Lê Văn Nghiêm (1912 - 1988) nguyên là một cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ trường Sĩ quan của Quân đội thuộc địa Pháp mở ra ở Đông Dương. Ông đã từng tham gia Đệ Nhị Thế chiến trong đội quân của Pháp, tại những chiến trường ở Châu Âu. Sau này khi chuyển sang phục vụ Quốc gia Việt NamViệt Nam Cộng hòa, ông từng đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy cấp Quân khu và Quân đoàn. Là một trong số ít sĩ quan được thăng cấp tướng ở thời kỳ Đệ Nhất Cộng hòa (Thiếu tướng năm 1955). Ông cũng là tướng lãnh duy nhất của Việt Nam Cộng hòa từng làm Tư lệnh của 3 Đại đơn vị tinh nhuệ của Quân lực Việt Nam Cộng hòaSư đoàn 1 Bộ binh, Lực lượng Đặc biệtBinh chủng Nhảy dù.

Lê Văn Nghiêm
Chức vụ
Flag of the Minister of National Defense of the Republic of Vietnam.svg
Giám đốc Nha Động viên
(trực thuộc Bộ Quốc phòng)
Nhiệm kỳ11/1964 – 5/1965
Cấp bậc-Trung tướng
Tiền nhiệm-Đại tá Trần Văn Hổ
Kế nhiệm-Thiếu tá Trần Văn Vân
Vị tríBiệt khu Thủ đô
Cờ Chỉnh binh thao lược.png
Chỉ huy trưởng Trường Chỉ huy & Tham mưu
(tiền thân là trường Đại học Quân sự)
Nhiệm kỳ2/1964 – 11/1964
Cấp bậc-Trung tướng
Tiền nhiệm-Trung tướng Thái Quang Hoàng
Kế nhiệm-Thiếu tướng Tôn Thất Xứng
Vị tríVùng 2 chiến thuật
(Cao nguyên Trung phần)
Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg
Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù
(1 tuần lễ)
Nhiệm kỳ2/11/1963 – 9/11/1963
Cấp bậc-Trung tướng
Tiền nhiệm-Đại tá Cao Văn Viên
Kế nhiệm-Đại tá Cao Văn Viên
Vị tríBiệt khu Thủ đô
81st Airborne Commando Battalion.svg
Tư lệnh Lực lượng đặc biệt
Nhiệm kỳ11/1963 – 2/1964
Cấp bậc-Trung tướng (11/1963)
Tiền nhiệm-Đại tá Lê Quang Tung
Kế nhiệm-Đại tá Phan Đình Thứ
Vị tríBiệt khu Thủ đô
QD I VNCH.jpg
Tư lệnh Quân đoàn I
Nhiệm kỳ12/1962 – 9/1963
Cấp bậc-Thiếu tướng
Tiền nhiệm-Trung tướng Trần Văn Đôn
Kế nhiệm-Thiếu tướng Đỗ Cao Trí
Vị tríVùng 1 chiến thuật
QD III VNCH.jpg
Tư lệnh Quân đoàn III
Nhiệm kỳ5/1960 – 2/1962
Cấp bậc-Thiếu tướng
Tiền nhiệm-Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ
Kế nhiệm-Thiếu tướng Tôn Thất Đính
Vị tríVùng 3 chiến thuật
Cư an tư nguy.svg
Chỉ huy trưởng Liên trường Võ khoa Thủ Đức
Nhiệm kỳ9/1956 – 5/1960
Cấp bậc-Thiếu tướng
Kế nhiệm-Đại tá Nguyễn Văn Chuân
Vị tríBiệt khu Thủ đô
QD I VNCH.jpg
Tư lệnh Đệ Nhị Quân khu
(tiền thân của Vùng 1 chiến thuật)
Nhiệm kỳ6/1955 – 9/1956
Cấp bậc-Đại tá
-Thiếu tướng (11/1955)
Tiền nhiệm-Đại tá Nguyễn Quang Hoành
Kế nhiệm-Thiếu tướng Thái Quang Hoàng
Vị tríMiền trung Trung phần
ARVN 1st Division SSI.svg
Tư lệnh Sư đoàn 21 Dã chiến
(tiền thân của Sư đoàn 1 Dã chiến
tháng 12/1958 là Sư đoàn 1 Bộ binh)
Nhiệm kỳ1/1955 – 1/1956
Cấp bậc-Đại tá
Tiền nhiệmĐầu tiên
Kế nhiệm-Đại tá Nguyễn Khánh
Vị tríĐệ nhị Quân khu
ARVN 1st Division SSI.svg
Chỉ huy trưởng Liên đoàn Lưu động số 21 (tiền thân của Sư đoàn 21 Dã chiến)
Nhiệm kỳ9/1953 – 1/1955
Cấp bậc-Trung tá (9/1953)
-Đại tá (1/1955)
Tiền nhiệmĐầu tiên
Vị tríĐệ nhị Quân khu
Flag of the Vietnamese National Army.svg
Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 30 Việt Nam
(Quân đội Quốc gia)
Nhiệm kỳ1/1952 – 9/1953
Cấp bậc-Đại úy (1950)
-Thiếu tá (1/1952)
Vị tríĐệ nhị Quân khu
(Miền trung Trung phần)
Thông tin chung
Quốc tịchViệt Nam
Sinh1912
làng Phú Xuân, Hương Trà, Thừa Thiên, Liên bang Đông Dương
Mất27 tháng 1 năm 1988
(76 tuổi)
Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nguyên nhân mấtTuổi già
Nơi ởTp Hồ Chí Minh
Nghề nghiệpQuân nhân
Dân tộcKinh
VợVợ đầu: Trần Thị Thuận (2 trai)
Vợ kế: Trần Thị Kim Anh (5 trai, 3 gái)
ChaLê Văn Oai
MẹTrần Thị Cháu
Con cái10 người con (7 trai, 3 gái)
-Trưởng nam: Lê Văn Trang (sn 1937)
-Thứ nam: Lê Văn Châu (sn 1938, nhà văn Trang Châu)
Học vấnThành chung
Học sinh trường-Trung học đệ nhất cấp ở Huế
-Trường Hạ sĩ quan An cựu, Huế
-Trường Võ bị Lục quân, Pháp.
Quê quánTrung Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân đội VNCH
Năm tại ngũ1939 - 1965
Cấp bậcUS-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vịARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và QK 1
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
Cư an tư nguy.svg Võ khoa Thủ Đức
81st Airborne Commando Battalion.svg Lực lượng Đặc biệt
Chỉ huyFlag of France.svg Quân đội Pháp
Flag of France.svg Quân đội Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân đội VNCH
Tham chiến- Chiến tranh Đông Dương
- Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Commander BAR.png Bảo quốc Huân chương đệ Tam đẳng

