Nikita Sergeyevich Khrushchyov

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô

Nikita Sergeyevich Khrushchyov (tiếng Nga: Ники́та Серге́евич Хрущёв, IPA: [nʲɪˈki.tə sʲɪrˈɡʲe.jɪ.vʲɪ̈tʃʲ xrʊˈʃʲːof]  ( nghe); 15 tháng 4 năm 1894–11 tháng 9 năm 1971) là nhà lãnh đạo của Liên bang Xô viết trong cuộc Chiến tranh Lạnh, đồng thời là Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1953 đến 1964, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô (tức thủ tướng) từ năm 1958 tới 1964. Khrushchev còn là người ủng hộ chủ nghĩa bài Stalin, cũng như việc triển khai Chương trình không gian Liên Xô trong thời gian đầu. Thời kì này chứng kiến nhiều cải tổ tương đối tự do trong các lĩnh vực của chính sách đối nội. Tuy nhiên, những đảng viên khác đã phế truất Khrushchev trong năm 1964. Thay vào đó, chức vụ Bí thư thứ nhất được trao cho Leonid Brezhnev, còn Alexei Kosygin lên làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Nikita Sergeyevich Khrushchyov
Khrushchov.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ14 tháng Chín năm 1953 – 14 tháng Mười năm 1964
Tiền nhiệmGeorgy Malenkov (trên thực tế)
Kế nhiệmLeonid Brezhnev
Nhiệm kỳ27 tháng Ba năm 1958 – 14 tháng Mười năm 1964
Tiền nhiệmNikolai Bulganin
Kế nhiệmAlexei Kosygin
Nhiệm kỳ26 tháng Mười hai năm 1947 – 16 tháng Mười hai năm 1949
Tiền nhiệmLazar Kaganovich
Kế nhiệmLeonid Melnikov
Thông tin chung
Danh hiệuAnh hùng Liên Xô
Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa (ba lần)
Quốc tịchLiên Xô
Sinh(1894-04-15)15 tháng 4 năm 1894
Kalinovka, Kursk Guberniya, đế quốc Nga
Mất11 tháng 9 năm 1971(1971-09-11) (77 tuổi)
Moskva, Nga Xô viết, Liên Xô
Đảng pháiĐảng Cộng sản Liên Xô (1918–1964)
Con cái
  • Yulia Khrushcheva (1915–81)
  • Leonid (1917–43)
  • Rada Khrushcheva (1929–2016)
  • Sergei (1935)
  • Elena Khrushcheva (1937–72)
Học sinh trườngHọc viện công nghiệp Mạc Tư Khoa
Chữ kýNikita Khrushchev Signature2.svg
Binh nghiệp
Phục vụLiên Xô
ThuộcHồng quân
Năm tại ngũ1941–45
Cấp bậcTrung tướng
Chỉ huyLực lượng vũ trang Liên Xô
Tham chiếnThế chiến II

Lãnh đạo của Liên Xô

Khrushchev sinh vào năm 1894 trong một ngôi làng ở Kalinovka, gần với biên giới ngày nay giữa Nga và Ukraina. Ông từng là một thợ cơ khí, sau là chính ủy trong thời gian cuộc nội chiến Nga bùng nổ. Với sự giúp đỡ của Lazar Kaganovich, ông đã thăng tiến lên trong hệ thống cấp bậc của chính quyền Liên Xô. Ông đã ủng hộ những cuộc thanh trừng của Stalin, và đã tán thành hàng nghìn vụ bắt giữ. Năm 1938, Stalin đã phái ông tới quản lý Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina, và ông đã tiếp tục những cuộc thanh trừng ở đó. Trong suốt thời kỳ được biết tới được gọi trong Liên Xô là Chiến tranh ái quốc vĩ đại (Mặt trận phía Đông trong Thế chiến II), Khrushchev trở lại làm chính ủy, phục vụ như là người trung gian giữa Stalin và những viên tướng của ông. Khrushchev đã có mặt tại cuộc phòng thủ đẫm máu ở Stalingrad, một sự kiện ông đã lấy làm tự hào trong suốt cuộc đời của ông. Sau cuộc chiến, ông đã trở lại Ukraina trước khi được triệu hồi tới Moscow để trở thành một trong những cố vấn thân cận của Stalin.

Vào ngày 5 tháng 3 năm 1953, cái chết của Stalin đã gây ra một sự xung đột quyền lực mà Khrushchev đã chiến thắng nhờ vào việc củng cố quyền lực của ông như là Tổng bí thư thứ nhất. Ngày 25 tháng Hai 1956, tại Đại hội Đảng lần thứ 20, ông đã phát biểu bai báo cáo "Bàn về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó" (hay "Diễn văn bí mật") thứ đã tố cáo sự thanh trừng của Stalin và đã khởi đầu một thời kỳ ít đàn áp hơn trong Liên Xô. Những chính sách trong nước của ông, nhằm cải thiện cuộc sống của người dân bình thường, thường kém hiệu quả, đặc biệt trong nông nghiệp. Hi vọng cuối cùng dựa vào những tên lửa cho việc phòng thủ quốc gia, Khrushchev đã ra lệnh cắt giảm phần lớn lực lượng chính qui. Mặc dù cắt giảm, thời gian Khrushchev tại vị đã chứng kiến những năm căng thẳng nhất của Chiến tranh lạnh, đi đến kết quả là Khủng hoảng tên lửa Cuba.

