Bán đảo Đông Dương

Phần lục địa của khu vực Đông Nam Á nằm giữa Trung Quốc và Ấn Độ
(đổi hướng từ Đông Dương)

Bán đảo Đông Dương, hoặc gọi bán đảo Ấn - Trung, Đông Nam Á đất liền, là một bán đảo ở vào Đông Nam Á, là một trong ba bán đảo lớn ở phía nam châu Á. Vì nguyên do vị trí địa lí sát gần Ấn ĐộTrung Quốc, và lại bị sự ảnh hưởng của Ấn ĐộTrung Quốc, cho nên trên quốc tế gọi là Indochina (chữ gốc Indo-China). Bán đảo Đông Dương bao gồm các nơi ngày nay như Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt NamMalaysia bán đảo (tức Tây Malaysia).

Bán đảo Đông Dương

Indochina map 1886.jpg
Địa lý
Vị tríĐông Nam Á
Tọa độ14°B 102°Đ / 14°B 102°Đ / 14; 102Tọa độ: 14°B 102°Đ / 14°B 102°Đ / 14; 102
Diện tích2.151.688 km2 (830.771,4 mi2)
Đỉnh cao nhấtHkakabo Razi
Hành chính
Điểm dân cư lớn nhấtThành phố Hồ Chí Minh (8.990.300 người)
Điểm dân cư lớn nhấtViêng Chăn (800.000 người)
Điểm dân cư lớn nhấtPhnôm Pênh (2.904.566 người)
Điểm dân cư lớn nhấtBangkok (10.000.000 người)
Nhân khẩu học
Dân số269.700.000 người

Bán đảo Đông Dương ở vào khoảng giữa Trung Quốcá lục địa Ấn Độ, phía tây giáp vịnh Bengal, biển Andamaneo biển Malacca, phía đông giáp biển Đông của Thái Bình Dương, là cầu bắc giữa đất liền Đông Áquần đảo Mã Lai. Khí hậu bán đảo Đông Dương nóng ẩm, thảm thực vật rậm rạp tốt tươi, dòng sôngmạch núi chủ yếu ở bán đảo là kéo dài từ Trung Quốc qua, cho nên có người lập luận ngắn gọn rằng "núi cùng dãy, nước cùng nguồn, đất liền nhau, người thương nhau", bán đảo Đông Dương có văn minh lịch sử lâu dài, ngôn ngữ cực kì đa dạng hoá.

Giới thiệuSửa đổi

Bán đảo Đông Dương ở vào khoảng giữa Trung Quốcá lục địa Ấn Độ, phía tây giáp vịnh Bengal, biển Andamaneo biển Malacca, phía đông giáp biển Đông của Thái Bình Dương, là cầu bắc giữa đất liền Đông Áquần đảo Mã Lai.

Bán đảo Đông Dương bao gồm năm nước Việt Nam, Lào, Campuchia, MyanmarThái Lan cùng với Malaysia bán đảo, là bán đảo lớn thứ hai trên thế giới. Diện tích chừng 2,1 triệu kilômét vuông, chiếm 46% diện tích Đông Nam Á. Đường bờ biển dài 11.700 kilômét, có nhiều vịnh cảng trọng yếu. Địa thế phía bắc cao phía nam thấp, phần nhiều đất đồi núi và cao nguyên. Vùng đất phía bắc là cao nguyên Shan cao lớn cổ xưa, chiều cao từ 1.500 đến 2.000 mét so với mực nước biển. Nhiều dãy núi kéo dài từ nam lên bắc hiện ra hình dạng quạt, hình thành kết cấu địa hình cao nguyên Shan và sự phân bố xen kẽ núi với lũng suối.

Dãy núi chủ yếu từ tây sang đông theo thứ tự là dãy núi Naga, dãy núi Arakan; dãy núi Dawna, dãy núi Tenasserim, dãy núi Bilauktaung; dãy núi Trường Sơn. Dòng sông ở giữa ba thứ tự núi lớn là sông Irrawaddy, sông Salween, sông Chao Phraya, sông Mê Kôngsông Hồng, chảy xiết dâng vọt từ bắc xuống nam, đầu nguồn rất xa, dòng nước rất dài. Thượng du dòng sông phần nhiều chảy xuyên qua cao nguyên Shan, lũng suối cắt sâu chia cao nguyên làm mấy khối, thí dụ cao nguyên Đông Miến ở giữa sông Irrawaddysông Salween, cao nguyên Chiang Mai ở giữa sông Salweensông Mê Kông, các cao nguyên Lào ở giữa sông Mê Kôngsông Hồng, là sự xen lẫn núi và sông điển hình, phân bố hàng dọc. Đồng bằng lòng chảo ở trung và hạ dụ của một số dòng sông và vùng châu thổ cửa sông của mỗi sông là khu nông nghiệp và vùng tập trung nhân khẩu chủ yếu.

