Hịch tướng sĩ

hịch khuyên răn tướng sĩ của Trần Hưng Đạo viết trước chiến tranh Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2

Dụ chư tỳ tướng hịch văn (諭諸裨將檄文), thường được gọi là Hịch tướng sĩ, là bài hịch viết bằng văn ngôn của Trần Hưng Đạo viết cuối thế kỷ 13 trước cuộc chiến tranh Mông Nguyên–Đại Việt lần 2.

Hịch tướng sĩ
Hịch
Thông tin tác phẩm
Tên gốcDụ chư tì tướng hịch văn
Tác giảTrần Hưng Đạo
Thời gian sáng tác1284
Triều đại sáng tácNhà Trần (1225–1400)
Quốc giaViệt Nam
Ngôn ngữTiếng Việt
Thể loạiHịch

WikisourceHịch tướng sĩ

Hoàn cảnhSửa đổi

Tháng 12 năm Giáp Thân 1284, hiệu Thiệu Bảo năm thứ 6, đời Trần Nhân Tông, đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thất thế đưa quân chạy về Vạn Kiếp. Thượng hoàng Trần Thánh Tông thấy thế giặc mạnh, cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng:

"Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?"

Hưng Đạo Vương tâu:

"Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn miếu Xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng!"

Vua Trần Nhân Tông nghe thế yên lòng. Hưng Đạo Vương trở về Vạn Kiếp hiệu triệu 20 vạn quân Nam, và thảo bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn để khuyên răn tướng sĩ, đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sách Binh thư yếu lược, chuẩn bị cho cuộc chiến tranh Mông Nguyên-Đại Việt lần 2.

Toàn vănSửa đổi

諭諸裨將檄文

余常聞之 紀信以身代死而脫高帝 由于以背受戈而蔽招王 蓣讓吞炭而復主讎 申蒯断臂而赴國難 敬德一小生也身翼太宗而得免世充之圍 杲卿一遠臣也口罵禄山而不從逆賊之計 自古忠臣義士以身死國何代無之 設使數子區區為兒女子之態 徒死牖下烏能名垂竹白 與天地相為不朽哉

汝等 世為將種不曉文義 其聞其說疑信相半 古先之事姑置勿論 今余以宋韃之事言之 王公堅何人也 其裨將阮文立又何人也 以釣魚鎖鎖斗大之城 當蒙哥堂堂百萬之鋒 使宋之生靈至今受賜 骨待兀郎何人也 其裨將赤脩思又何人也 冒瘴厲於萬里之途 獗南詔於數旬之頃 使韃之君長至今留名 況余與汝等生於擾攘之秋 長於艱難之勢 竊見偽使往來道途旁午 掉鴞烏之寸舌而陵辱朝廷 委犬羊之尺軀而倨傲宰輔 托忽必列之令而索玉帛以事無已之誅求 假雲南王之號而揫金銀以竭有限之傥庫 譬猶以肉投餒虎寧能免遺後患也哉

余常 臨餐忘食中夜撫枕 涕泗交痍心腹如搗 常以未能食肉寢皮絮肝飲血為恨也 雖 余之百身高於草野 余之千屍裹於馬革 亦願為之

汝等 久居門下掌握兵權 無衣者則衣之以衣 無食者則食之以食 官卑者則遷其爵 祿薄者則給其俸 水行給舟陸行給馬 委之以兵則生死同其所為 進之在寢則笑語同其所樂 其是 公堅之為偏裨兀郎之為副貳亦未下爾

汝等 坐視主辱曾不為憂 身當國恥曾不為愧 為邦國之將侍立夷宿而無忿心 聽太常之樂宴饗偽使而無怒色 或鬥雞以為樂或賭博以為娛 或事田園以養其家 或戀妻子以私於己 修生產之業而忘軍國之務 恣田獵之遊而怠攻守之習 或甘美酒或嗜淫聲 脱有蒙韃之寇來 雄雞之距不足以穿虜甲 賭博之術不足以施軍謀 田園之富不足以贖千金之軀 妻拏之累不足以充軍國之用 生產之多不足以購虜首 獵犬之力不足以驅賊眾 美酒不足以沈虜軍 淫聲不足以聾虜耳 當此之時我家臣主就縛甚可痛哉 不唯余之采邑被削 而汝等之俸祿亦為他人之所有 不唯余之家小被驅 而汝等之妻拏亦為他人之所虜 不唯余之祖宗社稷為他人之所踐侵 而汝等之父母墳墓亦為他人之所發掘 不唯余之今生受辱雖百世之下臭名難洗惡謚長存 而汝等之家清亦不免名為敗將矣 當此之時汝等雖欲肆其娛樂 得乎

