Mở trình đơn chính

Maria Yuryevna Sharapova (tiếng Nga: Мари́я Ю́рьевна Шара́пова; Về âm thanh nàynghe ; sinh ngày 19 tháng 4 năm 1987) là một vận động viên quần vợt quốc tịch Nga hiện sinh sống ở Mỹ và là nữ vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất trên thế giới. Cô bắt đầu dự các giải thuộc hệ thống WTA từ năm 2001. Cô là tay vợt số 1 Thế giới theo bảng xếp hạng WTA trong tổng cộng 21 tuần. Sharapova là một trong mười vận động viên nữ và là người Nga duy nhất hoàn thành trọn bộ 4 danh hiệu Grand Slam. Cô còn dành được Huy chương bạc cho Đoàn Thể thao Nga tại Thế vận hội Mùa hè tại London năm 2012.[1]

Maria Sharapova
Sharapova at the Mutua Madrid Open 2015.jpg
Maria Sharapova tại Mutua Madrid Open 2015
Quốc tịch Nga
Nơi cư trúManhattan Beach, California, Hoa Kỳ
Sinh19 tháng 4, 1987 (32 tuổi)
Nyagan, Nga
Chiều cao1,88 m (6 ft 2 in)
Lên chuyên nghiệp2001
Tay thuậnTay phải, trái tay 2 tay (sinh Tay trái)
Tiền thưởng36.546.423$
Đánh đơn
Thắng/Thua632–158
Số danh hiệu36 WTA, 4 ITF
Thứ hạng cao nhất1 (22.8.2005)
Thứ hạng hiện tại30 (28.5.2018)
Thành tích đánh đơn Gland Slam
Úc Mở rộngW (2008)
Pháp mở rộngW (2012, 2014)
WimbledonW (2004)
Mỹ Mở rộngW(2006)
Các giải khác
WTA FinalsW (2004)
Thế vận hộiSilver medal.svg Huy chương bạc (2012)
Đánh đôi
Thắng/Thua23–17
Số danh hiệu3 WTA
Thứ hạng cao nhất41 (14 tháng 6 năm 2004)
Thành tích đánh đôi Gland Slam
Úc Mở rộng2R (2003, 2004)
Mỹ Mở rộng2R (2003)

Sharapova cho đến thời điểm này đã giành được trọn bộ 5 danh hiệu Grand Slam ở nội dung đánh đơn. Danh hiệu đầu tiên là Wimbledon 2004, khi hạ Serena Williams tại trận chung kết, tiếp đó là tại Mỹ Mở rộng, sau khi thắng Justine Henin tại trận chung kết năm 2006. Danh hiệu thứ 3 là tại Úc Mở rộng đánh bại Ana Ivanović năm 2008. Danh hiệu thứ 4, hoàn tất bộ sưu tập Grand Slam sự nghiệp tại giải Pháp Mở rộng năm 2012 khi vượt qua Sara Errani. Cô có Grand Slam thứ 5 sau khi vô địch giải Pháp mở rộng năm 2014. Sharapova còn có danh hiệu WTA Championships vào năm 2004. Ngoài ra thời gian gần đây cô còn vào chung kết Wimbledon năm 2011, chung kết Úc Mở rộng năm 2012, bán kết Mỹ Mở rộng năm 2012, chung kết WTA Championships năm 2012 và chung kết Pháp Mở rộng năm 2013.

Sự nghiệpSửa đổi

 
Sharapova thắng giải Mỹ Mở rộng năm 2006

Năm 2004, Sharapova trở thành người thứ 3 trẻ nhất trong lịch sử giành chức vô địch Wimbledon đơn nữ (sau Lottie DodMartina Hingis), người trẻ thứ 2 nếu tính từ kỷ nguyên open khi đánh bại Ai Sugiyama (5–7, 7–5, 6–1) ở tứ kết, Lindsay Davenport (2–6, 7–6, 6–1) ở bán kết, và ĐKVĐ Serena Williams (6–1, 6–4) ở chung kết. Cô cũng trở thành người Nga đầu tiên giành danh hiệu vô địch tại đây. Sharapova kết thúc năm 2004 với chiến thắng tại WTA Championships, khi hạ Williams (4–6, 6–2, 6–4) sau khi bị dẫn 0–4 ở set quyết định.