Tên gọiSửa đổi

Bán đảo Ấn - Trung, hoặc gọi bán đảo Trung Nam, bán đảo Ấn Độ - Chi Na, tất cả đều là tên gọi phiên dịch chữ Hán từ chữ gốc chữ Pháp "Indochine", từ đơn tiếng Pháp đó ý nghĩa là "văn hoá Trung Quốc bị Ấn Độ hoá", lấy đó để xưng hô khu vực ở giữa Ấn ĐộTrung Quốc và lại bị văn hoá hai nước ảnh hưởng.

Từ sau khi Chiến tranh Trung – Nhật lần thứ hai bùng nổ đột ngột, chính phủ Trung Quốc đem chữ "Chi Na" coi là từ ngữ kì thị nhằm giễu cợt và hạ thấp giá trị Trung Quốc. Dưới đề xướng kiến nghị của Vu Hữu Nhậm, sáng lập lời từ mới "bán đảo Trung Nam" để thay thế "Ấn Độ - Chi Na". Ý nghĩa của chữ "bán đảo Trung Nam" là "bán đảo ở về phía nam Trung Quốc". Hiện nay hai tên gọi phiên dịch bán đảo Trung Nam, bán đảo Ấn Độ - Chi Na sử dụng đồng thời, nhưng mà phương tiện truyền thông thuộc nhà nước Trung Quốc vẫn không thống nhất đối với tên gọi phiên dịch của nó, hoặc dịch "Ấn Độ - Chi Na", hoặc dịch "bán đảo Trung Nam". Tuy nhiên, trên bản đồsách bản đồ do Trung Quốc đại lục xuất bản nghiêng về sử dụng "bán đảo Trung Nam". Giới địa lí học, địa chất học và các phương diện nghiên cứu lịch sử ở trong lĩnh vực học thuật, đối với danh từ học thuật mà chứa đựng chữ "Indo-China", vẫn nghiêng về chọn dùng dịch âm "Ấn Độ - Chi Na", thí dụ chữ "Ấn Độ - Chi Na" trong thời kì kiến tạo Ấn Độ - Chi Na - thuật ngữ địa chất do nhà địa chất học quốc tịch Pháp Gromaget nêu ra.

Người Việt dùng tên gọi Đông Dương chỉ biển Đông, Tây Dương chỉ châu Âu, Tiểu Tây Dương chỉ bán đảo Ấn Độ, Nam Dương chỉ quần đảo Mã Lai.

Lịch sửSửa đổi

Bắt đầu từ trước thế kỉ II, hai nền văn minh Trung QuốcẤn Độ bắt đầu tiến hành trao đổi mua bán đi qua nhiều nơi. Ở thời kì cổ đại khả năng có 4 con đường từ Trung Quốc đến Ấn Độ:

Trong đó hai đường bộ trước đi Ấn Độ hoàn toàn hiểm trở, cho nên đại đa số người đi buôn bán chọn dùng hai đường đi sau, nhất là đường biển. Bởi vì hai đường đi sau đều cần phải đi qua các nước Ấn Độ - Chi Na, khu vực này hoặc các nước này bị chính trị và văn hoá của Trung QuốcẤn Độ ảnh hưởng.

