Danh sách đĩa nhạc của Katy Perry

Ca sĩ người Mỹ Katy Perry đã phát hành 6 album phòng thu, một album trực tiếp, 6 đĩa mở rộng (EP), 34 đĩa đơn (bao gồm bốn đĩa đơn hợp tác) và 8 đĩa đơn quảng bá. Perry hiện đã bán được hơn 105 triệu đĩa đơn kỹ thuật số và 11 triệu album tại Hoa Kỳ. Cô cũng là nghệ sĩ có lượng đĩa đơn kỹ thuật số bán chạy thứ ba tại Hoa Kỳ theo Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA).[1][2] Trong suốt sự nghiệp của mình, Perry đã tiêu thụ hơn 18 triệu album và 125 triệu đĩa đơn trên toàn cầu.[3] Cô hiện đang giữ kỷ lục nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn tiêu thụ 5 triệu bản nhất ở Hoa Kỳ, với 6 đĩa đơn bao gồm: "Hot n Cold", "California Gurls", "Firework", "E.T.", "Roar" và "Dark Horse".[4] Perry cũng giữ kỷ lục tương tự với số bài hát bán được 6 triệu bản, với ba bài hát —"Firework", "Roar" và "Dark Horse"—bán được hơn 6 triệu bản.[5] Cả ba cũng nhận được chứng chỉ đĩa Kim cương từ RIAA, biến cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên đạt thành tích này.[6]

Danh sách đĩa nhạc của Katy Perry
Katy Perry, Witness Tour, Bell Center, Montréal, 19 September 2017 (8) (36500868664).jpg
Katy Perry trong chuyến lưu diễn Witness: The Tour của cô vào năm 2018.
Album phòng thu6
Album trực tiếp1
EP6
Đĩa đơn34
Đĩa đơn quảng bá8

Ở tuổi 16, cô phát hành album nhạc Phúc âm cùng tên vào tháng 3 năm 2001 với tên thật của mình là Katy Hudson. Album này thất bại về mặt thương mại khi không lọt vào bảng xếp hạng ở bất cứ thị trường âm nhạc nào.[7] Sau khi Perry ký hợp đồng với hãng đĩa Capitol Records vào tháng 4 năm 2007, cô phát hành album thứ hai One of the Boys vào tháng 6 năm 2008.[8] Album cho ra các đĩa đơn "I Kissed a Girl" và "Hot n Cold" đều đứng đầu các bảng xếp hạng ở Áo, Canada, Đức và Thụy Sĩ, đồng thời giành được chứng nhận Bạch kim từ RIAA. Album lọt vào top 10 ở Hoa Kỳ, Áo, Canada, Pháp, Đức và Thụy Sĩ. Trong suốt năm 2009 và 2010, Perry góp giọng trong hai đĩa đơn hợp tác, gồm "Starstrukk" của 3OH!3 và "If We Ever Meet Again" của Timbaland. Cả hai đĩa đơn đều lọt vào top 10 ở Úc và Vương quốc Anh cũng như đứng đầu bảng xếp hạng ở New Zealand. Perry còn biểu diễn trong chương trình MTV Unplugged, album trực tiếp cùng tên được phát hành vào tháng 11 năm 2009.

Album phòng thu thứ ba của Perry, Teenage Dream ra mắt vào tháng 8 năm 2010 và đứng đầu các bảng xếp hạng tại Hoa Kỳ, Úc, Áo, Canada, New Zealand và Vương quốc Anh. Với các đĩa đơn "California Gurls", "Teenage Dream", "Firework", "E.T." và "Last Friday Night (T.G.I.F.)" đều nắm ngôi quán quân Billboard Hot 100, Perry trở thành người phụ nữ đầu tiên và là nghệ sĩ thứ hai sau Michael Jackson có 5 đĩa đơn quán quân tại Hoa Kỳ trong cùng một album.[9] Album được tái bản vào năm 2012 với tên gọi Teenage Dream: The Complete Confection. Các đĩa đơn của album này là "Part of Me" và "Wide Awake" đều đạt vị trí đầu bảng ở Canada và New Zealand. Album phòng thu thứ tư của cô, Prism, được phát hành vào tháng 10 năm 2013. Prism đã trở thành một album thành công quốc tế, vọt lên vị trí đầu bảng xếp hạng tại Úc, Canada, New Zealand, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Hai đĩa đơn "Roar" và "Dark Horse" đều giành ngôi đầu bảng tại Hoa Kỳ và Canada. Tại Vương quốc Anh, "Roar" cũng trở thành bài hát thứ hai của cô bán được hơn 1 triệu đơn vị sau "Firework".[10] Ba năm sau, cô phát hành bài hát chủ đề cho Thế vận hội Mùa hè 2016 với tựa đề "Rise", đĩa đơn này đã mở màn tại vị trí quán quân tại Úc.[11] Album phòng thu thứ năm của Perry có nhan đề Witness trình làng vào tháng 6 năm 2017. Witness tiếp tục đứng đầu các bảng xếp hạng tại Hoa Kỳ và Canada, album cũng cho ra mắt các đĩa đơn ăn khách "Chained to the Rhythm" - đạt vị trí số bốn trên Billboard Hot 100. Cùng vào năm đó, cô góp giọng trong bài hát "Feels" của Calvin Harris cùng Big SeanPharrell Williams - trích ra từ album Funk Wav Bounces Vol. 1, bài hát giành ngôi đầu bảng xếp hạng tại Vương quốc Anh. Năm 2018, cô phát hành đĩa đơn Giáng Sinh "Cozy Little Christmas". Nối tiếp sau đó là các đĩa đơn hợp tác, gồm "Con Calma (Remix)" (cùng Daddy YankeeSnow) và "365" (cùng Zedd). Cô phát hành các đĩa đơn độc lập "Never Really Over", "Small Talk" và "Harleys in Hawaii" trong năm 2019.[12][13][14] Smile phát hành nối tiếp vào một năm sau, vào tháng 8 năm 2020 và là album phòng thu thứ sáu của Perry. Perry hợp tác cùng Nintendo phát hành bài hát "Electric" - đĩa đơn mở đầu cho album kỷ niệm 25 năm thương hiệu Pokémon.

AlbumSửa đổi

Album phòng thuSửa đổi

Danh sách các album với vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng, chứng nhận theo doanh số tiêu thụ album
Tựa đề Chi tiết album Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Doanh số Chứng nhận
Mỹ
[15]
Úc
[16]
Áo
[17]
Canada
[18]
Pháp
[19]
Đức
[20]
Ý
[21]
New Zealand
[22]
Thụy Sĩ
[23]
Anh
[24]
Katy Hudson
  • Thế giới: ~200[a]
One of the Boys 9 11 6 6 10 7 23 17 6 11
  • Thế giới: 7,000,000[b]
  • Mỹ: 1,730,000[c]
  • Pháp: 200,000[d]
  • Anh: 700,261[e]
Teenage Dream
  • Phát hành: 24 tháng 8 năm 2010
  • Hãng đĩa: Capitol
  • Định dạng: LP, CD, tải kỹ thuật số
1 1 1 1 3 5 3 1 4 1
  • Thế giới: 6,000,000[f]
  • Mỹ: 3,100,000[g]
  • Canada: 376,000[h]
  • Pháp: 200,000[i]
  • Anh: 1,308,384[j]
  • RIAA: 8× Bạch kim[1]
  • ARIA: 4× Bạch kim[41]
  • BPI: 5× Bạch kim[31]
  • BVMI: Bạch kim[32]
  • FIMI: Bạch kim[33]
  • IFPI AUT: Vàng[34]
  • IFPI SWI: Vàng[35]
  • MC: 4× Bạch kim[36]
  • RMNZ: 3× Bạch kim[42]
  • SNEP: 2× Bạch kim[38]
Prism
  • Phát hành: 18 tháng 10 năm 2013
  • Hãng đĩa: Capitol
  • Định dạng: LP, CD, tải kỹ thuật số
1 1 3 1 4 4 5 1 2 1
  • Thế giới: 4,000,000[k]
  • Mỹ: 1,740,000[l]
  • Úc: 179,000[m]
  • Canada: 40,000[n]
  • Pháp: 140,000[o]
  • Anh: 440,272[p]
  • RIAA: 2× Bạch kim[1]
  • ARIA: 5× Bạch kim[47]
  • BPI: Bạch kim[31]
  • BVMI: Vàng[32]
  • FIMI: Bạch kim[33]
  • IFPI AUT: 3× Bạch kim[34]
  • IFPI SWI: Vàng[35]
  • MC: 3× Bạch kim[36]
  • RMNZ: 2× Bạch kim[48]
  • SNEP: Bạch kim[38]
Witness
  • Phát hành: 9 tháng 6 năm 2017
  • Hãng đĩa: Capitol
  • Định dạng: LP, CD, tải kỹ thuật số, phát trực tuyến
1 2 6 1 4 10 6 2 7 6
  • Thế giới: ~900,000[q]
  • Mỹ: 311,000[r]
  • Úc: 7,863[s]
  • Canada: 23,000[t]
  • Pháp: 30,000+[u]
  • Anh: ~60,000[v]
Smile
  • Phát hành: 28 tháng 8 năm 2020
  • Hãng đĩa: Capitol
  • Định dạng: LP, CD, cassette, tải kỹ thuật số, phát trực tuyến
5 2 8 5 17 14 10 4 8 5
  • Mỹ: 67,000[w]
"—" Album không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành ở quốc gia đó.

Tái phát hànhSửa đổi

Danh sách các album tái phát hành với vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng, chứng nhận theo doanh số tiêu thụ album
Tựa đề Chi tiết album Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Doanh số
Mỹ
[15]
Úc
[16]
Bỉ
(FL)

[56]
Bỉ
(WA)

[56]
Phần Lan
[57]
Pháp
[19]
Hà Lan
[58]
New Zealand
[22]
Thụy Điển
[59]
Anh
[24]
Teenage Dream:
The Complete Confection
  • Phát hành: 23 tháng 3 năm 2012
  • Hãng đĩa: Capitol
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số
7 5 14 29 18 4 44 2 47 6
  • Thế giới: 1,000,000[x]

Album trực tiếpSửa đổi

Danh sách các album với vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng
Tựa đề Chi tiết album Vị trí cao nhất Doanh số
Mỹ
[15]
Pháp
[61]
Thụy Sĩ
[23]
MTV Unplugged
  • Phát hành: 17 tháng 11 năm 2009[62]
  • Hãng đĩa: Capitol
  • Định dạng: DVD, CD, tải kỹ thuật số
168 192 82
  • Mỹ: 63,000[y]

Đĩa mở rộngSửa đổi

Danh sách đĩa mở rộng
Tựa đề Chi tiết
Ur So Gay
  • Phát hành: 20 tháng 11 năm 2007[63]
  • Hãng đĩa: Capitol
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số, CD
The Hello Katy Australian Tour EP
  • Phát hành: 7 tháng 8 năm 2009[64]
  • Hãng đĩa: Capitol
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số
Camp Katy
  • Phát hành: 15 tháng 10 năm 2020[65]
  • Hãng đĩa: Capitol
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số, phát trực tuyến
Scorpio SZN
  • Phát hành: 26 tháng 10 năm 2020[66]
  • Hãng đĩa: Capitol
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số, phát trực tuyến
Empowered
  • Phát hành: 3 tháng 11 năm 2020[67]
  • Hãng đĩa: Capitol
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số, phát trực tuyến
Cosmic Energy
  • Phát hành: 18 tháng 12 năm 2020[68]
  • Hãng đĩa: Universal
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số, phát trực tuyến