今余明告汝等 當以措火積薪為危 當以懲羹吹虀為戒 訓練士卒習爾弓矢 使 人人逄蒙家家后羿 購必烈之頭於闕下 朽雲南之肉於杲街 不唯余之采邑永為青氈 而汝等之俸祿亦終身之受賜 不唯余之家小安床褥 而汝等之妻拏亦百年之佳老 不唯余之宗廟萬世享祀 而汝等之祖父亦春秋之血食 不唯余之今生得志 而汝等百世之下芳名不朽 不唯余之美謚永垂 而汝等之姓名亦遺芳於青史矣 當此之時汝等雖欲不為娛樂 得乎

今余歷選諸家兵法為一書名曰兵書要略 汝等 或能專習是書受余教誨是夙世之臣主也 或暴棄是書違余教誨是夙世之仇讎也

何則 蒙韃乃不共戴天之讎 汝等記恬然不以雪恥為念不以除凶為心 而又不教士卒是倒戈迎降空拳受敵 使平虜之後萬世遺羞 上有何面目立於天地覆載之間耶

故欲汝等明知余心因筆以檄云

Hán ViệtSửa đổi

Dụ chư tỳ tướng hịch văn

Dư thường văn chi: Kỷ Tín dĩ thân đại tử nhi thoát Cao Đế; Do Vu dĩ bối thụ qua nhi tế Chiêu Vương. Dự Nhượng thốn thán nhi phục chủ thù; Thân Khoái đoạn tí nhi phó quốc nạn. Kính Đức nhất tiểu sinh dã, thân dực Thái Tông nhi đắc miễn Thế Sung chi vi; Cảo Khanh nhất viễn thần dã, khẩu mạ Lộc Sơn nhi bất tòng nghịch tặc chi kế. Tự cổ trung thần nghĩa sĩ, dĩ thân tử quốc hà đại vô chi? Thiết sử sổ tử khu khu vi nhi nữ tử chi thái, Đồ tử dũ hạ, ô năng danh thuỳ trúc bạch, Dữ thiên địa tương vi bất hủ tai!

Nhữ đẳng Thế vi tướng chủng, bất hiểu văn nghĩa, Kỳ văn kỳ thuyết, nghi tín tương bán. Cổ tiên chi sự cô trí vật luận. Kim dư dĩ Tống, Thát chi sự ngôn chi: Vương Công Kiên hà nhân dã? Kỳ tỳ tướng Nguyễn Văn Lập hựu hà nhân dã? Dĩ Điếu Ngư toả toả đẩu đại chi thành, Đương Mông Kha đường đường bách vạn chi phong, Sử Tống chi sinh linh chí kim thụ tứ! Cốt Đãi Ngột Lang hà nhân dã? Kỳ tỳ tướng Xích Tu Tư hựu hà nhân dã? Mạo chướng lệ ư vạn lý chi đồ, Quệ Nam Chiếu ư sổ tuần chi khoảnh, Sử Thát chi quân trưởng chí kim lưu danh! Huống dư dữ nhữ đẳng, Sinh ư nhiễu nhương chi thu; Trưởng ư gian nan chi thế. Thiết kiến nguỵ sứ vãng lai, đạo đồ bàng ngọ. Trạo hào ô chi thốn thiệt nhi lăng nhục triều đình; Uỷ khuyển dương chi xích khu nhi cứ ngạo tể phụ. Thác Hốt Tất Liệt chi lệnh nhi sách ngọc bạch, dĩ sự vô dĩ chi tru cầu; Giả Vân Nam Vương chi hiệu nhi khu kim ngân, dĩ kiệt hữu hạn chi thảng hố. Thí do dĩ nhục đầu nỗi hổ, ninh năng miễn di hậu hoạn dã tai?

Dư thường Lâm xan vong thực, Trung dạ phủ chẩm, Thế tứ giao di, Tâm phúc như đảo. Thường dĩ vị năng thực nhục tẩm bì, nhứ can ẩm huyết vi hận dã. Tuy Dư chi bách thân, cao ư thảo dã; Dư chi thiên thi, khoả ư mã cách, Diệc nguyện vi chi.