Tiểu sử và Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh năm 1912 tại làng Phú Xuân, Hương Trà, Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam trong một gia đình Nho học. Thiếu thời, ông học Tiểu và Trung học ở Huế. Năm 1930, ông tốt nghiệp Trung học Đệ Nhất cấp chương trình Pháp với văn bằng Thành Chung. Được bổ dụng làm công chức ngoại ngạch tại Huế cho đến ngày gia nhập quân đội.

Phục vụ Quân đội PhápSửa đổi

Năm 1935, ông nhập ngũ vào Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương, theo học khóa Hạ sĩ quan tại Trường Hạ sĩ quan An cựu, Huế. Ra trường với cấp bậc Trung sĩ phục vụ trong một đơn vị Bộ binh. Một năm sau, ông được cho theo học khóa sĩ quan đặc biệt tại trường Võ bị Lục quân Pháp, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy. Ra trường làm Trung đội trưởng Trung đội An ninh tại Tòa Khâm Sứ Pháp ở Huế.

Năm 1939, ông tình nguyện sang Pháp, chiến đấu cho Quân đội Pháp trong Đệ Nhị Thế chiến. Cuối năm, ông được đặc cách thăng cấp Thiếu úy tại mặt trận. Năm 1940, ông bị Đức Quốc xã bắt làm tù binh. Năm 1945, sau khi chấm dứt chiến tranh, ông được Pháp giải thoát và cũng nhờ các công lao chiến đấu cho nước Pháp trong chiến tranh nên ông được Chính phủ Pháp ân thưởng một số Huân chương cao quý.[1]

Quân đội Liên hiệp PhápSửa đổi

Năm 1947, vào thời điểm Việt Nam được thành lập Quốc gia trong Liên hiệp Pháp. Trở lại quê hương, ông được thăng cấp Trung úy, chuyển sang phục vụ trong Quân đội Liên hiệp Pháp với chức vụ Trưởng ban 2 Tiểu đoàn 2 thuộc Liên đoàn Lưu động số 21 Bộ binh Pháp. Đến năm 1950, ông được thăng cấp Đại úy chuyển về Đệ Nhị Quân khu giữ chức vụ Trưởng phòng 2. Cũng trong năm này, Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập.

