền Bắc, thậm chí theo chân người Việt đi lao động ở Liên XôĐông Âu vào thập niên 1980. Chính quyền tỏ ra bất lực trước phong trào nhạc vàng sống lại.[15]

Sang đầu thế kỷ 21, những nhà kinh doanh và tổ chức ca nhạc trong nước đã tổ chức nhiều buổi trình diễn nhạc vàng, đưa ca sĩ từ hải ngoại về hát vì dễ kiếm lời. Vào tháng 8 năm 2010 hai ca sĩ mà tên tuổi gắn liền với "nhạc sến", Hương LanTuấn Vũ đã trình diễn những bản nhạc vàng ở Nhà hát Lớn Hà Nội trong nửa tháng với giá vé tại những chỗ tốt nhất lên đến 1.700.000 đồng Việt Nam mà vé vẫn bán hết. Nhạc vàng từ chỗ bị cấm đoán sau năm 1975 để rồi đến năm 2010 đã trình diễn ở giữa thủ đô Hà Nội.[8]

Hải ngoại

Đối với người Việt hải ngoại thì nhạc vàng là một dòng nhạc chủ đạo trong thị hiếu người nghe nhạc và cùng với tình khúc 1954-1975 trở thành dòng nhạc chủ đạo của tân nhạc hải ngoại, tuy nhiên ranh giới giữa hai dòng nhạc này không còn rõ rệt như thời kỳ trước năm 1975.

Đến đầu thế kỷ 21, nhạc vàng bắt đầu thoái trào ở hải ngoại. Những khán giả gốc Việt thích nghe nhạc vàng đã lớn tuổi và dần qua đời, trong khi lớp trẻ gốc Việt sinh ra ở Âu - Mỹ thì đã chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa, âm nhạc bản xứ nên chỉ thích nghe nhạc Âu - Mỹ, ít quan tâm đến các dòng nhạc tiếng Việt. Vì vậy, thị trường văn nghệ hải ngoại ngày càng thu hẹp, các trung tâm chuyên trình diễn nhạc vàng ở hải ngoại phải thu hẹp dần hoạt động. Từ năm 2007, nhiều nghệ sĩ chuyên hát nhạc vàng ở hải ngoại bắt đầu từ hải ngoại trở về Việt Nam để tìm kiếm cơ hội phát triển sự nghiệp.[16]

Nghệ sĩ nổi bật

Nhạc sĩ: Anh Bằng, Bắc Sơn, Bằng Giang, Châu Kỳ, Đài Phương Trang, Giao Tiên, Hàn Châu, Hoài An, Hoài Linh, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Lê Dinh, Lê Minh Bằng (nhóm), Minh Kỳ, Nhật Ngân, Song Ngọc, Tâm Anh, Thanh Sơn, Trầm Tử Thiêng, Trần Thiện Thanh, Trịnh Lâm Ngân (nhóm), Trúc Phương, Tú Nhi, Vinh Sử, Y Vân

Ca sĩ: Thanh Tuyền, Anh Khoa, Băng Châu, Băng Tâm, Bảo Yến, Cẩm Ly, Chế Linh, Duy Khánh, Duy Trường, Đàm Vĩnh Hưng, Đan Nguyên, Đặng Thế Luân, Giang Tử, Giao Linh, Hạ Vy, Hoàng Oanh, Hùng Cường, Hương Lan, Hương Thủy, Kim Anh, Lâm Nhật Tiến, Lệ Quyên, Lưu Hồng, Mai Thiên Vân, Mạnh Đình, Mạnh Quỳnh, Mỹ Huyền, Ngọc Huyền, Ngọc Sơn, Nhật Trường, Như Quỳnh, Phi Nhung, Phương Dung, Phương Hồng Quế, Phượng Mai, Quang Lê, Quốc Khanh, Sơn Ca, Sơn Tuyền, Tâm Đoan, Thái Châu, Thanh Thúy,, Trung Chỉnh, Trường Vũ, Tuấn Vũ, Tường Nguyên, Y Phụng

Đánh giá

Xem thêm

Các dòng nhạc tương tự:

Tham khảo

  1. ^ Nhạc vàng hay nhạc sến, Báo Văn hóa 4-2-2002
  2. ^ Nên bỏ chữ 'nhạc sến
  3. ^ Cần phân biệt dòng nhạc quê hương và nhạc sến
  4. ^ Tuấn Khanh: Nhạc vàng qua lửa đỏ
  5. ^ [http://www.vietnamtudien.org/trinhcongson/phduy2.html Hồi ký Phạm Duy
  6. ^ Chuyên đề Văn nghệ Công an số 4/2002, tr.11
  7. ^ Nguyễn Quang Long, Nên gạt bỏ ý miệt thị nhạc “sến” (Báo điện tử VietNamNet, 14/09/2013)
  8. ^ a ă Trần Củng Sơn. Một thoáng 26 năm. San Jose, CA: Hương Quê, 2011. Trang 474-7.
  9. ^ “Ho^`n Que^”. 
  10. ^ Jason Gibbs (Nguyễn Trương Quý dịch), Nhạc vàng “hoá vàng” (Talawas, 23.6.2005)
  11. ^ Sài Gòn, Lệ Thu
  12. ^ Taylor, Philip. tr 150-153.
  13. ^ Kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng. tr 258
  14. ^ Taylor, Philip. tr 150-154.
  15. ^ Taylor, Philip. tr 53-55.
  16. ^ Hà Ngân, Vì sao nghệ sĩ hải ngoại ùn ùn về Việt Nam (Báo Thanh Niên, 05/10/2015)
  17. ^ Ca sĩ Thanh Lam trả lời trên báo Trí Thức Trẻ, ngày 21/10/2017
  18. ^ Tranh luận về Bolero: Thụt lùi hay phát triển? (Báo Công an nhân dân điện tử, 28/08/2017)