Nhữ đẳng Cửu cư môn hạ, Chưởng ác binh quyền. Vô y giả tắc ý chi dĩ y; Vô thực giả tắc tự chi dĩ thực. Quan ti giả tắc thiên kỳ tước; Lộc bạc giả tắc cấp kỳ bổng. Thuỷ hành cấp chu; Lục hành cấp mã. Uỷ chi dĩ binh, tắc sinh tử đồng kỳ sở vi; Tiến chi tại tẩm, tắc tiếu ngữ đồng kỳ sở lạc. Kỳ thị Công Kiên chi vi thiên tì, Ngột Lang chi vi phó nhị, Diệc vị hạ nhĩ.

Nhữ đẳng Toạ thị chủ nhục, tằng bất vi ưu; Thân đương quốc sỉ, tằng bất vi quý. Vi bang quốc chi tướng, thị lập di tú nhi vô phẫn tâm; Thính thái thường chi nhạc, yến hưởng nguỵ sứ nhi vô nộ sắc. Hoặc đấu kê dĩ vi lạc; Hoặc đổ bác dĩ vi ngu. Hoặc sự điền viên dĩ dưỡng kỳ gia; Hoặc luyến thê tử dĩ tư ư kỷ. Tu sinh sản chi nghiệp, nhi vong quân quốc chi vụ; Tứ điền liệp chi du, nhi đãi công thủ chi tập. Hoặc cam mỹ tửu; Hoặc thị dâm thanh. Thoát hữu Mông Thát chi khấu lai, Hùng kê chi cự, bất túc dĩ xuyên lỗ giáp; Đổ bác chi thuật, bất túc dĩ thi quân mưu. Ðiền viên chi phú, bất túc dĩ thục thiên kim chi khu; Thê noa chi luỵ, bất túc dĩ sung quân quốc chi dụng. Sinh sản chi đa, bất túc dĩ cấu lỗ thủ; Liệp khuyển chi lực, bất túc dĩ khu tặc chúng. Mỹ tửu bất túc dĩ trấm lỗ quân; Dâm thanh bất túc dĩ lung lỗ nhĩ. Ðương thử chi thời, Ngã gia thần chủ tựu phọc, Thậm khả thống tai! Bất duy dư chi thái ấp bị tước, Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc vi tha nhân chi sở hữu; Bất duy dư chi gia tiểu bị khu, Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc vi tha nhân chi sở lỗ; Bất duy dư chi tổ tông xã tắc, vi tha nhân chi sở tiễn xâm, Nhi nhữ đẳng chi phụ mẫu phần mộ, diệc vi tha nhân chi sở phát quật; Bất duy dư chi kim sinh thụ nhục, tuy bách thế chi hạ, xú danh nan tẩy, ác thuỵ trường tồn, Nhi nhữ đẳng chi gia thanh, diệc bất miễn danh vi bại tướng hĩ! Ðương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục tứ kỳ ngu lạc, Đắc hồ?

Kim dư minh cáo nhữ đẳng, Đương dĩ thố hoả tích tân vi nguy; Đương dĩ trừng canh xuy tê vi giới. Huấn luyện sĩ tốt; Tập nhĩ cung thỉ. Sử Nhân nhân Bàng Mông; Gia gia Hậu Nghệ. Cưu Tất Liệt chi đầu ư Khuyết hạ; Hủ Vân Nam chi nhục ư Cảo nhai. Bất duy dư chi thái ấp vĩnh vi thanh chiên, Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc chung thân chi thụ tứ; Bất duy dư chi gia tiểu đắc an sàng nhục, Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc bách niên chi giai lão; Bất duy dư chi tông miếu vạn thế hưởng tự, Nhi nhữ đẳng chi tổ phụ diệc xuân thu chi huyết thực; Bất duy dư chi kim sinh đắc chí, Nhi nhữ đẳng bách thế chi hạ, phương danh bất hủ; Bất duy dư chi mỹ thuỵ vĩnh thuỳ, Nhi nhữ đẳng chi tính danh diệc di phương ư thanh sử hĩ. Ðương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục bất vi ngu lạc, Đắc hồ!

Kim dư lịch tuyển chư gia binh pháp vi nhất thư, danh viết Binh thư yếu lược. Nhữ đẳng Hoặc năng chuyên tập thị thư, thụ dư giáo hối, thị túc thế chi thần chủ dã; Hoặc bạo khí thị thư, vi dư giáo hối, thị túc thế chi cừu thù dã.