Quân đội Quốc gia Việt NamSửa đổi

Đầu năm 1952, Quân đội Quốc gia Việt Nam chính thức thành lập Bộ Tổng Tham mưu, chuyển ngạch sang phục vụ Quân đội Quốc gia, ông được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 30 Việt Nam tân lập tại Đông Hà Quảng Trị. Giữa năm, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Tháng 9 năm 1953, ông được thăng cấp Trung tá và được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Liên đoàn Lưu động số 21 tân lập tại Trung Việt.

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Đầu năm 1955 tại Huế, Liên đoàn Lưu động số 21 được nâng cấp thành Sư đoàn 21 Dã chiến.[2] ông được thăng cấp Đại tá trở thành Tư lệnh đầu tiên của Sư đoàn. Ngay sau đó, đơn vị ông được lệnh của Bộ Tư lệnh Đệ Nhị Quân khu, tấn công căn cứ Ba Lòng, bị tình nghi là của Đại Việt Quốc dân Đảng muốn chống đối chính quyền[3][4][5]. Đến giữa năm, ông được cử kiêm nhiệm chức vụ Tư lệnh Đệ Nhị Quân khu thay thế Đại tá Nguyễn Quang Hoành[6]. Ngày 6 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tướng.

Tháng 1 năm 1956, ông bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn Dã chiến số 1 lại cho Đại tá Nguyễn Khánh. Đến tháng 9 cùng năm, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, được sự ủng hộ của Hoa kỳ, đã quyết định chuyển Quân đội Việt Nam Cộng hòa, đang là một lực lượng Bảo an & Dân vệ hoạt động theo chiến lược của Edward G. Lansdale, thành một lực lượng chiến đấu theo mô hình của chiến tranh quy ước để có thể giao tranh trên những chiến trường diện địa với quy mô lớn[7][8][9]. Ông được giao trọng trách huấn luyện quân đội theo mô hình mới này và được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Liên Trường Võ khoa Thủ Đức thay thế Đại tá Phạm Văn Cảm, sau khi bàn giao chức vụ Tư lệnh Đệ Nhị Quân khu lại cho Thiếu tướng Thái Quang Hoàng. Đầu tháng 5 năm 1960, bàn giao Liên trường Võ khoa lại cho Đại tá Nguyễn Văn Chuân, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn III và Vùng 3 Chiến thuật thay thế Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ. Đến ngày 7 tháng 2 năm 1962, bàn giao Quân đoàn III lại cho Thiếu tướng Tôn Thất Đính, chuyển ra miền Trung giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Trung tướng Trần Văn Đôn về Trung ương làm Tư lệnh Lục quân.

Biến cố Phật giáo và Đảo chính 1963Sửa đổi

Trong Sự kiện lễ Phật đản năm 1963, vì không chấp nhận dùng quân đội để đàn áp những cuộc biểu tình bất bạo động của Phật tử miền Trung, ngày 16 tháng 9 năm 1963 ông bị triệu hồi về Sài Gòn đặt dưới quyền sử dụng của Bộ Tổng tham mưu sau khi bàn giao Quân đoàn I lại cho Thiếu tướng Đỗ Cao Trí. Quan chức cao cấp nhất của Chính phủ tại miền Trung bấy giờ là Hồ Đắc Khương, Đại biểu Chính phủ ở Trung nguyên Trung phần, cũng bị triệu hồi.

Ông cùng các tướng Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Phạm Xuân Chiểu, Trần Văn Minh và được cho là có ít nhiều dính líu đến một dự định đảo chính từ tháng 10 năm 1963.[10][11].

Sau khi Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 thành công, ông có tên trong danh sách Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Ngày 2 tháng 11, ông được thăng cấp Trung tướng. Sau đó, ông được đề cử giữ chức vụ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt thay thế Đại tá Lê Quang Tung, kiêm Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù thay Đại tá Cao Văn Viên (bị cách chức tạm thời)[12]. Sau một tuần lễ kiêm nhiệm, ông bàn giao Lữ đoàn Nhảy dù lại cho Đại tá Cao Văn Viên.

Ngày 30 tháng 1 năm 1964, tướng Nguyễn Khánh thực hiện cuộc Chỉnh lý nội bộ, bắt giam các tướng Đôn-Đính-Kim-Xuân (và tướng Nguyễn Văn Vỹ mới từ Pháp về), với lý do tình nghi “trung lập”.

Ngay sau Chỉnh lý, ông được tướng Khánh bổ nhiệm vào chức vụ Chỉ huy trưởng trường chỉ huy & Tham mưu thay thế Trung tướng Thái Quang Hoàng sau khi bàn giao chức vụ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt lại cho Đại tá Phan Đình Thứ.

Vì lý do đã không ủng hộ lập trường "trung lập", chủ trương bởi các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Nguyễn Văn VỹDương Văn Đức ngay từ đầu[13], nên ông có mặt trong thành phần hội đồng tướng lãnh xét xử khuynh hướng trung lập của các tướng Đôn-Đính-Kim-Xuân sáng ngày 29 tháng 5 năm 1964.[14] Tháng 11 cùng năm, bàn giao trường Chỉ huy & Tham mưu lại cho Thiếu tướng Tôn Thất Xứng chuyển sang Bộ Quốc phòng, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Nha Động viên[15] thay thế Đại tá Trần Văn Hổ[16]. Nhưng vào tháng 4 năm 1965, nhóm tướng trẻ, do các tướng Thiệu-Kỳ-Thi- lãnh đạo, áp lực Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và đề nghị cho về hưu tất cả quân nhân cao cấp có hơn 20 năm quân vụ, tính luôn thời gian trong quân đội Pháp [14]. Ngày 1 tháng 5, ông được giải ngũ ở tuổi 53 sau khi bàn giao Nha Động viên lại cho Thiếu tá Trần Văn Vân[17].

Trở về đời sống dân sựSửa đổi

Sau khi nền Đệ Nhị Cộng hòa thành lập, ông cùng một số cựu tướng lãnh như Trần Văn Đôn, Thái Quang Hoàng, Nguyễn Văn Chuân, Trần Tử Oai, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, thành lập một tổ chức ái hữu của các cựu tướng lãnh do tướng Trần Văn Đôn làm Chủ tịch, ông giữ chức vụ Tổng thư ký. Với vai trò Tổng thư ký, ông đã có những đóng góp quan trọng trong các cuộc vận động tranh cử của các tướng Trần Văn ĐônTôn Thất Đính vào Thượng nghị viện, cũng như lực lượng thứ 3 do tướng Dương Văn Minh lãnh đạo sau này.

1975Sửa đổi

Sau ngày 30 tháng 4, ông ở lại Việt Nam. Do mang bệnh tim rất nặng và đã giải ngũ quá lâu, không còn ảnh hưởng trong quân đội, nên ông là một trong số ít tướng lãnh không phải đi cải tạo. Tuy vậy, ông vẫn bị quản chế tại gia và bị hạn chế trong việc tự do giao tiếp cũng như cư trú cho đến ngày qua đời.

Ngày 27 tháng 1 năm 1988, ông từ trần tại Tp HCM. Hưởng thọ 76 tuổi.

Huy chươngSửa đổi

Được tặng thưởng một số Huy chương Quân sự, Dân sự Việt Nam và Đồng minh.