Từ tháng 6 năm 2004 đến trận bán kết Wimbledon 2005, Sharapova đã có một mạch 22 trận bất bại trên mặt sân cỏ (trong đó có 2 chức vô địch liên tiếp ở Birmingham và một chức vô địch ở Wimbledon). Sau thành công trong năm 2004, Sharapova tiếp tục trụ vững, cô lọt vào bán kết giải Úc mở rộng 2005, và chỉ chịu thua sát nút Serena Williams 2–6, 7–5, 8–6, sau khi đã có 3 cơ hội kết thúc trận đấu (match point).

Tại giải Wimbledon năm 2005, trên đường bảo vệ danh hiệu của mình Sharapova thẳng tiến tới trận bán kết mà không thua 1 set nào cả, nhưng tới đây cô đã vấp phải tay vợt đang hồi sinh Venus Williams và đành chịu thua với tỉ số (7–6, 6–1). Đồng thời chấm dứt mạch 22 trận bất bại trên mặt sân cỏ của mình.

Cũng trong năm Davenport bị chấn thương ở trận chung kết Wimbledon nên phải nghỉ thi đấu trong khoảng thời gian từ sau Wimbledon đến sau US Open, vì vậy mà lần đầu tiên Sharapova leo lên vị trí số 1 thế giới và ở tại vị trí này trong vòng 6 tuần cho đến khi Davenport giành được chức vô địch giải Tier I (chỉ kém 4 giải Grand Slam) tại Zürich vào tháng 10.

Cũng trong năm 2005, điều hy hữu đã xảy ra với Sharapova. Tại 4 giải Grand Slam cô đã thua 4 tay vợt mà sau đó đã giành chức vô địch. (Thua Kim Clijsters ở bán kết US Open, Serena Williams ở bán kết Úc Mở rộng, Justine Henin-Hardenne ở giải Roland Garros và Venus Williams ở bán kết Wimbledon.

Năm 2006 Sharapova giành danh hiệu đầu tiên trong năm ở giải Pacific Life Open tại Indian Wells (giải được xếp hạng Tier 1), sau khi hạ hạt giống số 4 Elena Dementieva ở trận chung kết, 6-1 6-2. Đông thời Sharapova và Dementieva trở thành hai tay vợt Nga đầu tiên lọt vào trận chung kết của giải đấu này. Ngay sau đó, Sharapova cũng lọt vào trận chung kết của giải Nasdaq-100 Open, nhưng đã chịu thua Svetlana Kuznetsova 6-4, 6-3.

Danh hiệu thứ hai của năm 2006 mà cô giành được là giải Acura ClassicSan Diego, sau khi thắng Clijsters, 7-5, 7-5. Đây là chiến thắng đầu tiên của Sharapova trước Clijsters sau năm lần gặp mặt.

Được coi là một trong những ứng cử viên cho chức vô địch ở giải Mỹ Mở rộng, cô đã xuất sắc giành chức vô địch Grand Slam thứ hai trong sự nghiệp của mình khi lần lượt đánh bại Mauresmo ở trận bán kết với tỉ số 6-0, 4-6, 6-0, rồi Henin-Hardenne ở trận chung kết.

Vào tháng 10 Sharapova giành danh hiệu thứ tư của năm khi vô địch giải Zurich Open 2006.

Cô giành danh hiệu thứ 15 – cũng là danh hiệu thứ 5 trong năm sau chức vô địch giải Generali Ladies Linz, đánh bại ĐKVĐ Nadia Petrova sau 2 set.

2016 Thú nhận dopingSửa đổi

Vào ngày 7 tháng 3, Sharapova thú nhận là là không qua được cuộc thử doping tại Australian Open.[2] Mẫu thử doping của cô tại Australian Open 2016 đã dương tính với meldonium, có trong danh sách chất cấm từ năm 2016.[3] Sharapova cho biết là bác sĩ đã viết toa cho cô dùng thuốc này từ năm 2006.