Hà tắc? Mông Thát nãi bất cộng đái thiên chi thù, Nhữ đẳng ký điềm nhiên, bất dĩ tuyết sỉ vi niệm, bất dĩ trừ hung vi tâm, Nhi hựu bất giáo sĩ tốt, thị đảo qua nghênh hàng, không quyền thụ địch; Sử bình lỗ chi hậu, vạn thế di tu, Thượng hữu hà diện mục lập ư thiên địa phú tái chi gian da?

Cố dục nhữ đẳng minh tri dư tâm, Nhân bút dĩ hịch vân.

Bản dịch:[1]

HỊCH TƯỚNG SĨ

Ta thường nghe Kỷ Tín[Chú thích 1] đem mình chết thay cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu[Chú thích 2] chìa lưng chịu giáo che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng[Chú thích 3] nuốt than báo thù cho chủ; Thân Khoái[Chú thích 4] chặt tay cứu nạn cho nước; Kính Đức[Chú thích 5], một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh[Chú thích 6], một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh cùng sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!

Các ngươi con nhà võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi những chuyện xa ta không nói đến nữa. Nay ta chỉ kể chuyện Tống, Nguyên mới đây.

Vương Công Kiên[Chú thích 7] là người thế nào? tì tướng của ông là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào? Mà giữ thành Điếu Ngư[Chú thích 8] nhỏ như cái đấu, đường đường chống với quân Mông Kha đông đến hàng trăm vạn, khiến cho nhân dân đời Tống đến nay còn đội ơn sâu? Cốt Đãi Ngột Lang[Chú thích 9] là người thế nào? Tì tướng của ông là Xích Tu Tư[Chú thích 10] lại là người thế nào? mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi nghìn trùng, đánh bại được quân Nam Chiếu trong vài tuần, khiến cho quân tướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt?

Huống chi ta cùng các ngươi sinh ra phải thời rối ren, lớn lên gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường. Uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt[Chú thích 11] mà đòi ngọc lụa, để thoả lòng tham không cùng; giả hiệu Vân Nam Vương[Chú thích 12] mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi tai vạ về sau?

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa[Chú thích 13] ta cũng vui lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng, đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cuời. Cách đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước cũng chẳng kém gì!

Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc Thái thường để đãi yến[Chú thích 14] nguỵ sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú ruộng vườn, hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước; hoặc ham săn bắn mà quên việc binh; hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát.  

Nếu có giặc Mông Thát tràn sang, thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm, vườn nhiều, tấm thân quý nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ khôn đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào!

Chẳng những thái ấp[Chú thích 15] của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng bị mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi  đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không?

Nay ta bảo thật các ngươi: Nên nhớ câu “đặt mồi vào dưới đống củi”[Chú thích 16] là nguy cơ, nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội”[Chú thích 17] làm răn sợ. Huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên;  khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ[Chú thích 18], có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết[Chú thích 19], làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai[Chú thích 20]. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm. Lúc bấy giờ các người không muốn vui vẻ phỏng có được không?

Nay ta chọn binh pháp các nhà làm một quyển gọi là “Binh thư yếu lược”. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ[Chú thích 21]; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù.

Vì sao vậy? Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi sau đây sau khi giặc giã dẹp yên muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào mà đứng trong trời đất nữa? Ta viết bài hịch này để các ngươi biết bụng ta.

Nhận định của các sử giaSửa đổi

Ngô Tất Tố viết rằng bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn cho thấy, không những Hưng Đạo Vương là võ tướng mà ông còn có tài học vấn, đọc nhiều sách và thông hiểu nhiều điển tích cổ kim.

Trong Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim ghi rằng binh sĩ nghe lời hịch nức lòng, lấy mực xăm vào tay hai chữ: "Sát Thát" (nghĩa giết quân Mông Cổ), và hết lòng chiến đấu chống giặc.