Gia đìnhSửa đổi

  • Thân phụ: Cụ Lê Văn Oai
  • Thân mẫu: Cụ Trần Thị Cháu.
  • Người vợ đầu của tướng Nghiêm là bà Trần Thị Thuận, sau khi sinh hạ được 2 người con trai thì qua đời. Ông tục huyền với bà Trần Thị Kim Anh, sinh hạ được 8 người con nữa gồm 5 trai, 3 gái.
  • Trưởng nam: Ông Lê Văn Trang (Sinh năm 1937 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 14 Võ bị Đà Lạt. Sau cùng biệt phái sang Bộ Nội vụ giữ chức vụ: Trung tá Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Cảnh sát Quốc gia tỉnh Bình Thuận).
  • Thứ nam: Ông Lê Văn Châu (Sinh năm 1938 tại Thừa Thiên, tốt nghiệt Đại học Quân y Sài Gòn. Sau cùng là Thiếu tá, chức vụ Y sĩ trưởng của một Lữ đoàn Nhảy dù).

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Huân chương Chính phủ Pháp tặng thưởng cho tướng Nghiêm sau Thế chiến 2, khi ông còn là một sĩ quan cấp Thiếu úy:
    -Order de la Légion d'honneur, còn gọi là: Le Musée de Légion de d'Honneur (Huy chương Bắc Đẩu hoặc Huy chương Vinh dự cấp Quân đoàn)
    -Croix De Guerre (Huy chương Anh Dũng Thập Tự)
    -Médaille De la Resistance (Huy chương Bảo vệ nước Pháp).
  2. ^ Sư đoàn 21 Dã chiến đầu tháng 10 năm 1955 đổi thành Sư đoàn Dã chiến số 1. Tháng 12 năm 1958 cải danh thành Sư đoàn 1 Bộ binh.
  3. ^ Hà Thúc Ký -Sống còn với dân tộc, 2009
  4. ^ Nguyễn Văn Canh -Đọc hồi ký của Hà Thúc Ký, 2009
  5. ^ Nguyễn Đức Cung -Thử nhìn lại biến cố Ba Lòng của Đại Việt, 2011
  6. ^ Đại tá Nguyễn Quang Hoành sinh năm 1916 tại Quảng Trị, tốt nghiệp Võ bị Địa phương Cap Saint Jacque. Giải ngũ cùng cấp.
  7. ^ Rufus Phillips -Counterinsurgency in Vietnam: Lessons for Today, American Foreign Service Association 2008.
  8. ^ B.G. James Lawton Collins, Jr,-The development and training of the South Vietnamese Army 1950-1972, Vietnam Studies 1975.
  9. ^ "Vietnam: What Next? The Strategy of Isolation," Military Review. April 1972
  10. ^ FRUS, 1961-1963, Vol. IV; tài liệu 250; Báo cáo ngày 31/10/1963; US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 11, tr. 503-504.
  11. ^ Dẫn theo Margaret K. Gnoinska, Poland and Vietnam, 1963: New Evidence on Secret Communist Diplomacy and the "Maneli Affair". Working Paper No 45, 2005.
  12. ^ FRUS, 1961-1963, Vol. IV; tài liệu 287; Báo cáo ngày 04/11/1963; US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 11, tr. 552-554.
  13. ^ FRUS, 1964-1968, Vol. I; tài liệu 18; Báo cáo ngày 28/01/1964; US-Vietnam Relations, tr. 36-37.
  14. ^ a ă Dẫn theo Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng. Xuân Thu, Hoa Kỳ, 1989.
  15. ^ Nha Động viên đến tháng 1 năm 1974 được nâng lên thành Tổng Nha Nhân lực
  16. ^ Đại tá Trần Văn Hổ còn có tên Pháp là Blanchard Trần Văn Hổ, tốt nghiệp khóa 2 Võ bị Huế. Về sau là Giám đốc Nha Kỹ thuật Bộ Tổng Tham mưu, giải ngũ năm 1973
    (Trong Quân lực VNCH có 2 Đại tá trùng họ và tên là Trần Văn Hổ. Tuy nhiên, cả 2 đều có tên Pháp và để phân biệt thường gọi 2 người theo Nguyên lai Binh nghiệp hoặc theo tên quốc tịch Pháp: Đại tá Lục quân Blanchard Trần Văn Hổ và người còn lại là Đại tá Không quân Paul Trần Văn Hổ.
  17. ^ Thiếu tá Trần Văn Vân sinh năm 1926 tại Hà Giang, tốt nghiệp Trường Võ bị Địa phương Nam Việt (Vũng Tàu). Sau cùng là Đại tá Tùy viên Quân sự ở Tòa Đại sứ VNCH tại Nam Hàn.

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.