Trịnh Bính (30 tháng 6 năm 1670 - 3 tháng 2 năm 1703) là một thế tử trong phủ chúa Trịnh dưới thời Lê Trung Hưng trong lịch sử Việt Nam, tuy nhiên đã qua đời trước khi được truyền ngôi chúa Trịnh.

Trịnh Bính
Tấn quốc công
Binh nghiệp
Năm tại ngũ1688 - 1703
Cấp bậctiết chế
Chỉ huyThủy quân
Thông tin chung
Thụy hiệuVỹ Khánh
Chức quanthái úy
Phu nhân
Hậu duệTrịnh Cương
Tước hiệuTấn quốc công
Thân phụTrịnh Vịnh
Thân mẫuNguyễn Thị Ngọc Tuệ
Sinh30 tháng 6 năm 1670
Mất3 tháng 2, 1703(1703-02-03) (32 tuổi)
An tángxã Phú, huyện Thuần Lộc
Triều đạiHậu Lê
Sau khi qua đời
Truy phong tước hiệuTấn Quang vương

Cuộc đờiSửa đổi

Trịnh Bính chào đời ngày 30 tháng 6 năm 1670 dưới triều Lê Huyền Tông. Khi đó tằng tổ phụ của ông là Tây Định vương Trịnh Tạc còn tại vị. Ông là con trai trưởng của Lương Mục vương Trịnh Vịnh, mẹ là bà Huệ phi Nguyễn Thị Ngọc Truệ, người làng Lạc Nhuế (huyện Yên Phong). Thuở nhỏ ông được người thiếp của tổ phụ (Trịnh Căn) là bà Thục phi Nguyễn Thị Ngọc Phụng, người xã Quang Lãm (huyện Thanh Trì) nuôi dưỡng.

Năm 1681, khi Trịnh Bính vừa được 11 tuổi thì cha ông là Lương Mục vương Trịnh Vịnh qua đời. Năm sau (1782), Định Nam vương Trịnh Căn lên nối ngôi của Trịnh Tạc. Trịnh Bính khi đó có thân phận cháu đích tôn, nhưng vì còn nhỏ tuổi nên không có quyền kế vị, mà ngôi thế tử thuộc về người chú là Mưu quốc công Trịnh Bách. Tuy nhiên đến năm 1688, Trịnh Bách cũng mất. Trịnh Bính lúc đó đã lớn nên được chọn là thế tử kế thừa Vương vị. Ông được phong tiết chế các doanh quân thủy, quân bộ các xứ, kiêm giữ cả chính quyền, chức thái úy, tước Tấn quốc công, mở phủ Dực quốc.[1]

Bấy giờ Hồng lô tự khanh Vũ Thạnh làm tư giảng cho Trịnh Bính, thường đem việc người trong nội phủ xin xỏ gửi gắm về kiện tụng nói với Bính; Bính đem việc ấy nói với chúa; chúa bèn bãi chức Vũ Thạnh.

Ngày 3 tháng 2 năm 1703 dưới triều vua Lê Hi Tông, thế tử Trịnh Bính quy thiên, hưởng dương 33 tuổi. Ông được tôn phong chức Tham tể Thượng tướng công, tiến phong Anh Minh Thông Tuệ Triết Văn Tích Thiện Bồi Cơ Dị Mưu Du Hậu Tấn Quang vương, tên thụy là Vỹ Khánh, lăng ở xã Phú (huyện Thuần Lộc).[2] Bấy giờ con trai của ông là Trịnh Cương còn nhỏ, chúa tuổi đã cao mà ngôi thừa tự vẫn chưa ổn định, bèn triệu bồi tụng Nguyễn Quý Đức vào hỏi. Quý Đức nói:

Trọng trách trông coi việc nước, vỗ về quân lính, phải thuộc về người chắt trưởng, xin định ngay danh phận, để cắt đứt sự dòm ngó.[1]

Chúa lại hỏi Đặng Đình Tướng, Đình Tướng cũng trả lời y như vậy, lúc đó ý chúa mới quyết phong cho Trịnh Cương làm Khâm sai Tiết chế các xứ thủy bộ mọi dinh kiêm giữ việc nước, hàm Thái úy An quốc công, mở phủ Lý quốc, về sau nối ngôi, chính là Hi Tổ Nhân vương[3].