Đĩa đơnSửa đổi

Với vai trò là nghệ sĩ chínhSửa đổi

Danh sách các đĩa đơn hát chính với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và album gốc
Tựa đề Năm Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Doanh số Chứng nhận Album
Mỹ
[69]
Úc
[16]
Áo
[17]
Canada
[70]
Pháp
[19]
Đức
[71]
Ý
[72]
New Zealand
[22]
Thụy Sĩ
[23]
Anh
[24]
"I Kissed a Girl" 2008 1 1 1 1 5 1 1 1 1 1
  • Thế giới: 5,700,000[z]
  • Mỹ: 4,800,000[aa]
  • Canada: 159,000[ab]
  • Pháp: 160,000[ac]
  • Anh: 706,000[ad]
  • RIAA: 6× Bạch kim[1]
  • ARIA: 3× Bạch kim[77]
  • BPI: Bạch kim[31]
  • BVMI: 3× Vàng[32]
  • FIMI: Vàng[33]
  • IFPI AUT: Bạch kim[34]
  • IFPI SWI: Bạch kim[35]
  • MC: 7× Bạch kim[36]
  • RMNZ: Bạch kim[78]
  • SNEP: Vàng[79]
One of the Boys
"Hot n Cold" 3 4 1 1 10 1 2 5 1 4
  • RIAA: 8× Bạch kim[1]
  • ARIA: 5× Bạch kim[77]
  • BPI: Bạch kim[31]
  • BVMI: 3× Vàng[32]
  • FIMI: Vàng[33]
  • IFPI AUT: Bạch kim[34]
  • IFPI SWI: Bạch kim[35]
  • MC: 6× Bạch kim[36]
  • RMNZ: Bạch kim[81]
"Thinking of You" 2009 29 34 18 24 11 19 14 45 27
"Waking Up in Vegas" 9 11 26 2 33 9 69 19
"California Gurls"
(hợp tác với Snoop Dogg)
2010 1 1 3 1 5 3 3 1 4 1
  • Thế giới: 6,700,000[ak]
  • Mỹ: 5,900,000[al]
  • Pháp: 140,000[am]
  • Anh: 780,787[an]
  • RIAA: 8× Bạch kim[1]
  • ARIA: 6× Bạch kim[85]
  • BPI: Bạch kim[86]
  • BVMI: Bạch kim[32]
  • FIMI: Bạch kim[33]
  • IFPI AUT: Bạch kim[34]
  • IFPI SWI: Bạch kim[35]
  • MC: 4× Bạch kim[36]
  • RMNZ: 2× Bạch kim[78]
Teenage Dream
"Teenage Dream" 1 2 2 2 75 6 9 1 8 2
  • RIAA: 8x Bạch kim[1]
  • ARIA: 6× Bạch kim[77]
  • BPI: Bạch kim[31]
  • BVMI: Vàng[32]
  • FIMI: Vàng[33]
  • IFPI AUT: Vàng[34]
  • MC: 4× Bạch kim[36]
  • RMNZ: Bạch kim[87]
"Firework" 1 3 3 1 7 4 4 1 3 3
  • RIAA: 12x Bạch kim[1]
  • ARIA: 8× Bạch kim[77]
  • BPI: 2× Bạch kim[31]
  • BVMI: Bạch kim[32]
  • FIMI: 2× Bạch kim[33]
  • IFPI AUT: Vàng[34]
  • IFPI SWI: Vàng[35]
  • MC: 6× Bạch kim[36]
  • RMNZ: 2× Bạch kim[89]
"E.T."
(hợp tác với Kanye West)
2011 1 5 7 1 10 9 9 1 14 3
  • RIAA: 8× Bạch kim[1]
  • ARIA: 3× Bạch kim[85]
  • BPI: Bạch kim[31]
  • BVMI: Vàng[32]
  • FIMI: Bạch kim[33]
  • IFPI AUT: Vàng[34]
  • MC: 4× Bạch kim[36]
  • RMNZ: Bạch kim[90]
"Last Friday Night (T.G.I.F.)" 1 5 7 1 22 15 9 4 20 9
  • RIAA: 6× Bạch kim[1]
  • ARIA: 3× Bạch kim[85]
  • BPI: Bạch kim[31]
  • BVMI: Vàng[32]
  • FIMI: Bạch kim[33]
  • IFPI SWI: Vàng[35]
  • MC: 4× Bạch kim[36]
  • RMNZ: Bạch kim[91]
"The One That Got Away" 3 27 19 2 30 34 39 12 33 18
  • RIAA: 4× Bạch kim[1]
  • ARIA: 2× Bạch kim[77]
  • BPI: Bạch kim[31]
  • FIMI: Vàng[33]
  • MC: 2× Bạch kim[36]
  • RMNZ: Vàng[93]
"Part of Me" 2012 1 5 18 1 13 20 14 1 33 1
  • RIAA: 4× Bạch kim[1]
  • ARIA: 3× Bạch kim[95]
  • BPI: Bạch kim[31]
  • FIMI: Vàng[33]
  • MC: 3× Bạch kim[36]
  • RMNZ: Bạch kim[96]
Teenage Dream:
The Complete Confection
"Wide Awake" 2 4 28 1 33 39 11 1 21 9
  • RIAA: 5× Bạch kim[1]
  • ARIA: 6× Bạch kim[77]
  • BPI: Vàng[31]
  • FIMI: Bạch kim[33]
  • MC: 3× Bạch kim[36]
  • RMNZ: Bạch kim[97]
"Hummingbird Heartbeat"[98][99] Teenage Dream
"Roar" 2013 1 1 1 1 5 2 4 1 3 1
  • RIAA: Kim cương[1]
  • ARIA: 11× Bạch kim[100]
  • BPI: 3× Bạch kim[31]
  • BVMI: 3× Vàng[32]
  • FIMI: 2× Bạch kim[33]
  • IFPI AUT: Bạch kim[34]
  • MC: 9× Bạch kim[36]
  • RMNZ: 4× Bạch kim[101]
Prism
"Unconditionally" 14 11 16 13 38 22 6 26 27 25
"Dark Horse"
(hợp tác với Juicy J)
1 [bh] 2 1 6 6 5 2 4 4
  • Thế giới: 13,200,000[bi]
  • Mỹ: 6,400,000[bj]
  • Canada: 391,000[bk]
  • Pháp: 75,000[bl]
  • Anh: 591,000[bm]
  • RIAA: Kim cương[1]
  • BPI: 2× Bạch kim[31]
  • BVMI: 3× Vàng[32]
  • FIMI: 3× Bạch kim[33]
  • MC: 7× Bạch kim[36]
  • RMNZ: 2× Bạch kim[101]
"Birthday" 2014 17 25 51 7 57 69 49 17 22
  • Thế giới: 1,000,000[bn]
"This Is How We Do" 24 18 14 9 41 34 41 13 41 33
"Rise" 2016 11 1 23 13 3 39 51 26 15 25 Đĩa đơn không album
"Chained to the Rhythm"
(hợp tác với Skip Marley)
2017 4 4 7 3 3 6 10 8 6 5
  • RIAA: 2× Bạch kim[1]
  • ARIA: 2× Bạch kim[115]
  • BPI: Bạch kim[31]
  • BVMI: Vàng[32]
  • FIMI: 2× Bạch kim[33]
  • MC: 3× Bạch kim[36]
  • RMNZ: Vàng[116]
  • SNEP: Bạch kim[117]
Witness
"Bon Appétit"
(hợp tác với Migos)
59 35 64 14 9 47 48 [bv] 36 37
"Swish Swish"
(hợp tác với Nicki Minaj)
46 22 69 13 24 76 73 [by] 46 19
"Save as Draft"
"Hey Hey Hey" 2018 [ca]
"Cozy Little Christmas" 53 47 22 Đĩa đơn không albums
"365"
(với Zedd)
2019 86 38 70 52 129 72 68 [cb] 59 37
"Con Calma (Remix)"
(với Daddy Yankee hợp tác cùng Snow)
22 6 66
"Never Really Over" 15 7 29 7 102 47 32 14 21 12 Smile
"Small Talk"[cc] 81 33 56 [cd] 91 43 Đĩa đơn không album
"Harleys in Hawaii" [ce] 36 71 [cf] 72 45 Smile
"Never Worn White"[cg] 2020 [ch] 79 95 [ci] 97 Đĩa đơn không album
"Daisies" 40 37 64 37 70 [cj] 57 37 Smile
"Smile" [ck] [cl] [cm] 73
"Not the End of the World"
"Electric" 2021 [cn] 97 [co] Pokémon 25: The Album
"—" Bài hát không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành ở quốc gia đó.

Với vai trò là nghệ sĩ hợp tácSửa đổi

Danh sách các đĩa đơn hợp tác với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và album gốc
Tựa đề Năm Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Doanh số Chứng nhận Album
Mỹ
[138]
Úc
[16]
Áo
[17]
Bỉ
(FL)

[139]
Bỉ
(WA)

[56]
Canada
[140]
Đan Mạch
[141]
New Zealand
[22]
Thụy Sĩ
[59]
Anh
[142]
"Starstruckk"
(3OH!3 hợp tác với Katy Perry)
2009 66 4 48 21 2 31 39 16 55 3 Want
"If We Ever Meet Again"
(Timbaland hợp tác với Katy Perry)
37 9 10 12 8 4 22 1 19 3 Shock Value II
"Who You Love"
(John Mayer hợp tác với Katy Perry)
2013 48 83 70 Paradise Valley
"Feels"
(Calvin Harris hợp tác với Pharrell Williams, Katy Perry và Big Sean)
2017 20 3 5 3 1 5 4 3 18 1 Funk Wav Bounces Vol. 1
"—" Bài hát không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành ở quốc gia đó.

Đĩa đơn quảng báSửa đổi

Danh sách các đĩa đơn quảng bá với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và album gốc
Tựa đề Năm Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Doanh số Chứng nhận Album
Mỹ
[153]
Áo
[17]
Bỉ
(FL)

[139]
Bỉ
(WA)

[56]
Canada
[154]
Nga
[155]
Pháp
[19]
Ý
[21]
New Zealand
[22]
Anh
[24]
"Ur So Gay" 2007 [ct] One of the Boys
"Not Like the Movies" 2010 53 41 Teenage Dream
"Circle the Drain" 58 30 36
"Peacock" 2012 [cu] 56 125
  • RIAA: Bạch kim[1]
"Walking on Air" 2013 34 35 44 30 12 189 25 20 12 80 Prism
"Every Day Is a Holiday" 2015 Bài hát không album
"Roulette"[159] 2017 18 Witness
"What Makes a Woman" 2020 [cx] Smile
"Cry About It Later" [cy] 739 [cz]
"Resilient (Tiësto Remix)"
(hợp tác với Aitana)[163]
Bài hát không album
"Cry About It Later (Remix)"
(hợp tác với Luísa Sonza và Bruno Martini)
2021 [da]
"—" Bài hát không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành ở quốc gia đó.

Các bài hát được xếp hạng khácSửa đổi

Danh sách các bài hát được xếp hạng khác với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và album gốc
Tựa đề Năm Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Doanh số Chứng nhận Album
Mỹ
Bub.

[130]
Úc
[16]
Canada
Dig.

[161]
Pháp
[165]
Hàn Quốc
[166]
Hà Lan
[58]
Anh
[167]
"One of the Boys" 2008 40 One of the Boys
"If You Can Afford Me" 28
"Dressin' Up" 2012 109 Teenage Dream:
The Complete Confection
"Tommie Sunshine's Megasix Smash-Up" 183
"Legendary Lovers" 2013 69 33
  • Hàn Quốc: 2,330[db]
Prism
"International Smile" 76
  • Hàn Quốc: 2,112[dc]
"Ghost" 100
  • Hàn Quốc: 1,916[dd]
"Love Me" 86
  • Hàn Quốc: 2,007[de]
"This Moment" 82
  • Hàn Quốc: 2,044[df]
"Double Rainbow" 111
  • Hàn Quốc: 1,838[dg]
"By the Grace of God" 10 70 77 179
  • Hàn Quốc: 2,104[dh]
"Spiritual" 127
  • Hàn Quốc: 1,655[di]
"It Takes Two" 114 180
  • Hàn Quốc: 1,809[dj]
"Choose Your Battles" 136
  • Hàn Quốc: 1,587[dk]
"Witness" 2017 165 Witness
"—" Bài hát không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành ở quốc gia đó.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Doanh số bán đĩa trên toàn thế giới của Katy Hudson tính đến năm 2001.[25]
  2. ^ Doanh số bán đĩa trên toàn thế giới của One of the Boys tính đến tháng 8 năm 2010.[26]
  3. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của One of the Boys tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  4. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của One of the Boys tính đến tháng 12 năm 2017.[28]
  5. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của One of the Boys tính đến tháng 6 năm 2017.[29]
  6. ^ Doanh số bán đĩa trên toàn thế giới của Teenage Dream tính đến tháng 7 năm 2013.[39]
  7. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của Teenage Dream tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  8. ^ Doanh số bán đĩa tại Canada của Teenage Dream tính đến tháng 1 năm 2020.[40]
  9. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của Teenage Dream tính đến tháng 12 năm 2017.[28]
  10. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của Teenage Dream tính đến tháng 6 năm 2017.[29]
  11. ^ Doanh số bán đĩa trên toàn thế giới của Prism tính đến tháng 8 năm 2015.[43]
  12. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của Prism tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  13. ^ Doanh số bán đĩa tại Úc của Prism tính đến tháng 1 năm 2014.[44]
  14. ^ Doanh số bán đĩa tại Canada của Prism từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 12 năm 2014[45]
  15. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của Prism tính đến tháng 8 năm 2017.[46]
  16. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của Prism tính đến tháng 6 năm 2017.[29]
  17. ^ Doanh số bán đĩa trên toàn thế giới của Witness tính đến tháng 1 năm 2018.[49]
  18. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của Witness tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  19. ^ Doanh số bán đĩa tại Úc của Witness tính đến tháng 6 năm 2017.[50]
  20. ^ Doanh số bán đĩa tại Canada của Witness tính đến tháng 6 năm 2017.[51]
  21. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của Witness tính đến tháng 3 năm 2018.[52]
  22. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của Witness tính đến tháng 1 năm 2018.[53]
  23. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của Smile tính đến tháng 3 năm 2021.[55]
  24. ^ Doanh số bán đĩa trên toàn thế giới của Teenage Dream: The Complete Confection tính đến năm 2013.[60]
  25. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của MTV Unplugged tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  26. ^ Doanh số bán đĩa trên toàn thế giới của "I Kissed a Girl" tính đến năm 2009.[73]
  27. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "I Kissed a Girl" tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  28. ^ Doanh số bán đĩa tại Canada của "I Kissed a Girl" từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 12 năm 2008.[74]
  29. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của "I Kissed a Girl" tính đến tháng 6 năm 2017.[75]
  30. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "I Kissed a Girl" tính đến tháng 2 năm 2017.[76]
  31. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Hot n Cold" tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  32. ^ Doanh số bán đĩa tại Canada của "Hot n Cold" từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 12 năm 2008.[74]
  33. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của "Hot n Cold" tính đến tháng 6 năm 2017.[75]
  34. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "Hot n Cold" tính đến tháng 10 năm 2013.[80]
  35. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Thinking of You" tính đến tháng 2 năm 2017.[82]
  36. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Waking Up in Vegas" tính đến tháng 2 năm 2017.[82]
  37. ^ Doanh số bán đĩa trên toàn thế giới của "California Gurls" tính đến năm 2011.[84]
  38. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "California Gurls" tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  39. ^ Doanh số bán đĩa tại Phấp của "California Gurls" tính đến tháng 6 năm 2017.[75]
  40. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "California Gurls" tính đến tháng 10 năm 2013.[80]
  41. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Teenage Dream" tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  42. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của "Teenage Dream" tính đến tháng 6 năm 2017.[75]
  43. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Firework" tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  44. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của "Firework" tính đến tháng 6 năm 2017.[75]
  45. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "Firework" tính đến tháng 9 năm 2017.[88]
  46. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "E.T." tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  47. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của "E.T." tính đến tháng 6 năm 2017.[75]
  48. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Last Friday Night (T.G.I.F.)" tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  49. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "The One That Got Away" tính đến tháng 2 năm 2017.[82]
  50. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "The One That Got Away" tính đến tháng 8 năm 2013.[92]
  51. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Part of Me" tính đến tháng 2 năm 2017.[82]
  52. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "Part of Me" tính đến tháng 3 năm 2012.[94]
  53. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Wide Awake" tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  54. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "Wide Awake" tính đến tháng 8 năm 2013.[92]
  55. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Roar" tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  56. ^ Doanh số bán đĩa tại Úc của "Roar" tính đến tháng 1 năm 2014.[44]
  57. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của "Roar" tính đến tháng 6 năm 2017.[75]
  58. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "Roar" tính đến tháng 9 năm 2017.[88]
  59. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Unconditionally" tính đến tháng 2 năm 2017.[82]
  60. ^ "Dark Horse" không xếp hạng trên ARIA Singles Chart[103] nhưng đạt vị trí thứ 5 trên ARIA Digital Tracks Chart.
  61. ^ Doanh số bán đĩa trên toàn thế giới của "Dark Horse" tính đến tháng 6 năm 2015.[104]
  62. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Dark Horse" tính đến tháng 8 năm 2020.[27]
  63. ^ Doanh số bán đĩa tại Canada của "Dark Horse" từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 12 năm 2014.[45]
  64. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của "Dark Horse" tính đến tháng 6 năm 2017.[75]
  65. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "Dark Horse" tính đến tháng 2 năm 2017.[76]
  66. ^ Doanh số bán đĩa trên toàn thế giới của "Birthday" tính đến tháng 5 năm 2018.[105]
  67. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "This Is How We Do" tính đến tháng 11 năm 2014.[106]
  68. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Rise" tính đến tháng 6 năm 2016.[107]
  69. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "Rise" tính đến tháng 6 năm 2016.[108]
  70. ^ Doanh số bán đĩa trên toàn thế giới của "Chained to the Rhythm" tính đến tháng 8 năm 2017.[110]
  71. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Chained to the Rhythm" tính đến tháng 6 năm 2017.[111]
  72. ^ Doanh số bán đĩa tại Canada của "Chained to the Rhythm" tính đến tháng 1 năm 2018.[112]
  73. ^ Doanh số bán đĩa tại Đức của "Chained to the Rhythm" từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2017.[114]
  74. ^ "Bon Appétit" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 2 trên NZ Heatseeker Singles Chart.[118]
  75. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Bon Appétit" tính đến tháng 6 năm 2017.[111]
  76. ^ Doanh số bán đĩa tại Úc của "Bon Appétit" tính đến tháng 5 năm 2017.[119]
  77. ^ "Swish Swish" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 3 trên NZ Heatseeker Singles Chart.[121]
  78. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Swish Swish" tính đến tháng 9 năm 2017.[122]
  79. ^ "Hey Hey Hey" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 5 trên NZ Heatseeker Singles Chart.[124]
  80. ^ "365" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 3 trên NZ Hot Singles Chart.[125]
  81. ^ "Small Talk" chỉ được thêm vào phiên bản "Fan edition" và phiên bản tiếng Nhật của Smile.[127]
  82. ^ "Small Talk" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí quán quân trên NZ Hot Singles Chart.[128]
  83. ^ "Harleys in Hawaii" không xếp hạng trên Billboard Hot 100, nhưng đạt vị trí thứ 10 trên Bubbling Under Hot 100.[130]
  84. ^ "Harleys in Hawaii" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí quán quân trên NZ Hot Singles Chart.[131]
  85. ^ "Small Talk" chỉ được thêm vào phiên bản "Fan edition" và phiên bản tiếng Nhật của Smile.[127]
  86. ^ "Never Worn White" không xếp hạng trên Billboard Hot 100, nhưng đạt vị trí thứ 12 trên Bubbling Under Hot 100.[130]
  87. ^ "Never Worn White" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 12 trên NZ Hot Singles Chart.[132]
  88. ^ "Daisies" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 3 trên NZ Hot Singles Chart.[133]
  89. ^ "Smile" không xếp hạng trên Billboard Hot 100, nhưng đạt vị trí thứ 21 trên Bubbling Under Hot 100.[130]
  90. ^ "Smile" không xếp hạng trên Canadian Hot 100, nhưng đạt vị trí thứ 23 trên Hot Canadian Digital Song Sales.[134]
  91. ^ "Smile" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 10 trên NZ Hot Singles Chart.[135]
  92. ^ "Electric" không xếp hạng trên Billboard Hot 100, nhưng đạt vị trí thứ 25 trên bảng xếp hạng Digital Songs.[136]
  93. ^ "Electric" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 21 trên NZ Hot Singles Chart.[137]
  94. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "Starstrukk" tính đến tháng 8 năm 2013.[92]
  95. ^ Doanh số bán đĩa tại Pháp của "If We Ever Meet Again" tính đến tháng 6 năm 2017.[75]
  96. ^ Doanh số bán đĩa tại Anh của "If We Ever Meet Again" tính đến tháng 2 năm 2017.[76]
  97. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Feels" tính đến tháng 10 năm 2017.[148]
  98. ^ "Ur So Gay" không xếp hạng trên Billboard Hot 100, nhưng đạt vị trí thứ 21 trên Hot Singles Sales.[156]
  99. ^ "Peacock" không xếp hạng trên Billboard Hot 100, nhưng đạt vị trí thứ 5 trên Bubbling Under Hot 100.[130]
  100. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Peacock" tính đến tháng 8 năm 2013.[157]
  101. ^ Doanh số bán đĩa tại Mỹ của "Walking on Air" tính đến tháng 11 năm 2013.[158]
  102. ^ "What Makes a Woman" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 40 trên NZ Hot Singles Chart.[160]
  103. ^ "Cry About It Later" không xếp hạng trên Canadian Hot 100, nhưng đạt vị trí thứ 34 trên Hot Canadian Digital Song Sales.[161]
  104. ^ "Cry About It Later" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 8 trên NZ Hot Singles Chart.[162]
  105. ^ "Cry About It Later" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 40 trên NZ Hot Singles Chart.[164]
  106. ^ Doanh số bán đĩa tại Hàn Quốc của "Legendary Lovers" tính đến tháng 11 năm 2013.[166]
  107. ^ Doanh số bán đĩa tại Hàn Quốc của "International Smile" tính đến tháng 11 năm 2013.[166]
  108. ^ Doanh số bán đĩa tại Hàn Quốc của "Ghost" tính đến tháng 11 năm 2013.[166]
  109. ^ Doanh số bán đĩa tại Hàn Quốc của "Love Me" tính đến tháng 11 năm 2013.[166]
  110. ^ Doanh số bán đĩa tại Hàn Quốc của "This Moment" tính đến tháng 11 năm 2013.[166]
  111. ^ Doanh số bán đĩa tại Hàn Quốc của "Double Rainbow" tính đến tháng 11 năm 2013..[166]
  112. ^ Doanh số bán đĩa tại Hàn Quốc của "By the Grace of God" tính đến tháng 11 năm 2013.[166]
  113. ^ Doanh số bán đĩa tại Hàn Quốc của "Spiritual" tính đến tháng 11 năm 2013.[166]
  114. ^ Doanh số bán đĩa tại Hàn Quốc của "It Takes Two" tính đến tháng 11 năm 2013.[166]
  115. ^ Doanh số bán đĩa tại Hàn Quốc của "Choose Your Battles" tính đến tháng 11 năm 2013.[166]


Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  • “Katy Perry – Discography”. Allmusic. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2009.
  • “Katy Perry discography”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2009.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab ac ad ae “American certifications – Katy Perry” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.
  2. ^ “RIAA Top Artists (Digital Singles)”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2020.
  3. ^ “Katy Perry coming to Mohegan Sun in September”. The Providence Journal. 15 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2017.
  4. ^ Grein, Paul (21 tháng 5 năm 2014). “MJ Makes Hot 100 History”. Yahoo! Music. Yahoo!. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2014.
  5. ^ Trust, Gary (2 tháng 10 năm 2015). “Ask Billboard: Lady Gaga First Artist With Two 7-Million-Selling Songs”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015.
  6. ^ “Katy Perry Makes Gold & Platinum History”. Recording Industry Association of America. 21 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2017.
  7. ^ “Katy Hudson > Overview”. AllMusic. All Media Network. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  8. ^ Harding, Cortney (13 tháng 9 năm 2009). “Katy Perry Kisses And Tells About Romancing Radio, Selling Songs And Getting Fans To Commit – To Her Album”. Billboard. 145 (17): 34. ISSN 0006-2510.
  9. ^ Trust, Gary (14 tháng 9 năm 2011). “Katy Perry's Sixth 'Teenage Dream' Single Will Be...”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2011.
  10. ^ Copsey, Rob (31 tháng 1 năm 2015). “Katy Perry's Roar hits one million UK sales ahead of Super Bowl Half Time Show”. Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015.
  11. ^ Ryan, Gavin (25 tháng 7 năm 2016). “Australian Singles: Katy Perry 'Rise' Has A Go At No 1”. Noise11.com. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016.
  12. ^ “Katy Perry to release new song Harleys in Hawaii "in the very near future”. Official Charts. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2019.
  13. ^ “Katy Perry's "not making a record" but plans to share new songs "in the very near future". ABC News Radio. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2019.
  14. ^ https://www.officialcharts.com/chart-news/katy-perry-announces-new-single-daisies__29715/
  15. ^ a b c “Katy Perry Chart history: Billboard 200”. Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2018.
  16. ^ a b c d e Peaks in Australia:
  17. ^ a b c d “Austrian Discography Katy Perry” (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  18. ^ “Katy Perry Chart history: Billboard Canadian Albums”. Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2018.
  19. ^ a b c d “Discographie Katy Perry”. lescharts.com (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2009.
  20. ^ “Discographie von Katy Perry”. GfK Entertainment. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2020.
  21. ^ a b “Discography Katy Perry”. italiancharts.com. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014.
  22. ^ a b c d e “New Zealand Discography Katy Perry”. charts.nz. Hung Medien. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  23. ^ a b c “Swiss Discography Katy Perry” (Click on the tab named "Charts") (bằng tiếng Đức). Hitparade.ch. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  24. ^ a b c d “Artist: Katy Perry”. Official Charts Company. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2018.
  25. ^ Summers, Kimberly Dillon (2012). Katy Perry: A Biography. ABC-CLIO. tr. 10. ISBN 978-1-4408-0100-6.
  26. ^ Kaufman, Gil (26 tháng 8 năm 2010). “Katy Perry, Fantasia look to unseat Eminem on charts”. MTV News. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2016.
  27. ^ a b c d e f g h i j k l m n o Trust, Gary (28 tháng 8 năm 2020). “Ask Billboard: Katy Perry's Career Bests, From 'One of the Boys' to 'Smile,' & Every Hot 100 'Idol' Top 10”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2020.
  28. ^ a b “Certified Albums "Platinum" (bằng tiếng Pháp). Infodisc.fr. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2017.
  29. ^ a b c Jones, Alan (16 tháng 6 năm 2017). “Official Charts Analysis: London Grammar enter at No.1”. Music Week. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  30. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2010 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc.
  31. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab “Britain certifications – Katy Perry” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Nhập Katy Perry vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  32. ^ a b c d e f g h i j k l m n o “Gold-/Platin-Datenbank (Katy Perry)” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie.
  33. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x “Italy album certifications – Katy Perry” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) Chọn lệnh "Tutti gli anni" trong bảng chọn "Anno". Nhập "Katy Perry" vào ô "Filtra". Chọn "Album e Compilation" dưới phần "Sezione".
  34. ^ a b c d e f g h i j k l “Austrian certifications – Katy Perry” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Nhập Katy Perry vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhấn Suchen (Tìm)
  35. ^ a b c d e f g h i “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Katy Perry)”. IFPI Switzerland. Hung Medien.
  36. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab “Canada certifications – Katy Perry”. Music Canada.
  37. ^ “NZ Top 40 Albums Chart”. Recorded Music NZ. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  38. ^ a b c d “France album certifications – Katy Perry” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique.
  39. ^ Michaels, Sean (30 tháng 7 năm 2013). “Katy Perry announces new album, Prism, on side of golden lorry”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2016.
  40. ^ “2019 Nielsen Music/MRC Data Canada Year-End Report” (PDF). Nielsen. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2020.
  41. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2011 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc.
  42. ^ “NZ Top 40 Albums Chart”. Recorded Music NZ. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  43. ^ “Third Annual Capitol Congress Presents New Projects, Media Notables”. All Access Music Group. 6 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2015.
  44. ^ a b Adams, Cameron (7 tháng 1 năm 2014). “ARIA album charts: Pink and Katy Perry score highest sellers in Australia in 2013”. Perth Now. Bản gốc lưu trữ 7 Tháng mười một năm 2017. Truy cập 30 tháng Mười năm 2017.
  45. ^ a b “2014 Nielsen Music Canada Report” (PDF). Nielsen SoundScan. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2017.
  46. ^ Ruelle, Yohann (24 tháng 8 năm 2017). 'Swish Swish' clip: Katy Perry thinks she's an NBA star with Nicki Minaj” (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2017.
  47. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2015 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc.
  48. ^ “NZ Top 40 Albums Chart”. Recorded Music NZ. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2014.
  49. ^ Goncalves, Julien (10 tháng 3 năm 2018). “Katy Perry confides on the failure of her latest album 'Witness' (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2018.
  50. ^ Adams, Cameron (25 tháng 6 năm 2017). “Lorde succeeds where Katy Perry failed by knocking Ed Sheeran off the top of the ARIA album chart”. News.com.au. Lưu trữ bản gốc 25 Tháng sáu năm 2017. Truy cập 26 Tháng sáu năm 2017.
  51. ^ “On The Charts: June 19, 2017”. FYIMusicNews. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017.
  52. ^ Goncalves, Julien (4 tháng 3 năm 2018). “Katy Perry is already working on her fifth album” (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2018.
  53. ^ Savage, Mark (16 tháng 1 năm 2018). “Katy Perry in 'tough conversations' with her record label”. BBC News. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018.
  54. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2017 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc.
  55. ^ Stutz, Colin (19 tháng 3 năm 2021). “Katy Perry Planning Las Vegas Residency at Brand-New Casino”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2021.
  56. ^ a b c d “Discografie Katy Perry”. ultratop.be (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2014.
  57. ^ “Katy Perry: Teenage Dream: The Complete Confection” (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2013.
  58. ^ a b “Zoekresultaten: Katy Perry” (bằng tiếng Hà Lan). MegaCharts. Radio 538. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2011.
  59. ^ a b “Discography Katy Perry”. swedishcharts.com. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014.
  60. ^ “Recording Industry in Numbers” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2015.
  61. ^ “Katy Perry dans les charts français”. Lescharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2010.
  62. ^ “MTV Unplugged – Katy Perry”. AllMusic. Rovi Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2011.
  63. ^ “Ur So Gay – EP by Katy Perry”. iTunes. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2017.
  64. ^ “Australian Tour EP – Katy Perry”. iTunes Store. Apple Inc. Bản gốc lưu trữ 13 Tháng mười một năm 2012. Truy cập 22 tháng Chín năm 2011.
  65. ^ “Camp Katy”. Spotify. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
  66. ^ “Scorpio SZN - EP”. Apple Music. 26 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2020.
  67. ^ “Empowered - EP”. Apple Music. 3 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2020.
  68. ^ “Cosmic Energy - EP”. Apple Music. 18 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2020.
  69. ^ “Katy Perry Chart History: The Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2020.
  70. ^ “Katy Perry Chart History: Canadian Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2020.
  71. ^ “Katy Perry: Title Liste”. Offiziellecharts.de. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016.
  72. ^ Peak positions for Katy Perry singles in Italy:
  73. ^ “Top 10 Digital Single Tracks 2008 (see pg. 7)” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. 2009. tr. 7. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018.
  74. ^ a b “2008 Nielsen Music Canada Report”. Nielsen SoundScan. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2017.
  75. ^ a b c d e f g h i Goncalves, Julien (25 tháng 6 năm 2017). “Katy Perry: What are her 10 biggest hits in France?” (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2017.
  76. ^ a b c Copsey, Rob (8 tháng 2 năm 2017). “Katy Perry's Official biggest hits in the UK revealed”. Chart Masters. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2017.
  77. ^ a b c d e f “ARIA Charts – Accreditations – 2013 Singles”. Australian Recording Industry Association. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2013.
  78. ^ a b c “NZ Top 40 Singles Chart”. Recording Industry Association of New Zealand. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  79. ^ “DISQUES D'OR 2009 TRI.xls” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010.
  80. ^ a b Jones, Alan (28 tháng 10 năm 2013). “Official Charts Analysis: Lorde single sells 82k to hit No.1”. Music Week. Intent Media. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2015.
  81. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. Recording Industry Association of New Zealand. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  82. ^ a b c d e Trust, Gary (20 tháng 2 năm 2017). “Ask Billboard: Katy Perry's Career Song & Album Sales”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2017.