Sự ưa thích của dân chúng với Khrushchev đã bị xói mòn bởi những sai lầm trong chính sách của ông. Điều đó làm cho những đối thủ chính trị của ông tự tin hơn, những người đã nổi dậy một cách êm ả trong việc hạ bệ ông vào tháng Mười 1964. Tuy nhiên ông không bị chết như những cái chết khác trong các cuộc xung đột quyền lực trong Liên Xô trước đây, và được trả lương hưu với một căn hộ ở Moscow và một biệt thự ở nông thôn. Hồi ký của ông đã được chuyển lậu với phương Tây và được xuất bản một phần năm 1970, Khrushchev chết năm 1971 sau một cơn đau tim.

Thời trẻSửa đổi

Khrushchev sinh ngày 15 tháng Tư 1894 tại làng Kalinovka, một ngôi làng trong một bang hiện tại của nước Nga- bang Kursk Oblast, gần biên giới Ukraina. Bố mẹ của ông, Sergei Khrushchev và Xeniya Khrushcheva, là những nông dân nghèo người gốc Nga, và họ đã có thêm một người con gái Irina, sinh sau Khrushchev hai năm. Sergei Khrushchev đã làm một số việc trong khu vực Donbas, làm nhân viên đường sắt, thợ mỏ, công nhân nhà máy gạch. Mức lương của ông là cao hơn nhiều so với trong khu vực Kursk, và Sergei Khrushchev thường rời gia đình của ông ở Kalinovka, trở lại đó khi ông đã kiếm đủ tiền.

Kalinovka là một ngôi làng nông dân; giáo viên của Khrushchev, Lydia Shevchenko, về sau đã nói rằng cô chưa thấy ngôi làng nào nghèo như ngôi làng đó. Nikita đã làm việc như một đứa trẻ chăn gia súc từ nhỏ. Ông đã được học tổng cộng bốn năm, một phần trong trường học thuộc giáo khu của làng và một phần dưới sự giám hộ của Shevchenko trong trường học của Kalinovka. Theo hồi ký của Khrushchev, Shevchenko là một giáo viên có suy nghĩ tự do, người đã làm náo loạn người làng bởi việc không gia nhập nhà thờ, và khi anh trai cô tới thăm, người này đã cho học sinh những cuốn sách mà bị cấm bởi triều đình lúc đó. Cô đã thúc giục Nikita tìm kiếm việc học thêm nữa, nhưng điều kiện kinh tế gia đình không cho phép điều đó.

Năm 1908, Sergei Khrushchev di chuyển tới thành phố Donbas (nay là Donetsk, Ukraina); cậu bé 14 tuổi Nikita đi theo trong năm, trong khi Ksenia Khrushcheva và con gái đến sau. Yuzovka, tỉnh sau được đổi tên là Stalino năm 1924 và Donetsk năm 1961, lúc ấy là trung tâm của một trong những khu vực công nghiệp hóa nhất của Đế chế Nga. Sau khi cậu bé đã làm việc thời gian ngắn trong những cánh đồng, bố mẹ ông đã tìm cho ông một nơi làm việc mà ông đã học việc công nhân cơ khí, sau đó Khrushchev được thuê bởi một nhà máy. Ông đã mất việc khi thu gom tiền cho những gia đình nạn nhân của cuộc thảm sát Lena Goldfields, và được thuê để sửa chữa trang thiết bị đường hầm bởi một hầm mỏ gần Rutchenkovo, nơi cha ông là người tổ chức công đoàn, và ông đã giúp đỡ phân phát những bản sao và tổ chức đọc cho người dân tờ báo Pravda. Ông sau đó đã nói rằng ông đã cân nhắc di cư sang Mĩ để có mức lương tốt hơn, nhưng rốt cuộc đã không làm vậy.

 
Khrushchev và người vợ đầu tiên Euphrasinia (Yefrosinia) năm 1916

Khi Thế chiến I bùng nổ năm 1914, Khrushchev đã được miễn nghĩa vụ quân sự bởi vì ông là một công nhân cơ khí có tay nghề cao. Ông đã được nhận làm bởi một xưởng lúc ấy đang cung cấp dịch vụ cho mười hầm mỏ, và ông đã có liên can tới nhiều cuộc đình công để yêu cầu tiền lương, điều kiện làm việc cao hơn, và kết thúc chiến tranh. Năm 1914, ông đã kết hôn với Yefrosinia Pisareva, con gái của một người điều khiển thang máy tại hầm mỏ Rutchenkovo . Năm 1915 và 1917, họ đã có con theo thứ tự là con gái Yulia và con trai Leonid.