Chất meldonium chỉ được phép bán ở các nước Baltic và Nga với tên Mildronat để trị bệnh tim, nó tăng lưu thông máu, do đó giúp tăng khả năng tập luyện, sức bền và khả năng chịu đựng của các vận động viên.[4] Theo một nghiên cứu vào năm 2015, 17% vận động viên Nga (724 trong số 4,316), toàn cầu 2,2% dùng thuốc này.Lỗi chú thích: Không có </ref> để đóng thẻ <ref> Trong cuộc phỏng vấn trên sân khấu Sharapova cho biết, "Vài giây đầu tiên trước khi bạn bước vào đấu trường - đó là một giai đoạn của tôi từ khi tôi còn là một cô gái trẻ - Tôi đã chờ đợi thời điểm này trong một thời gian dài.."[5] Cô đã theo đuổi nó bằng một chiến thắng khác trong giải đấu là Ekaterina Makarova ở vòng hai. Ở tứ kết, cô ấy đánh bại người vượt qua vòng loại là Anett Kontaveit 1 séc trắng, sau đó thua trước Kristina Mladenovic ở bán kết. Sau đó cô tiếp tục dự giải Madrid và cũng không tiến sâu khi thua kẻ thù không đội trời chung Bouchard tại vòng 2, người mà đã lên tiếng chỉ trích cô rất nặng nề là nên bị cấm thi đấu suốt đời. Cũng từ đây, các tay vợt khác cũng lợi dụng để lên tiếng móc mỉa sự trở lại của maria sharapova. Cô tiếp tục được đặt cách dự giải Rome tại Ý, vòng 1 cô thắng McHale với tỉ số 6-4, 6-2 vào vòng hai gặp tay vợt Baroni. Tâm điểm trước trận đấu là BTC giải Roland Gaross đã quyết định không trao vé đặt cách cho cô dù đã 2 lần vô địch tại đây vào năm 2012 và 2014. Một cú sốc khá lớn, vào trận đấu buồn hơn nữa khi cô bị dính chấn thương đùi và buộc phải dừng trận đấu khi đang dẫn trước đối thủ với tỉ số 2-1, thông số các set là 4-6, 6-3, 2-1 Masha cũng tuyên bố là sẽ không cần tấm vé đặt cách tại Wimbledon mà tự thi đấu vòng loại, điều này có nghĩa muốn vô địch thì cô phải thắng 10 trận liên tiếp, chưa có tay vợt nào làm được trong lịch sử giải đấu.Do chấn thương nên cô không thể tham dự giải.Cô trở lại vào mùa sân cứng tại.châu Mỹ. Cô vượt qua vòng 1 rồi bỏ cuộc tại vòng 2 do chấn thương cẳng tay tại Stanford Classic.Điều đó đồng nghiã cô không thể tham dự Rogers Cup và Cincinati, giải đấu mà cô được đặt cách.Tin vui đến với Masha khi cô được BTC Mỹ mở rộng cho suất đặt cách.Tại vòng 1,cô đánh bại hạt giống số 2 là Simona Halep sau 3 set.Cô tíêp tục đánh bại Timea Babos tại vòng 2 và Sofia Kennin tại vòng 3 để dành quỳên vào vòng 4.Cô gặp hạt giống số 16,Anastasija Sevastova. Set đầu cô thắng với tỉ số 7-5 nhưng lại thua 4-6 ở set 2.Tại set 3 do chấn thương ngón tay và tâm lí nên cô bị Sevastova đánh bại với tỉ số 2-6.Mặc dù bị loại ở vòng 4 nhưng cô vẫn nhận được 240 đỉêm thửơng vì không phải bảo vệ đỉêm số nào.

Giải thưởngSửa đổi

2003

  • Tay vợt nữ của WTA mới xuất hiện ấn tượng nhất
  • Nữ vận động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)

2004

  • Tay vợt nữ của WTA xuất sắc nhất
  • Tay vợt nữ của WTA tiến bộ nhất
  • Nữ vận động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)

2005

  • Tay vợt nữ xuất sắc nhất do ESPN trao tặng
  • Tay vợt Nga xuất sắc nhất do Liên đoàn quần vợt Nga trao tặng
  • Nữ vận động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)

2006

  • Nữ vận động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)
  • Tay vợt Nga xuất sắc nhất do Liên đoàn quần vợt Nga trao tặng

Đời sống riêng tưSửa đổi

  • Sharapova đã sống ở Mỹ từ khi cô còn nhỏ nhưng cô vẫn giữ quốc tịch Nga.
  • Gần đây Sharapova đã mua một ngôi nhà nhìn ra bờ biển ở Manhattan Beach, ngoại ô Los Angeles, California, nhưng suốt thời gian trong năm, cô sống gần cơ sở huấn luyện của IMG ở Bradenton.
  • Năm 19 tuổi, Sharapova đã hoàn thành xong chương trình trung học.[6]
  • Sharapova có một thói quen là hay hét trên sân thi đấu. Là tay vợt ồn áo nhất kể từ khi Monica Seles từ giã sự nghiệp, một tờ bào lá cải ở London đã viết "giọng hét của cô lúc cao điểm đạt tới âm lực 102 decibel" (ngang với còi của một ôtô cảnh sát).[7]
  • Sharapova là bạn thân với tay vợt nữ người Nga Maria Kirilenko, nếu không thì không thân thiết với các tay vợt Nga khác.[8]
  • Tên gọi thân mật của Sharapova là "Masha".[9]
  • Sharapova tặng cây vợt mà cô đã sử dụng tại trận chung kết Wimbledon cho Regis Philbin khi quay Trực tiếp với Regis và Kelly (Live with Regis and Kelly).
  • Sharapova là tay vợt Nga duy nhất đã giành được nhiều hơn một chức vô địch Grand Slam.
  • Nhà tạo mốt mà Sharapova thích nhất là Marc Jacobs. Cô thỉnh thoảng tới dự các buổi trình diễn thời trang của ông.
  • Sharapova đã hoàn thành bộ sưu tập Grand Slam của mình (Grand Slam sự nghiệp) sau khi giành được chức vô địch tại Pháp Mở rộng.
  • Sharapova giành được huy chương Bạc tại Olympics London 2012 sau khi thua Serena Williams với tỉ số 6-0 6-1.

Các mối quan hệSửa đổi

Sharapova hứa hôn với vận động viên bóng rổ chuyên nghiệp người Slovenia, Sasha Vujačić, mà chơi cho đội Anadolu Efes S.K.Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ.[10][11] Cả hai đã cặp với nhau từ 2009.[12] Vào ngày 31 tháng 8 năm 2012, Sharapova chứng nhận là cuộc hứa hôn đã bị hủy bỏ và họ đã chia tay vào mùa xuân 2012. Kể từ giữa năm 2012, cô cặp với vận động viên quần vợt Grigor Dimitrov. Sau giải Madrid mở rộng 2013, cả hai thừa nhận có quan hệ tình cảm với nhau. Ngày 26/7/2015, Dimitrov chính thức xác nhận đã chia tay Sharapova.

Trích dẫnSửa đổi

  • "Khi tôi cố gắng để trở thành tay vợt quần vợt hàng đầu, tôi không bao giờ nói tôi là thứ 2, tôi nói tôi muốn là số 1".[13]
  • "Sau khi đã suy nghĩ kĩ càng, cá nhân tôi tin rằng, cuộc đời tôi không chỉ là về một quả chuối". (Phát biểu trong buổi họp báo sau chức VĐ US Open khi có người cho rằng HLV của cô đã ra dấu để cô ăn một quả chuối)

Chung kết Grand Slam đơn nữ đã tham dựSửa đổi

Chung kết: 10 (5 vô địch, 5 á quân)Sửa đổi

Kết quả Năm Giải đấu Mặt sân Đối thủ Tỉ số
Winner 2004 Wimbledon Cỏ   Serena Williams 6–1, 6–4
Winner 2006 US Open Cứng   Justine Henin 6–4, 6–4
Runner-up 2007 Australian Open Cứng   Serena Williams 1–6, 2–6
Winner 2008 Australian Open Cứng   Ana Ivanovic 7–5, 6–3
Runner-up 2011 Wimbledon Cỏ   Petra Kvitová 3–6, 4–6
Runner-up 2012 Australian Open Cứng   Victoria Azarenka 3–6, 0–6
Winner 2012 French Open Đất nện   Sara Errani 6–3, 6–2
Runner-up 2013 French Open Đất nện   Serena Williams 4–6, 4–6
Winner 2014 French Open (2) Đất nện   Simona Halep 6–4, 6–7(5–7), 6–4
Runner-up 2015 Australian Open Cứng   Serena Williams 3–6, 6–7(5–7)

Chung kết giải WTA Tour Championships đơn nữ đã tham dựSửa đổi

Vô địch (1)Sửa đổi

Năm Thành phố đăng cai Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
2004 Los Angeles   Serena Williams 4–6, 6–2, 6–4

Á quân (2)Sửa đổi

Năm Thành phố đăng cai Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
2007 Madrid   Justine Henin 5–7, 7–5, 6–3
2012 Istanbul   Serena Williams 6–3, 6–4