Từ giữa thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX, khu vực này trừ Thái Lan bảo toàn độc lập ra, liên tục đều bị thực dân PhápAnh thống trị. Trong đó, Việt Nam, CampuchiaLào bị Pháp thống trị, gọi là "Đông Dương thuộc Pháp". Myanmar, Malaysia bán đảoSingapore bị Anh Quốc thống trị. Người Pháp kiến lập Liên bang Đông Dương đầu tiên vào năm 1893, Nhật Bản chiếm cứ Đông Dương thuộc Pháp vào năm 1940, Nhật Bản chiếm cứ toàn biên giới bán đảo Đông Dương trừ Thái Lan ra vào năm 1942. Sau khi Đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc vào năm 1945, sự độc lập của các thuộc địa thuộc Anh ở bán đảo Đông Dương khá là hoà bình, năm 1948 Myanmar độc lập, năm 1956 Malaysia bán đảo tự trị, năm 1957 Liên bang Malaya độc lập, năm 1963 Malaysia thành lập, năm 1965 Singapore thoát li độc lập từ Malaysia. Các thuộc địa thuộc Pháp khá là gian khổ, Việt Nam liền triển khai chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất từ sau khi Đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc, sau Hội nghị Genève năm 1954, các nước Đông Dương thuộc Pháp mới giành được độc lập. Năm 1960, Hoa Kì vì mục đích ngăn cấm, cản trở mở rộng chủ nghĩa cộng sản nên chen chân, nhúng tay vào, tiến hành can dự nội chiến Việt Nam. Về sau, nước Cộng hoà Nhân dân Trung HoaLiên minh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô-viết có mở rộng ảnh hưởng ở bán đảo Đông Dương, ba nước Đông Dương bị chiến tranh Việt Nam ảnh hưởng trong khoảng thời gian dài, chính trị chỗ đó hoàn toàn bất ổn, sau đó vì nguyên do Việt Nam xâm nhập Campuchia đánh tan vỡ chính quyền Khmer Đỏ, và lại có ý đồ chống đỡ thế lực thân Việt, dẫn đến chiến tranh biên giới Việt Nam - Campuchia, năm 1979 phát sinh chiến tranh biên giới Việt Nam – Trung Quốc, cục thế chính trị chỗ đó trước năm 1989 hoàn toàn rối loạn. Đến niên đại 90, ba nước Đông Dương thuộc Pháp cũ ở bán đảo Đông Dương mới thực hiện hoà bình.

Địa mạo địa hìnhSửa đổi

Địa thế phía bắc cao phía nam thấp, phần nhiều là đất đồi núi và cao nguyên. Vùng đất phía bắc là cao nguyên Shan cao lớn cổ xưa, chiều cao từ 1.500 đến 2.000 mét so với mực nước biển. Nhiều dãy núi kéo dài từ nam lên lên bắc hiện ra hình dạng quạt, hình thành kết cấu địa hình cao nguyên Shan và sự phân bố xen kẽ núi với lũng suối. Dãy núi chủ yếu từ tây sang đông theo thứ tự là dãy núi Naga, dãy núi Arakan; dãy núi Daen Lao, dãy núi Tenasserim, dãy núi Bilauktaung; dãy núi Trường Sơn.

Bán đảo Đông Dương có đủ ba đặc trưng khá rõ ràng. Đầu tiên, địa thế của nó xét tổng thể phía bắc cao phía nam thấp, phần nhiều là đất đồi núi và cao nguyên, núi sông xét tổng thể đi theo hướng nam bắc, hơn nữa núi và sông xếp đặt xen lẫn nhau, địa thế bán đảo giống như hình dạng lòng bàn tay. Thứ hai, địa thế của nó lâu ngày đã xói mòn cho nên hiện ra hình dạng nửa đồng bằng, địa hình các-xtơ sinh sôi, trong vận động tạo núikỉ Đệ Tam địa khối Ấn Độ - Mã Lai cũng có hiện tượng nhô lên và đứt gãy. Thứ ba, đồng bằng phần nhiều phân bố ở khu vực duyên hải phía đông nam, chủ yếu là đồng bằng bồi tíchtam giác châu ở hạ du sông cả có diện tích rộng lớn.

Mạch núicao nguyên ở bán đảo Đông Dương chủ yếu có mạch núi Naga, mạch núi Arakan ở phía tây, là mạch núi hình vòng cung nhô ra hướng về phía tây, phần lớn chiều cao so với mức mặt biển là từ 1.800 mét trở lên, chiều dài chừng 1.100 kilômét, bao gồm rất nhiều mạch núi song song, là bộ phận kéo dài nối tiếp của phía nam mạch núi Himalaya, và tiếp tục duỗi dài mở rộng hướng về phía nam. Vùng đất phía đông có mạch núi Trường Sơn dài liên tiếp hơn 1.000 kilômét, đi theo hướng nam bắc, ranh giới của Việt Nam, LàoCampuchia, dốc tây của mạch núi khá thoải, rồi dần dần chuyển tiếp đến cao nguyên ở bên trong nước LàoCampuchia, thí dụ cao nguyên Xiêng Khoảng, cao nguyên Hủa Phăn, cao nguyên Khăm Muộn và cao nguyên Bolaven; dốc đông mạch núi khá dốc gần như thẳng đứng, sát gần bờ biển, hình thành rất nhiều vách núi cao chót vót và mũi đất lấn ra biển. Phía giữa là bộ phận kéo dài nối tiếp của phía nam mạch núi Hoành Đoạn, có núi Daen Lao, mạch núi Tenasserim và núi Bilauktaung ở biên giới MyanmarThái Lan, duỗi dài về phía nam đến bán đảo Mã Lai, khối núi ở trong nước Myanmar vừa rộng vừa cao, trở thành cao nguyên có diện tích lớn nhất ở Đông Nam Á - cao nguyên Shan, ở phía đông Thái Lancao nguyên Khồ Rát.