Năm 1711, Trịnh Cương nhân danh Dụ Tông hoàng đế, tiến phong ông là Trịnh Vịnh làm Lương Mục vương, cha là Trịnh Bính làm Tấn Quang vương, thờ ở cung miếu tổ tiên họ Trịnh. Về việc này, có người khuyên chỉ nên lập miếu riêng mà thờ thôi, nhưng Nguyễn Quý Đức nói:

Hai tước vương đều là chính tông đích trưởng, thờ ở cung miếu, thì thuận lý hơn.

Về sau dưới thời chúa Trịnh Doanh, Trịnh Bính được thờ phụng ở hữu miếu.

Gia quyếnSửa đổi

  1. Thái phi Trương Thị Ngọc Chử, người huyện Gia Lạc. Sinh ra Trịnh Cương và hai quận chúa. Em trai bà là Thiêm quận công Trương Nhưng.
  2. Chính phi Trần Thị Ngọc Nhiên, con gái Hộ bộ Tả thị lang, Liêm quận công Trần Đăng Doanh.
  • Con trai
  1. Hi Tổ Nhân vương Trịnh Cương
  2. Suy tâm Dực vận Tán trị Công thần, quan Tiền hòa Quận doanh Đô đốc phủ Tả đô đốc Phó đô tướng Trưởng phủ sự Đại Tư đồ Quốc lão Roãn trung công Trịnh Đạc.
  3. Suy tâm Dực vận Tán trị Công thần, quan Tiền hòa Quận doanh Đô đốc phủ sự Đại Tư mã kiêm chức Tôn nhân phủ Tả tôn chính Đỉnh trọng công gia phong Túc vương Trịnh Trụ;
  4. Hữu đô đốc Phó tướng, Tuân quận công Trịnh Tự;
  5. Hữu đô đốc Phó tướng, Lộc quận công Trịnh Hành;
  6. Hữu đô đốc Đồng tri Phó tướng, Kinh quận công Trịnh Khuê;
  7. Đô đốc Đồng tri Phó tướng, Lộc quận công Trịnh Khôi;
  8. Đô đốc thiêm sư Phó tướng, Hậu quân công Trịnh Bi
  9. Thái bảo Phó tướng, Dực quận công Trịnh Đinh
  10. Đô đốc thiêm sự Phó tướng, Tín quận công Trịnh Đôn.
  11. Phó tướng Thân quận công, Trịnh Linh, xuất gia
  12. Đô đốc đồng tri Phó tướng, Du quận công Trịnh Tăng.
  13. Tả đô đốc Phó tướng, Tản quận công Trịnh Nhiêu.
  14. Nội hữu đội đô Chỉ huy sứ ti Phó tướng, Khuông quận công Trịnh Hiệu.
  15. Đô chỉ huy sứ Đồng tri Phó tướng, Cẩn quận công Trịnh Tuy.
  16. Tả đô đốc Phó tướng, Khoa quận công Trịnh Thập.
  17. Tả Hòa quận doanh đô đốc thiêm sự Phó tướng, Thự phủ sự, Thủy quận công, gia phong Thụy Trung vương Trịnh Tân.

Con gái

  1. Trưởng thượng quận công Trịnh Thị Ngọc Thung.
  2. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Lan.
  3. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ.
  4. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Anh.
  5. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Trạch.
  6. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Khuy.
  7. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc An.
  8. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Chư.
  9. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Huỳnh.
  10. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Hoàn.
  11. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Mai.
  12. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Bảng.
  13. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Dung.
  14. Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Nghiên.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă Cương mục, chính biên quyển 34
  2. ^ Trịnh gia chính phả, đời thứ 11
  3. ^ Cương mục, quyển 35