Chung kết các giải WTA Tour đã tham dựSửa đổi

Vô địch (19)Sửa đổi

Ghi chú
Grand Slam (5)
WTA Championships (1)
Tier I (4)
WTA Tour (9)
Chức vô địch theo mặt sân
Cứng (13)
Đất nện (1)
Cỏ (3)
Trải thảm (1)
STT Ngày Giải Mặt sân Đối thủ ở chung kết Kết quả
1. 29 tháng 9 năm 2003   Tokyo Cứng   Aniko Kapros 2–6, 6–2, 7–67–5
2. 27 tháng 10 năm 2003   Quebec Cứng   Milagros Sequera 6–2 bỏ cuộc
3. 7 tháng 6 năm 2004   Birmingham Cỏ   Tatiana Golovin 4–6, 6–2, 6–1
4. 21 tháng 6 năm 2004   Wimbledon Cỏ   Serena Williams 6–1, 6–4
5. 27 tháng 9 năm 2004   Seoul Cứng   Marta Domachowska 6–1, 6–1
6. 4 tháng 10 năm 2004   Tokyo (2) Cứng   Mashona Washington 6–0, 6–1
7. 8 tháng 11 năm 2004   WTA Championships, Los Angeles Cứng   Serena Williams 4–6, 6–2, 6–4
8. 6 tháng 2 năm 2005   Tōkyō Trải thảm   Lindsay Davenport 6–1, 3–6, 7–67–5
9. 21 tháng 2 năm 2005   Doha Cứng   Alicia Molik 4–6, 6–1, 6–4
10. 6 tháng 6 năm 2005   Birmingham (2) Cỏ   Jelena Janković 6–2, 4–6, 6–1
11. 18 tháng 3 năm 2006   Indian Wells Cứng   Elena Dementieva 6–1, 6–2
12. 6 tháng 8 năm 2006   San Diego Cứng   Kim Clijsters 7–5, 7–5
13. 9 tháng 9 năm 2006   Mỹ Mở rộng, Thành phố New York Cứng   Justine Henin-Hardenne 6–4, 6–4
14. 22 tháng 10 năm 2006   Zürich Cứng   Daniela Hantuchová 6–1, 4–6, 6–3
15. 29 tháng 10 năm 2006   Linz, Áo Cứng   Nadia Petrova 7–5, 6–2
16. 6 tháng 8 năm 2007   San Diego (2) Cứng   Patty Schnyder 6–3, 3–6, 6–1
17. 26 tháng 1 năm 2008   Úc Mở rộng, Úc Cứng   Ana Ivanović 7–5, 6–3
18. 24 tháng 2 năm 2008 Qatar Total Mở rộng, Doha Cứng   Vera Zvonareva 6–1, 2–6, 6–0
19. 13 tháng 4 năm 2008 Bausch & Lomb Championships, Amelia Island, Florida, Mỹ Đất nện   Dominika Cibulková 7–69–7, 6–3

Thua ở trận chung kết (7)Sửa đổi

STT Ngày Giải Mặt sân Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
1. 18 tháng 10 năm 2004   Zürich Cứng   Alicia Molik 6–4, 2–6, 3–6
2. 21 tháng 3 năm 2005   Miami Cứng   Kim Clijsters 3–6, 5–7
3. 20 tháng 2 năm 2006   Dubai Cứng   Justine Henin-Hardenne 5–7, 2–6
4. 30 tháng 3 năm 2006   Miami (2) Cứng   Svetlana Kuznetsova 4–6, 3–6
5. 27 tháng 1 năm 2007   Úc Mở rộng Cứng   Serena Williams 1–6, 2–6
6. 18 tháng 6 năm 2007   Birmingham Cỏ   Jelena Janković 4–6, 6–3, 7–5
7. 11 tháng 11 năm 2007   WTA Tour Championships, Madrid Cứng   Justine Henin 5–7, 7–5, 6–3

Vô địch đôi nữ (3)Sửa đổi

Stt. Ngày Giải Mặt sân Đồng đội Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
1. 29 tháng 9 năm 2003   Tokyo Cứng   Tamarine Tanasugarn   Ansley Cargill
  Ashley Harkleroad
7–67–1, 6–0
2. 20 tháng 10 năm 2003   Luxembourg Cứng   Tamarine Tanasugarn   Elena Tatarkova
  Marlene Weingartner
6–1, 6–4
3. 7 tháng 6 năm 2004   Birmingham Cỏ   Maria Kirilenko   Lisa Mcshea
  Milagros Sequera
6–2, 6–1

Thua ở trận chung kết đôi nữ (1)Sửa đổi

Stt. Ngày Giải Mặt sân Đồng đội Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
1. 12 tháng 2 năm 2004   Memphis Cứng   Vera Zvonareva   Åsa Svensson
  Meilen Tu
6–4, 7–67–0

Bảng tổng kết thành tíchSửa đổi

Để tránh việc nhầm lẫn do sự trùng lặp khi đếm, bảng sau đây chỉ được cập nhật khi một giải đấu đã hoàn thành

Singles performance timelineSửa đổi

Chú giải
 CK  BK TK V# RR Q# A NH
(VĐ) Vô địch giải; vào tới (CK) chung kết, (BK) bán kết, (TK) tứ kết; (V#) các vòng 4, 3, 2, 1; thi đấu (RR) vòng bảng; vào tới vòng loại (Q#) vòng loại chính, 2, 1; (A) không tham dự giải; hoặc (NH) giải không tổ chức.
Để tránh nhầm lẫn hoặc tính thừa, bảng biểu cần được cập nhật khi giải đấu kết thúc hoặc vận động viên đã kết thúc quá trình thi đấu tại giải.
Tournament 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 SR W–L Win %
Australian Open 1R 3R SF SF F W A 1R 4R F SF 4R F QF A 3R 1 / 14 54–13 81%
French Open 1R QF QF 4R SF 4R QF 3R SF W F W 4R A A QF 2 / 14 56–12 83%
Wimbledon 4R W SF SF 4R 2R 2R 4R F 4R 2R 4R SF A A 1 / 13 46–12 79%
US Open 2R 3R SF W 3R A 3R 4R 3R SF A 4R A A 4R 1 / 11 35–10 78%
Win–Loss 4–4 15–3 19–4 20–3 16–4 11–2 7–3 8–4 16–4 21–3 12–3 16–3 14–3 4–1 3–1 6–2 5 / 52 192–47 81%

Note: Tại2003 Australian Open2003 French Open, Sharapova thắng ba trận vòng loại để góp mặt ở vòng đấu chính của mỗi giải.

Note 2: Tại 2016 Australian Open, Maria Sharapova vào đến vòng tứ kết. Tuy nhiên, vài tháng sau cô thông báo rằng mẫu kiểm tra của cô dương tính với chất Meldonium, a banned substance. The ITF Tribunal decided she would be banned from competition for two years, and forced to disqualify her results, prize money, and ranking points from that Australian Open. [14]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Martin, John (7 tháng 11 năm 2006). “The Highest Paid Female Athlete On The Planet; Why Sharapova Is So Hot”. ABC News. Truy cập 7 tháng 11 năm 2006.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  2. ^ “Maria Sharapova failed drugs test at Australian Open”. BBC News Online. Ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2016. 
  3. ^ “Blood-Flow Drug Meldonium Added to WADA's Banned Substances List”. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2016. 
  4. ^ “Sie sind alle so krank”. zeit. Ngày 8 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2016. 
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên return
  6. ^ [1]
  7. ^ Sharapova's decibel levels
  8. ^ Good friend of a fellow Russian tennis player
  9. ^ Tiểu sử
  10. ^ “Maria Sharapova & Sasha Vujacic – Engaged”. TMZ. Ngày 21 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  11. ^ “Maria Sharapova betrothed to guard”. ESPN. Ngày 21 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2010. 
  12. ^ “The Fabulous Forum: Are Sasha Vujacic and Maria Sharapova dating?”. The Los Angeles Times. Ngày 3 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2010. 
  13. ^ Newbery|title=Sharapova proves her worth|date=10 tháng 9 năm 2006|accessdate=23 tháng 10 năm 2006‎
  14. ^ http://www.itftennis.com/news/231175.aspx

Liên kết ngoàiSửa đổi

Vị trí

Tiền nhiệm:
Lindsay Davenport
Lindsay Davenport
Justine Henin
Số 1 thế giới
22/08/2005 - 28/08/2005
12/09/2005 - 23/10/2005
29/01/2007 - 18/03/2007
Kế nhiệm:
Lindsay Davenport
Lindsay Davenport
Justine Henin
Giải thưởng
Tiền nhiệm:
Nadia Petrova
Tay vợt nữ của WTA tiến bộ nhất
2004
Kế nhiệm:
Ana Ivanović
Tiền nhiệm:
Justine Henin-Hardenne
Tay vợt nữ của WTA của năm
2004
Kế nhiệm:
Kim Clijsters