  83. ^ a b “ARIA Charts – Accreditations – 2009 Singles”. Australian Recording Industry Association. 31 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010.
  84. ^ “Best Selling Global Digital Singles of 2010 (see pg.13)” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. 2011. tr. 13. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018.
  85. ^ a b c “ARIA Charts – Accreditations – 2011 Singles”. Australian Recording Industry Association. 30 tháng 4 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2011.
  86. ^ a b “Certified Awards Search: Katy Perry”. British Phonographic Industry. Bản gốc (To access, enter the search parameter "California Gurls" and select "Search by: Title") lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2011.
  87. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. Recording Industry Association of New Zealand. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  88. ^ a b Copsey, Rob (19 tháng 9 năm 2017). “The UK's Official Chart 'millionaires' revealed”. Official Charts Company. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2017.
  89. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. Recording Industry Association of New Zealand. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  90. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. Recording Industry Association of New Zealand. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  91. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. Recording Industry Association of New Zealand. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  92. ^ a b c Myers, Justin (23 tháng 8 năm 2013). “Katy Perry's best selling singles revealed!”. Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2017.
  93. ^ “NZ Top 40 Singles – 23 January 2012”. Recording Industry Association of New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013.
  94. ^ “Official Chart Analysis: Paul Weller LP sells 30k, Katy Perry single shifts 79k”. Music Week. 26 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2012.
  95. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Singles”. Australian Recording Industry Association. 29 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2012.
  96. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. Recording Industry Association of New Zealand. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  97. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. Recording Industry Association of New Zealand. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  98. ^ Corner, Lewis; Copsey, Robert (17 tháng 7 năm 2013). “Lady GaGa, Robbie, Kylie: 19 pop singles that should have been”. Digital Spy. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2017.
  99. ^ Gilmore, Thomas. “Chart wrap-up: Pink debuts at #1... again”. The Music Network. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2017.
  100. ^ “The ARIA Report – Issue #1295” (PDF). ARIA Charts. National Library of Australia. 22 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2014.
  101. ^ a b “NZ Top 40 Singles Chart”. Recording Industry Association of New Zealand. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  102. ^ a b c “ARIA Charts – Accreditations – 2014 Singles”. Australian Recording Industry Association. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2014.
  103. ^ Ryan, Gavin (12 tháng 3 năm 2014). “Pharrell Williams Vs INXS On Next Chart MIDWEEK SALES”. Noise11.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2014.
  104. ^ Goncalves, Julien (9 tháng 6 năm 2015). “Katy Perry: The "Dark Horse" video breaks the billion views on YouTube” (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2017.
  105. ^ “35 huge songs written by Kesha's former mentor Dr. Luke”. CBS News. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2018.
  106. ^ “Nielsen SoundScan charts – Digital Songs – Week Ending: 11/16/2014” (PDF). Nielsen SoundScan. Bản gốc (PDF) lưu trữ 21 Tháng tư năm 2015. Truy cập 21 tháng Chín năm 2017.
  107. ^ Trust, Gary (25 tháng 7 năm 2016). “Katy Perry's 'Rise' & Britney Spears' 'Make Me' Debut in Hot 100's Top 20”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016.
  108. ^ Jones, Alan (22 tháng 7 năm 2016). “Official Charts Analysis: Drake equals Wet Wet Wet's 15-week stint at No. 1”. Music Week. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2016.
  109. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2016 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc.
  110. ^ Ruelle, Yohann (21 tháng 8 năm 2017). "Swish Swish": Katy Perry as a basketball player in the crazy teaser of her new music video” (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2017.
  111. ^ a b “Nielsen SoundScan charts – Digital Songs – Week Ending: 06/01/2017” (PDF). Nielsen SoundScan. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2017.
  112. ^ “BuzzAngle Music 2017 Canada Report” (PDF). Buzz Angle Music. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018.
  113. ^ a b “InfoDisc : Les Ventes "Formats Courts" (45 T. - CD Single - Téléchargements) d'une Année”. www.infodisc.fr. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019.
  114. ^ “Song Downloads Yearly Chart 2017 Germany” (bằng tiếng Đức). Oljo.de. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2018.
  115. ^ a b c d “ARIA Charts - Accreditations - 2018 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2018.
  116. ^ “New Zealand single certifications – Katy Perry feat. Skip Marley – Chained to the Rhythm”. Recorded Music NZ.
  117. ^ “France single certifications – Katy Perry” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique.
  118. ^ “NZ Heatseeker Singles Chart”. Recorded Music NZ. 8 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017.
  119. ^ Adams, Cameron (5 tháng 5 năm 2017). “Australian and UK fans serve up stone cold sales for Katy Perry's new single”. News.com.au. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2017.
  120. ^ “France single certifications – Katy Perry feat. Migos” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique.
  121. ^ “NZ Heatseeker Singles Chart”. Recorded Music NZ. 29 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017.
  122. ^ “Nielsen SoundScan charts – Digital Songs – Week Ending: 09/14/2017” (PDF). Nielsen SoundScan. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2017.
  123. ^ “France single certifications – Katy Perry feat. Nicki Minaj” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique.
  124. ^ “NZ Heatseeker Singles Chart”. Recorded Music NZ. 19 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  125. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 25 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2019.
  126. ^ “ARIA Australian Top 50 Singles”. Australian Recording Industry Association. 5 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019.
  127. ^ a b “SMILE - CD album (FAN EDITION) - PERRY KATY”. Universal Music Czech Republic's official webstore. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2020.
  128. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 19 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2019.
  129. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2020 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2020.
  130. ^ a b c d e “Katy Perry – Chart History: Bubbling Under Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2020.
  131. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 28 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2019.
  132. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 16 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2020.
  133. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 25 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2020.
  134. ^ “Katy Perry: Chart History - Hot Canadian Digital Song Sales”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
  135. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 20 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2020.
  136. ^ Tên không phù hợp HDS “Katy Perry | Billboard” Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp). Billboard.
  137. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 24 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2021.
  138. ^ Peak positions for featured singles in the United States:
  139. ^ a b “Discografie 3OH!3”. ultratop.be (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2014.
  140. ^ Peak positions for featured singles in Canada:
  141. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013.
  142. ^ “Katy Perry: Top 75 Releases”. The Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ 15 Tháng sáu năm 2011. Truy cập 14 Tháng Một năm 2011.
  143. ^ “American single certifications – 3OH!3 – Starstrukk” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  144. ^ a b “ARIA Charts – Accreditations – 2010 Singles”. ARIA Charts. Australian Recording Industry Association. 31 tháng 12 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2011.
  145. ^ “NZ Top 40 Singles Charts”. Recorded Music NZ. 1 tháng 2 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  146. ^ “NZ Top 40 Singles Charts”. Recorded Music NZ. 17 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  147. ^ a b “American certifications – Calvin Harris” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.
  148. ^ “Nielsen SoundScan charts – Digital Songs – Week Ending: 10/05/2017” (PDF). Nielsen SoundScan. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2017.
  149. ^ “Ultratop − Goud en Platina – 2017”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch.
  150. ^ “Sverigetopplistan - Sveriges Officiella Topplista” (To access, enter the search parameter "Calvin Harris" and select "Search by Keyword"). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2017.
  151. ^ “Calvin Harris Feat. Pharrell Williams, Katy Perry & Big Sean "Feels". IFPI Denmark. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2018.
  152. ^ “New Zealand single certifications – Calvin Harris feat. Pharrell Williams, Katy Perry and Big Sean – Feels”. Recorded Music NZ.
  153. ^ Peak positions for promotional singles in the United States:
  154. ^ Peak positions for promotional singles in Canada:
  155. ^ “Katy Perry - Listen All Songs”. Tophit. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2020.
  156. ^ “Katy Perry | Billboard”. Billboard.
  157. ^ Trust, Gary (23 tháng 8 năm 2013). “Ask Billboard: Who's Sold More, Katy Perry Or Lady Gaga?”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2016.
  158. ^ Trust, Gary (11 tháng 12 năm 2013). “Katy Perry Rides In On A 'Dark Horse,' Her Aptly Titled, Unexpected Hit”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013.
  159. ^ “Katy Perry - Roulette(listen to the song, watch the music video)”. Tophit. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2021.
  160. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 31 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2020.
  161. ^ a b “Katy Perry – Chart History: Hot Canadian Digital Song Sales”. Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2020.
  162. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 7 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2020.
  163. ^ Perry, Katy (12 tháng 11 năm 2020). “Resilient (Tiësto Remix) [feat. Aitana]”. Apple Music. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
  164. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 3 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2021.
  165. ^ “Katy Perry - Witness (single)” (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2017.
  166. ^ a b c d e f g h i j k “South Korea Gaon International Download Singles Chart (Week: 2013.10.20 to 2013.10.26)”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2017.
  167. ^ Peak positions for Katy Perry in the UK charts:


Liên kết ngoàiSửa đổi