Tư liệu tham khảoSửa đổi

  • Việt Nam Sử Lược Tập I, Trần Trọng Kim, Nhà xuất bản Đại Nam, Sài gòn, 1964
  • Việt Nam Văn Học: Văn Học Đời Trần, Ngô Tất Tố, Nhà xuất bản Đại Nam, Sài gòn, 1961

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Kỷ Tín: tướng của Hán Cao Tổ. Lúc Cao Tổ bị Hạng Vũ vây, Kỷ Tín giả làm Hán Cao Tổ ra hàng, bị Hạng Vũ giết, nhân thế Cao Tổ thoát nạn.
  2. ^ Do Vu: tướng của Sở Chiêu Vương (thời Xuân Thu). Lúc Chiêu Vương lánh nạn, ở trọ bị cướp đâm. Do Vu chìa lưng che cho.
  3. ^ Dự Nhượng: gia thần của Trí Bá (thời Chiến Quốc). Khi Trí Bá bị Triệu Tương Tử giết, Dự Nhượng nuốt than cho khác giọng, giả làm hành khất, mưu giết Tương Tử báo thù cho chủ.
  4. ^ Thân Khoái: Người đời Xuân Thu, một viên quan giữ ao cá của Tề Trang Công. Khi Trang Công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoái chết theo.
  5. ^ Kính Ðức: tức Uất Trì Cung đời Ðường, đã đánh tháo vòng vây Vương Thế Sung vây, lấy mình che đỡ, hộ vệ cho vua Đường Thái Tông thoát nạn.
  6. ^ Cảo Khanh: tức Nhan Cảo Khanh. Khi An Lộc Sơn khởi loạn đánh Ðường Minh Hoàng. Cảo Khanh mắng Lộc Sơn, bị giặc cắt lưỡi mà vẫn không sợ.
  7. ^ Vương Công Kiên: Tướng của nhà Tống.
  8. ^ Ðiếu Ngư: tên trái núi rất hiểm trở ở Tứ Xuyên. Ðời Tống, Dư Giới có đắp thành ở đó. Khi Kiên và Lập đóng giữ, Mông Kha (tức Mông Cổ) kéo quân đến đánh không được.
  9. ^ Cốt Ðãi Ngột Lang: một tướng giỏi của Mông Cổ, đã từng đem quân đi đánh lấy nước Nam Chiếu. Nam Chiếu là một nước trước kia ở vào khoảng giữa hai tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam, đóng đô ở Đại Lý (Vân Nam).
  10. ^ Xích Tu Tư: chép Xích theo Hoàng Việt văn tuyển. Ðại Việt sử ký toàn thư chép Cân. Hai chữ gần giống nhau, không biết quyển nào chép nhầm. Hiện nay, chưa có tài liệu nào nói gì về viên tướng này, và việc khôi phục lại tên Mông Cổ từ Hán tự cũng không phải là chuyện đơn giản.
  11. ^ Hốt Tất Liệt: tên vua Thế Tổ nhà Nguyên.
  12. ^ Vân Nam Vương: tức là Thoát Hoan, con thứ chín của Hốt Tất Liệt, được phong ở đất Vân Nam.
  13. ^ Gói trong da ngựa: Lấy ý câu nói của Mã Viện đời Hán: Làm trai phải đánh đông dẹp bắc, dầu chết ở chiến trường lấy da ngựa bọc thây cũng đành lòng.
  14. ^ Yến: Đặt yến tiệc thết giặc. Nhạc Thái thường đời Trần chỉ dùng trong những dịp lễ tiết lớn của quốc gia, lúc ấy phải dùng để tiếp sứ thần của giặc. Hưng Đạo Vương lấy điều ấy làm điều nhục lớn.
  15. ^ Thái ấp: phần đất vua phong cho quý tộc.
  16. ^ Ðặt mồi lửa: theo nghĩa câu của Hán Thư, đại ý: Ôm mồi lửa mà đặt dưới đống củi, rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên.
  17. ^ Kiềng canh nóng: theo một câu ở Sở từ đại ý: “Kẻ sợ canh nóng thường hay thổi cả rau nguội”.
  18. ^ Bàng Mông, Hậu Nghệ: hai nhân vật thần thoại Trung Quốc, rất vũ dũng, bắn cung giỏi.
  19. ^ Cửa khuyết: Cửa lớn ở kinh thành.
  20. ^ Cảo Nhai: nơi ngụ của các vua chư hầu khi vào chầu vua nhà Hán ở Tràng An (Trung Quốc).
  21. ^ Thần chủ: quan hệ giữa gia nô (thần) với lĩnh chúa phong kiến (chủ). Trần Quốc Tuấn là một trong những lãnh chúa lớn

Tham khảo chungSửa đổi

  1. ^ Theo Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập II): thế kỷ X-thế kỷ XVII, NXB.Văn học, 1976, tr.131-135)

Liên kết ngoàiSửa đổi