Đất đồi núi và cao nguyên ở bán đảo Đông Dương đã xói mòn trong khoảng thời gian dài, phần lớn đỉnh núi hiện ra hình tròn, bề mặt xói mòn của cao nguyên sinh sôi. Bán đảo Mã Lai và bán đảo Đông Dương thông thường lấy eo đất Kra làm biên giới. Về phương diện địa thế kiến tạo, bán đảo Mã Lai là một phần của địa khối Ấn Độ - Mã Lai, đất đồi núi ở khoảng giữa, xuống thấp hướng về hai phía đông tây, bán đảo Đông Dương bao gồm 8 dãy núi về tổng thể song song với nhau, chạy dọc theo hướng nam bắc, vì nguyên do đã xói mòn lâu ngày nên chiều cao không lớn, làm lộ ra đá phần nhiều là đá hoa cương, đá phiến mađá vôi, đỉnh núi cao nhất của núi Tahan chỉ có 2.187 mét. Chiều cao so với mức mặt biển của cao nguyên Shan là từ 1.000 - 1.300 mét, chủ yếu do tầng đá vôiĐại Cổ sinhĐại Trung sinh tạo thành, lại còn có thể xâm nhập của đá hoa cương. Trên mặt cao nguyên có rất nhiều hẻm núi cắt sâu và đỉnh núi cao vượt 800 đến 900 mét so với mặt đất. Dãy núi và rãnh suối đan chéo lẫn nhau, mặt đất bị xói mòn dữ dội, vùng đất phía tây có một đứt gãy lớn dài 600 đến 700 kilômét theo hướng nam bắc. Cao nguyên Khồ Rát ở phía đông Thái Lan, phần lớn có chiều cao so với mức mặt biển là từ 150 đến 300 mét, do sa thạch đỏ hợp thành, địa thế nghiêng theo chiều hướng từ tây lên đông, mặt đất vì vậy lên xuống không bằng phẳng. Ở cao nguyên Shan cùng với vùng đất phía bắc của Việt NamLào, phân bố địa thế các-xtơ, là khu phong cảnh nổi tiếng.

Dãy núi Naga và dãy núi Rakhine có chiều cao chừng 3.000 mét so với mức mặt biển, dài 1.100 kilômét, là bức vách ngăn cách giữa Myanmar, Ấn ĐộBangladesh, giữa núi có một ít col núi là đường giao thông lớn mà các dân tộc cổ đại thiên cư. Núi Daen Lao, dãy núi Tenasserim và dãy núi Bilauktaung chạy dọc biên giới MyanmarThái Lan, có vài col núi nổi tiếng ở giữa núi là cửa ải hiểm yếu của việc hành quân tác chiến giữa MyanmarThái Lan về phương diện lịch sử. Núi Luangprabang, núi Dong Phaya Yen và núi Sankamphaeng chạy dọc phía giữa bán đảo, là chỗ phân chia cảnh quan khác nhau của hai bộ phận đông và tây của bán đảo. Dãy núi Trường Sơn ở phía đông có chiều cao thông thường không đạt tới 1.500 mét so với mức mặt biển, kéo dài liên tục hơn 1.000 kilômét, là mạch núi phân giới ba nước Việt - Lào - Cam, đường đèo ở vùng núi Hoành Đoạn là đường tắt thông suốt giữa bờ biển Đông và các hẻm núi sông Mê Kông ở trong nước Trung Quốc. Giữa các núi có rất nhiều cao nguyên, nổi tiếng nhất có cao nguyên Shan, cao nguyên Xiêng Khoảng, cao nguyên Hủa Phăn, cao nguyên Khăm Muộn, cao nguyên Bolaven và cao nguyên Đắk Lắk, tất cả đều có sẵn ý nghĩa đặc thù ở các phương diện như địa mạo, khí hậu, lịch sử, sắc tộc, giao thông và sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc.

Tôn giáoSửa đổi

Tôn giáo chính trong vùng là Phật giáo nguyên thủy. Phật giáo Đại thừa rất phổ biến ở Việt Nam, trong khi Malaysia có Hồi giáo là tôn giáo chính, tồn tại cùng nhiều tôn giáo khác.

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi