Apple Watch là dòng đồng hồ thông minh của Apple Inc., công bố bởi Tim Cook vào ngày 24 tháng 4 năm 2015[9]. Apple Watch ngoài tác dụng của một chiếc đồng hồ đeo tay bình thường, nó còn có thể theo dõi quá trình luyện tập thể thao, đếm bước chân, nhịp tim, chu kỳ kinh nguyệt, giấc ngủ, cũng như các chức năng liên quan đến sức khỏe khác, nó tương thích với iOS và các sản phẩm, dịch vụ khác của Apple, như nghe điện thoại, đọc tin nhắn, nhận thông báo đồng bộ từ các ứng dụng trên iPhone mà Apple Watch ghép đôi.

Apple Watch
Apple Watch official logo.svg
Nhà phát triểnApple Inc.
Nhà chế tạoQuanta Computer[1]
(hợp đồng sản xuất)
LoạiSmartwatch
Ngày ra mắtNguyên bản (còn gọi là gen 1): 24 tháng 4 năm 2015; 6 năm trước (2015-04-24)
Series 1 và Series 2: 16 tháng 9 năm 2016; 5 năm trước (2016-09-16)
Series 3: 22 tháng 9 năm 2017; 4 năm trước (2017-09-22)
Giá giới thiệuWatch Sport

38 mm: US$349
42 mm: US$399
Watch
38 mm: US$399–US$999
42 mm: US$449–US$1,049
Watch Edition

38 mm & 42 mm: US$1,299[2]
Hệ điều hànhwatchOS
SoC đã sử dụngApple Watch Nguyên bản: Apple S1 (32-bit ARMv7[3])
Apple Watch Series 1: Apple S1P
Apple Watch Series 2: Apple S2
Apple Watch Series 3: Apple S3
Bộ nhớNguyên bản,[4] Series 1, và Series 2: 512 MB DRAM[cần dẫn nguồn]
Series 3: 768 MB DRAM[cần dẫn nguồn]
Lưu trữNguyên bản,[4] Series 1, và Series 2:GB[cần dẫn nguồn]
Series 3: 8 hoặc 16 GB[cần dẫn nguồn]
Hiển thịOLED[5]

38mm
33,96 mm (1,337 in) đường chéo, 272×340 pixel với 326 dpi
42mm
38,96 mm (1,534 in) đường chéo, 312×390 pixel với 326 dpi
Watch Sport
Strengthened Ion-X glass

Watch/Watch Edition
Sapphire glass
Đồ họaPowerVR SGX543[6]
Kết nốiNguyên bản, Series 1, và Series 2: Bluetooth 4.0[cần dẫn nguồn]
Series 3: Bluetooth 4.2[cần dẫn nguồn]
Tất cả model:"', NFC, Wi-Fi (802.11 b/g/n)
Năng lượngPin sạc Li-Po

38mm
3.8 V 0.78 W·h (205 mA·h)[7][8]

42mm
3.78 V 0.93 W·h (246 mA·h)[8]
Kích thước38 mm
38,6 mm × 33,3 mm × 10,5 mm
(1,52 in × 1,31 in × 0,41 in)[chuyển đổi: số không hợp lệ]
42 mm
42 mm × 35,9 mm × 10,5 mm
(1,65 in × 1,41 in × 0,41 in)[chuyển đổi: số không hợp lệ]
Khả năng tương thích
ngược
iPhone 5S và chạy iOS 8.2 hoặc cao hơn, kết nối Wi-Fi hoặc Bluetooth tương thích với thiết bị này.
Trang webwww.apple.com/watch

Apple Watch chạy trên hệ điều hành watchOS, phần lớn phải phụ thuộc vào iPhone mà nó ghép đôi ở các thế hệ đầu. Từ thế hệ Series 3, ngoài Wi-Fi, kết nối 4G LTE với eSIM được thêm vào, Apple Watch đã có thể hoạt động độc lập với nhiều tính năng hơn.[10] Kể từ thế hệ đầu tiên được giới thiệu tháng 4 năm 2015, Apple Watch nhanh chóng trở thành thiết bị đeo thông minh bán chạy nhất thế giới. 4,2 triệu máy đã được bán trong quý hai năm 2015[11]. Khác với các đối thủ cạnh tranh (mặt đồng hồ hình tròn), Apple Watch mang thiết kế khác biệt với mặt đồng hồ hình vuông. Các thế hệ tiếp theo được giới thiệu thường niên vào tháng 9 hằng năm, trong cùng sự kiện ra mắt thế hệ iPhone mới của Apple.

không khung

Thiết kếSửa đổi

Apple Watch mỗi thế hệ có nhiều phiên bản, thường được phân biệt bởi chất liệu, màu sắc và kích thước mặt đồng hồ. Apple Watch có thể thay đổi linh hoạt nhiều loại dây đeo, từ các thương hiệu như Nike hay cao cấp của Hermès.

Apple Watch Series 4Series 5 đã có hai kích thước mặt đồng hồ là: 40 mm (1.6 in) và 44 mm (1.7 in), thay thế cho các kích thước 38 mm (1.5 in) và 42 mm (1.7 in) của thế hệ Series 2 và 3. Do Series 4 và 5 thiết kế mặt đồng hồ trở nên tràn viền với các cạnh màn hình mỏng hơn thế hệ trước.

Dây đeo cho bản 38 mm cũ (1,5 in) phù hợp với bản 40 mm mới (1,6 in) và dây đeo của bản 42 mm cũ (1.7 in) phù hợp với bản 44 mm mới (1.7 in).

Apple Watch được sạc bằng phương pháp sạc cảm ứng, sử dụng cáp tương tự cáp MagSafe trên MacBook của Apple. Màn hình cảm ứng OLED có công nghệ Force Touch, có khả năng phân biệt giữa chạm và nhấn. Đồng hồ cũng có một nút bên để hiển thị các ứng dụng sử dụng gần đây và truy cập Apple Pay. Apple Watch Series có khả năng kháng nước, phù hợp để bơi lội và lướt sóng.[12]

Apple Watch xuất hiện trong nhiều báo cáo rằng đã cứu sống người dùng khi họ bị mắc kẹt hay bị lạc.

Danh sách thiết bịSửa đổi

 
Apple Watch được bày bán tại Apple Store

Kể từ tháng 9 năm 2019, có sáu thế hệ Apple Watch đã được phát hành. Hiện nay chỉ còn Series 3 và Series 5 là còn được Apple sản xuất và bán tại Apple Store.

Tháng 9 năm 2020, Apple Watch Series 6 và Apple Watch SE trong sự kiện mang tên Time Flies với hứa hẹn rằng đây là sản phẩm dược sinh ra để chống chọi vơi Covid-19.

Apple Watch Series 6 có hiện tượng giật lag mặc dù là mới và KHÔNG THỂ đo lượng oxy trong máu

( không hỗ trợ vùng miền )

  • Apple Watch (2015–2016)
  • Apple Watch Series 1 (2016–2018)
  • Apple Watch Series 2 (2016–2017)
  • Apple Watch Series 3 (2017– nay)
  • Apple Watch Series 4 (2018–2019)
  • Apple Watch Series 5 (2019 - nay)
  • Apple Watch Series 6 (2020 - nay)
  • Apple Watch SE (2020 - nay)

Các mẫu Apple Watch đã được chia thành năm "bộ sưu tập":

  • Apple Watch (thế hệ 1 - nay) (Apple Watch làm bằng vỏ nhôm hoặc thép không gỉ và nhiều dây đeo đồng hồ khác nhau),
  • Apple Watch Sport (thế hệ 1) (Apple Watch Sport làm bằng vỏ nhôm và dây đeo thể thao hoặc dây nylon dệt),
  • Apple Watch Nike + (Series 2 - hiện tại) (Apple Watch Nike + làm bằng vỏ nhôm và dây đeo thể thao Nike hoặc vòng thể thao),
  • Apple Watch Hermès (thế hệ 1 - nay) (Apple Watch Hermès sử dụng vỏ thép không gỉ và dây đeo bằng da Hermès, cũng bao gồm một dây đeo thể thao màu cam Hermès độc quyền),
  • Apple Watch Edition (thế hệ 1 - Series 3, Series 5) (Apple Watch Edition làm bằng vỏ gốm hay titan, phiên bản Apple Watch thế hệ 1 sử dụng vàng 18 karat hoặc vàng hồng).

So sánh các thế hệSửa đổi

Chức năng Thế hệ đầu tiên Series 1 Series 2 Series 3 Series 4 Series 5
Vi xử lý (SoC) Apple S1 Apple S1P Apple S2 Apple S3 Apple S4 Apple S5
Định vị vệ tinh Không Global Positioning System (GPS) và GLONASS Global Positioning System (GPS), GLONASS, Galileo, và QZSS
4G (LTE / UMTS) Không Tùy chọn (eSIM)
Chuẩn kháng nước IPX7 (lên tới 1m) ISO 22810:2010 chống nước (lên tới 50 m)
Băng tần Wi-Fi Wi-Fi (802.11 b/g/n 2.4 GHz)
Bluetooth Bluetooth 4.0 Bluetooth 4.2 Bluetooth 5.0
Cảm biến nhịp tim
Cảm biến điện tim (ECG/EKG) Không
Gia tốc kế 16g 32g
Con quay hồi chuyển Cải tiến
Cảm biến ánh sáng
Máy đo độ cao Không
La bàn Không
"Siri Speaks" và "Raise to Speak" Không
Màn hình và độ sáng OLED Retina với Force Touch (450 nits) Second-generation OLED Retina display with Force Touch (1000 nits) LTPO OLED Retina display with Force Touch (1000 nits) LTPO OLED Always-on Retina display with Force Touch (1000 nits)
Mật độ điểm ảnh 326 ppi
Kích thước màn hình 38mm (case height): 1.337in (diagonal) with 272x340 pixels 40mm (case height): 1.533in (diagonal) with 324x394 pixels (viewable area reduced by rounded corners)
42mm (case height): 1.566in (diagonal) with 312x390 pixels 44mm (case height): 1.780in (diagonal) with 368x448 pixels (viewable area reduced by rounded corners)
Bộ xử lý trung tâm (CPU) 520 MHz Single-Core 780 MHz Dual-Core[citation needed] Dual-Core 64-bit Dual-Core
ROM 8 GB Non-LTE: 8 GB

LTE: 16 GB

16 GB 32 GB
Random Access Memory (RAM) 512 MB DRAM 768 MB DRAM 1 GB DRAM
Hệ điều hành watchOS 1 to 4 watchOS 3 to 6 watchOS 4 to 6 watchOS 5 to 6 watchOS 6
iPhone ghép đôi iPhone 5 trở lên, chạy iOS 8.2 trở lên iPhone 5 trở lên, chạy iOS 10 trở lên Non-LTE: iPhone 5S trở lên, chạy iOS 11 trở lên

LTE: iPhone 6 trở lên, chạy iOS 11 trở lên

Non-LTE: iPhone 5S trở lên, chạy iOS 12 trở lên

LTE: iPhone 6 trở lên, chạy iOS 12 trở lên

iPhone 6s trở lên, chạy iOS 13 trở lên
Pin 205 mA·h, 3.8 V, 0.78 W·h battery capacity (38 mm)[citation needed]

250 mA·h, 3.78 V, 0.93 W·h battery capacity (42 mm)[citation needed]

273 mA·h, 3.77 V, 1.03 W·h battery capacity (38 mm)[citation needed]

334 mA·h, 3.80 V, 1.27 W·h battery capacity (42 mm)[citation needed]

Non-LTE: 262 mA·h, 3.81 V, 1.00 W·h battery capacity (38 mm)

342 mA·h, 3.82 V, 1.31 W·h battery capacity (42 mm)

LTE: 279 mA·h, 3.82 V, 1.07 W·h battery capacity (38 mm)

352 mA·h,  3.82 V, 1.34 W·h battery capacity (42 mm)

40 mm: 224.9 mA·h, 3.81 V, 0.858 W·h battery capacity

44 mm: 291.8 mA·h, 3.81 V, 1.113 W·h battery capacity

40 mm: 245 mA·h, 3.85 V, 0.944 W·h battery capacity

44 mm: 296 mA·h, 3.814 V, 1.129 W·h battery capacity

Cân nặng 25g tới 69g 25g tới 30g 28.2g tới 52.4g 26.7g tới 52.8g 30.1g tới 47.9g 30.8g tới 47.8g
Khí thải nhà kính 50 kg CO2e 20 kg CO2e 30 kg CO2e Non-LTE: 28 kg CO2e

LTE: 36 kg CO2e

Non-LTE: 38 kg CO2e

LTE: 39 kg CO2e

All: 40 kg CO2e
Ra mắt tháng 4, 2015 tháng 9, 2016 tháng 9, 2016 tháng 9, 2017 tháng 9, 2018 tháng 9, 2019
Dừng sản xuất tháng 9, 2016 tháng 9, 2018 tháng 9, 2017 tháng 9, 2019
Model A1553 (38mm) A1554 (42mm) A1802 (38mm) A1803 (42mm) A1757 (38mm) A1758 (42mm)

Edition: A1816 (38mm) A1817 (42mm)

GPS: A1858 (38mm) A1859 (42mm)

GPS + Cellular: Châu Mỹ: A1860 (38mm) A1861 (42mm) Châu Âu và châu Á - Thái Bình Dương: A1889 (38mm) A1891 (42mm) Trung Quốc đại lục: A1890 (38mm) A1892 (42mm)

GPS: A1977 (40mm) A1978 (44mm)

GPS + Cellular: Bắc Mỹ: A1975 (40mm) A1976 (44mm) Châu Âu, châu Á, và Trung Quốc: A2007 (40mm) A2008 (44mm)

GPS: A2092 (40mm), A2093 (44mm)

GPS + Cellular: Bắc Mỹ: A2094 (40mm) A2095 (44mm) Châu Âu, châu Á, và Trung Quốc: A2156 (40mm) A2157 (44mm)

FCC ID BCG-E2870 BCG-E2871 BCG-E3102 BCG-E3103 BCG-E3104 BCG-E3105 BCG-A1858 BCG-A1859 BCG-A1860 BCG-A1861 BCG-A1889 BCG-A1891 BCG-A1890 BCG-A1892 BCG-A1977 BCG-A1978 BCG-A1975 BCG-A1976 BCG-A2007 BCG-A2008 BCG-A2092 BCG-A2093 BCG-A2094 BCG-A2095 BCG-A2156 BCG-A2157
Giá khởi điểm (tại Mỹ) $349 $269 $369 $329 $399 $399

Xem thêm

Phần cứngSửa đổi

Thế hệ đầu tiênSửa đổi

Apple Watch thế hệ đầu tiên (thường được gọi là Series 0) sử dụng chip hệ thống S1 lõi đơn. Nó không có chip GPS tích hợp, thay vào đó dựa vào iPhone được ghép nối cho các dịch vụ định vị. Nó sử dụng một cơ cấu chấp hành theo chuyển động thẳng được gọi là "Taptic Engine" để cung cấp phản hồi xúc giác khi nhận được cảnh báo hoặc thông báo và được sử dụng cho các mục đích khác bởi các ứng dụng nhất định.[5] Đồng hồ được trang bị cảm biến nhịp tim tích hợp, sử dụng cả tia hồng ngoại và đèn LEDđiốt quang.[13] Tất cả các phiên bản của Apple Watch thế hệ đầu tiên đều có 8 GB dung lượng lưu trữ; hệ điều hành cho phép người dùng lưu trữ tối đa 2 GB nhạc và 75 MB ảnh. Khi Apple Watch được ghép nối với iPhone, tất cả nhạc trên iPhone đó cũng có sẵn để được kiểm soát và truy cập từ Apple Watch.[14] Hỗ trợ phần mềm cho Apple Watch đầu tiên đã kết thúc với watchOS 4.3.2.

Thế hệ thứ tư (Series 4)Sửa đổi

 
Apple Watch Series 4

Apple Watch Series 4[15] có màn hình lớn hơn với viền mỏng hơn và các góc bo tròn, khung máy tròn hơn, mỏng hơn một chút với mặt sau bằng gốm được thiết kế lại, bộ xử lý lõi kép S4 64 bit mới có khả năng tăng gấp đôi hiệu suất của S3, bộ nhớ trong 16 GB được nâng cấp, các tùy chọn mới để tùy chỉnh mặt đồng hồ và cảm biến điện tim mới hoạt động bằng cách đo sự chênh lệch tiềm năng giữa cổ tay và ngón tay từ tay đối phương vào Mô-đun S4 trong 30 giây. Hệ thống ECG nhận được giấy phép từ Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ, đây là hệ thống đầu tiên dành cho thiết bị tiêu dùng,[16] và được hỗ trợ bởi Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ.[17] Thiết bị này cũng có thể phát hiện ngã và sẽ tự động liên hệ với các dịch vụ khẩn cấp trừ khi người dùng hủy cuộc gọi đi. Micrô được chuyển sang phía đối diện giữa nút bên và núm điều chỉnh kỹ thuật số để cải thiện chất lượng cuộc gọi. Những thay đổi khác bao gồm vương miện kỹ thuật số kết hợp phản hồi xúc giác với Apple Haptic Engine và bao gồm chip không dây W3 mới do Apple thiết kế.

Chiếc đồng hồ nhận được hầu hết các đánh giá tích cực từ các nhà phê bình. TechRadar cho điểm 4,5/5, gọi nó là một trong những chiếc đồng hồ thông minh hàng đầu, đồng thời chỉ trích thời lượng pin quá ngắn.[18] Digital Trends cho điểm 5/5, gọi đây là sản phẩm tốt nhất của Apple và ca ngợi thiết kế, chất lượng xây dựng và phần mềm, cũng chỉ trích thời lượng pin.[19] CNET cho điểm 8,2/10, gọi nó là "đồng hồ thông minh tổng thể tốt nhất hiện nay", đồng thời chỉ trích thời lượng pin và thiếu các tùy chọn mặt đồng hồ.[20] T3 cho điểm 5/5, gọi nó là "đồng hồ thông minh thế hệ tiếp theo thực sự" do thân máy mỏng hơn và màn hình lớn hơn so với Series 3 và các tính năng sức khỏe.[21]

Thế hệ thứ năm (Series 5)Sửa đổi

 
Apple Watch Series 5

Apple Watch Series 5 được công bố vào ngày 10 tháng 9 năm 2019.[22] Những cải tiến chính của nó so với thế hệ trước là việc bổ sung la bànalways-on display với trình điều khiển màn hình công suất thấp có khả năng làm mới tốc độ thấp nhất là một lần mỗi giây. Các tính năng mới bổ sung bao gồm Gọi khẩn cấp quốc tế cho phép thực hiện các cuộc gọi khẩn cấp ở hơn 150 quốc gia, bộ xử lý S5 tiết kiệm năng lượng hơn,[cần dẫn nguồn] cải tiến cảm biến ánh sáng xung quanh và bộ nhớ tăng gấp đôi lên 32 GB. Nó cũng đưa trở lại cấp "Edition", với một mô hình gốm không có trong thế hệ trước và một mô hình titan mới có hai màu: tự nhiên và Space Black.[23]

Series 5 trở lên (bao gồm cả mẫu SE được giới thiệu vào năm 2020) cũng tích hợp chức năng quản lý hiệu suất và pin dựa trên phần cứng và phần mềm nâng cao.[24]

Các nhà phê bình thường đánh giá tích cực về nó. CNET cho thế hệ này điểm 4/5, kết luận, "Apple Watch tiếp tục là một trong những chiếc đồng hồ thông minh tốt nhất, nhưng vẫn còn hạn chế bởi hiện tại là một phụ kiện iPhone."[25] Digital Trends cho điểm 4.5/5.[26] The Verge cho điểm 9/10.[27]

Thế hệ thứ sáu (Series 6 và SE)Sửa đổi

Apple Watch Series 6 được công bố vào ngày 15 tháng 9 năm 2020, trong một Sự kiện Đặc biệt của Apple và bắt đầu xuất xưởng vào ngày 18 tháng 9. Cải tiến chính của nó so với chiếc đồng hồ tiền nhiệm là bao gồm một cảm biến để theo dõi độ bão hòa oxy trong máu.[28]

Các tính năng bổ sung bao gồm bộ xử lý S6 mới nhanh hơn tới 20% so với S4 và S5,[29] màn hình hiển thị luôn sáng hơn 2,5 lần và máy đo độ cao luôn bật.[30] S6 được tích hợp cảm biến nhịp tim quang học thế hệ thứ ba được cập nhật và công nghệ viễn thông nâng cao, bao gồm hỗ trợ băng thông siêu rộng (UWB) thông qua chip U1 của Apple và khả năng kết nối với mạng Wi-Fi 5 GHz. Đồng hồ Series 6 đã được cập nhật với phần cứng sạc nhanh hơn để hoàn tất quá trình sạc trong ~1,5 giờ.[31] Phần cứng Force Touch bị loại bỏ, nhất quán với việc loại bỏ tất cả chức năng Force Touch khỏi watchOS 7.

Đồng hồ Series 6 có thêm các tùy chọn màu Product Red và Navy Blue.

Tại sự kiện giới thiệu sản phẩm vào tháng 9 năm 2020, Apple cũng đã công bố Apple Watch SE, một mẫu giá rẻ hơn.[29] SE kết hợp cùng một máy đo độ cao luôn bật như Series 6,[32] nhưng sử dụng bộ xử lý S5 thế hệ trước và cảm biến nhịp tim quang học thế hệ trước (tức là thứ hai); không bao gồm điện tâm đồ và cảm biến nồng độ máu hoặc màn hình luôn bật; và không bao gồm khả năng giao tiếp UWB hoặc Wi-Fi 5GHz.

Thế hệ thứ bảy (Series 7)Sửa đổi

Apple Watch Series 7 đã được công bố vào ngày 14 tháng 9 năm 2021, trong một Sự kiện Đặc biệt của Apple.[33] Các đơn đặt hàng trước đã mở vào ngày 8 tháng 10, với ngày giao hàng sớm nhất bắt đầu từ ngày 15 tháng 10.

Những cải tiến so với đồng hồ Series 6 thế hệ trước bao gồm thiết kế tròn trịa hơn với vỏ lớn hơn một chút; màn hình sáng hơn 70% trong nhà và lớn hơn khoảng 20%; cải thiện độ bền thông qua một tinh thể chống nứt phía trước;[34] Chứng nhận IP6X về khả năng chống bụi; Sạc nhanh hơn 33% thông qua thiết bị điện tử bên trong được cải tiến và cáp sạc nhanh dựa trên USB-C nâng cao; hỗ trợ cho BeiDou (hệ thống định vị vệ tinh của Trung Quốc); và tính khả dụng của bàn phím ảo có thể chạm hoặc vuốt.[35] Series 7 cũng được trang bị phần cứng mới cho phép truyền dữ liệu không dây cực nhanh, tầm ngắn ở tốc độ 60,5GHz, mặc dù Apple chưa giải thích đầy đủ về chức năng mới này.[36]

Sau thông báo của Apple về Series 7, một công ty phát triển phần mềm độc lập đã đệ đơn kiện Apple với cáo buộc sao chép không phù hợp chức năng bàn phím phần mềm từ một ứng dụng mà trước đó Apple đã từ chối khỏi App Store của họ.[37][38]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Eva Dou (ngày 20 tháng 6 năm 2014). “Who Is Apple's Watch Maker?”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  2. ^ Kelion, Leo (ngày 10 tháng 3 năm 2015). “Apple Watch prices and apps revealed”. BBC News Online. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
  3. ^ “Steve T-S on Twitter”.
  4. ^ a b “Teardown shows Apple Watch S1 chip has custom CPU, 512MB RAM, 8GB storage”. AppleInsider. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2015.
  5. ^ a b “Review: The absolutely optional Apple Watch and Watch OS 1.0”. Ars Technica. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2015.
  6. ^ “Apple Watch runs 'most' of iOS 8.2, may use A5-equivalent processor”. AppleInsider. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2015.
  7. ^ “Apple Watch Teardown - iFixit”. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015.
  8. ^ a b Ho, Joshua; Chester, Brandon (ngày 20 tháng 7 năm 2015). “The Apple Watch Review”. AnandTech. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015.
  9. ^ “Etherington, Darrell. "Tim Cook Says Apple Watch Ships In April". TechCrunch. AOL. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2015”.
  10. ^ "Connect your Apple Watch to Wi-Fi for direct online usage — here's how". iMore. ngày 30 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019”.
  11. ^ "Apple Watch is 'world's best selling wearable' with 4.2 million shifted in Q2". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2015.
  12. ^ "Apple Introduces Apple Watch Series 2, The Ultimate Device For A Healthy Life". apple.com. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2016”.
  13. ^ “Your heart rate. What it means, and where on Apple Watch you'll find it.”, Apple Support (bằng tiếng Đức), truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017
  14. ^ Apple Watch includes 8 GB of storage, allows 2 GB of music storage and 75 MB of photos. Retrieved March 11, 2015.
  15. ^ “Apple Watch Series 4: Beautifully redesigned with breakthrough communication, fitness and health capabilities”. Apple Inc. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018.
  16. ^ “Apple Watch now offers ECG, the first over-the-counter consumer device to do so”. 9to5Mac. 12 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2018.
  17. ^ Goode, Lauren (12 tháng 9 năm 2018). “Apple Watch's Update Adds Heart-Monitoring Capabilities”. Wired. ISSN 1059-1028. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2018.
  18. ^ Beavis 2019-09-18T13:18:06Z, Gareth. “Apple Watch 4 review”. TechRadar (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
  19. ^ “Apple Watch Series 4 review”. www.digitaltrends.com. 12 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
  20. ^ Stein, Scott. “Apple Watch Series 4 review: ECG, and a lot of refinements”. CNET (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
  21. ^ Bolton 2019-11-15T15:20:08Z, Matthew. “Apple Watch Series 4 review”. T3 (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
  22. ^ “Apple unveils Apple Watch Series 5”. Apple Inc. 10 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2021.
  23. ^ “Apple Watch Edition”. Apple Inc. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2019.
  24. ^ “Apple Watch Battery and Performance”. Apple Inc. 17 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2021. Apple Watch SE and Apple Watch Series 5 and later have built-in software and hardware systems that help reduce performance impacts that may be noticed in certain conditions such as a battery with a low state of charge, a high peak power situation, or a chemically aged battery. The system is automatic, always-on, and works to provide the best possible performance. Power needs are dynamically monitored, and performance is managed to address these needs in real time. The system allows Apple Watch SE and Apple Watch Series 5 and later to balance and reduce performance impacts as much as possible.
  25. ^ Stein, Scott. “Apple Watch Series 5, revisited: still the best smartwatch”. CNET (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2019.
  26. ^ “Apple Watch Series 5 review: A smartwatch close to perfection”. www.digitaltrends.com. 8 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2019.
  27. ^ Bohn, Dieter (18 tháng 9 năm 2019). “Apple Watch Series 5 review: the best smartwatch”. The Verge (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2019.
  28. ^ “Apple announces Apple Watch Series 6 with ability to measure blood oxygen levels”. The Verge (bằng tiếng Anh). 15 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2020.
  29. ^ a b “What did Apple Reveal during their September 2020 Keynote? We summarised”. www.techlunar.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2020.
  30. ^ “Apple Event: September 15, 2020”. Apple Inc. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2020.
  31. ^ “Apple Watch Series 6 delivers breakthrough wellness and fitness capabilities”. Apple, Inc. 15 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2021.
  32. ^ “Apple Watch SE: The ultimate combination of design, function, and value”. Apple Inc. 15 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2021.
  33. ^ Chen, Brian (14 tháng 9 năm 2021). “The New Apple Watch Once Again Emphasizes Fitness”. New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2021.
  34. ^ Charlton, Hartley (4 tháng 10 năm 2021). “Apple Watch Series 6 vs. Apple Watch Series 7: Should You Upgrade?”. MacRumors. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2021.
  35. ^ Fathi, Sami (15 tháng 9 năm 2021). “Apple Watch Series 7 Tidbits: S7 Chip, Storage Remains 32GB, USB-C Fast Charging Cable in the Box, and More”. MacRumors. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2021.
  36. ^ Rossignol, Joe (23 tháng 9 năm 2021). “Apple Watch Series 7 Supports 60.5GHz Wireless Data Transfer, But Likely for Apple's Internal Use Only”. MacRumors. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2021.
  37. ^ Immanni, Manikanta (16 tháng 9 năm 2021). “Apple Faces Lawsuit Over Copying Keyboard in Watch Series 7”. TechDator (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2021.
  38. ^ Hollister, Sean (16 tháng 9 năm 2021). “The bitter lawsuit hanging over the Apple Watch's new swipe keyboard”. The Verge (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2021.

Liên kếtSửa đổi