Sau sự thoái vị của Sa hoàng Nicholas II năm 1917, Chính phủ Lâm thời Nga mới thành lập đã ảnh hưởng không đáng kể lên Ukraina. Khrushchev được bầu vào tổ chức công đoàn (hoặc xô viết) trong Rutchenkovo, và trong tháng Năm ông đã trở thành chủ tịch của nó. Ông đã không gia nhập vào Bolsheviks cho đến năm 1918, năm xảy ra Nội chiến Nga, giữa Bolsheviks và một liên minh tập hợp đối thủ của họ được gọi là Bạch vệ, đã bắt đầu nổ ra dữ dội. Người viết tiểu sử của ông, William Taubman, gợi ý rằng sự chậm trễ của Khrushchev trong việc gia nhập Bolsheviks bởi vì ông đã cảm thấy gần gũi hơn tới những người Mensheviks do họ đã ưu tiên phát triển kinh tế.Trong hồi ký, Khrushchev đã viết rằng ông đã chờ đợi bởi vì có nhiều nhóm, và rất khó khăn để lựa chọn.

Tháng Ba 1918, khi chính phủ Bolshevik đã quyết định ký một hiệp ước hòa bình với phe Trục, Đức đã xâm lược Donbas và Khrushchev đã chạy tới Kalinovka. Cuối 1918, đầu 1919 ông được huy động vào Hồng quân, làm việc với vị trí chính ủy. Vị trí chính ủy đã được đưa ra gần thời gian đó, khi Bolsheviks đã dựa vào ít hơn những đảng viên công nhân tích cực và dựa vào nhiều hơn những tân binh; chức năng của nó bao gồm việc truyền bá cho tân binh những lý thuyết của chủ nghĩa Bolsheviks, và thúc đẩy tinh thần và sự sẵn sàng chiến đấu cho binh lính. Khởi đầu với vai trò chính ủy để xây dựng một trung đội, Khrushchev đã được bổ nhiệm trở thành chính ủy tiểu đoàn và được gửi tới mặt trận cho một khóa học chính trị kéo dài hai tháng. Vị chính ủy trẻ tuổi đã nhiều lần dưới làn đạn. Năm 1921, nội chiến kết thúc, Khrushchev được giải ngũ và được bổ nhiệm làm chính ủy một đội lao động ở Donbas, nơi ông đã sống trong điều kiện nghèo khổ.

Những cuộc chiến tranh là nguyên nhân của sự tàn phá và nạn đói lan rộng, và một trong nạn nhân của đói kém và bệnh tật là vợ của ông, Yefrosinia, người đã chết do bệnh sốt ricketsia ở Kalinovka trong khi Khrushchev vẫn trong quân ngũ. Viên chính ủy đã trở lại đếm mai táng vợ mình, trung thành với những nguyên tắc Bolshevik của ông, ông đã từ chối cho phép quan tài vợ mình vào nhà thờ địa phương. Với chỉ một con đường vào nghĩa trang thông qua nhà thờ, ông đã nâng quan tài lên và cho qua hàng rào vào trong nghĩa trang, gây sự kinh hoàng cho ngôi làng.

Cán bộ đảngSửa đổi

Những năm ở DonbasSửa đổi

Qua sự can thiệp của một người bạn, Khrushchev được bổ nhiệm năm 1921 với vai trò là phó giám đốc cho các vấn đề chính trị ở mỏ Rutchenkovo trong khu vực Donbas, nơi ông đã làm việc trước đây. Có một vài người Bolsheviks trong khu vực. Tại thời điểm đó, phong trào bị chia rẽ bởi Chính sách kinh tế mới (Liên Xô) của Lenin, thứ đã cho phép một vài hoạt động kinh doanh tư nhân và được xem như một sự rút lui tư tưởng bởi một vài nhân vật Bolsheviks. Trong khi trách nhiệm của Khrushev nằm ở chính trị, ông đã liên quan tới trong các hoạt động phục hồi lại sản xuất tại hầm mỏ sau các hỗn loạn của những năm chiến tranh. Ông đã giúp khởi động lại máy móc và ông đã mặc lại bộ đồ cũ thợ mỏ của ông trong những chuyến thanh tra.

Khrushchev đã rất thành công tại mỏ Rutchenkovo , và giữa năm 1922 ông được đề nghị làm giám đốc gần mỏ Pastukhov. Tuy nhiên, ông đã từ chối đề nghị, xin được bổ nhiệm tới trường cao đẳng kĩ thuật mới được thành lập trong Yuzovka. Mặc dù cấp trên của ông phải bất đắc dĩ cho phép ông rời đi.

Vào năm 1929 ông vào học ở Viện công nghiệp Mat-xcơ-va, sau đó được bầu làm bí thư đảng ủy viện.

 
Stalin và Khrushchyov trong đoàn chủ tịch kì họp Ủy ban Chấp hành Trung ương Liên Xô[1] (tháng 1 năm 1936)

Từ tháng 1 năm 1931 - bí thư ban chấp hành quận Baumanskiy, sau đó là quận Krasnopresnenskiy, vào những năm 1932-1934 lúc đầu làm bí thư thứ hai, sau đó là bí thứ nhất Thành ủy Mat-xcơ-va Đảng cộng sản Liên Xô.

Vào năm 1938, ông trở thành bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương (BCH TƯ) Đảng Cộng sản Ukraina và là ứng cử viên vào thành viên Bộ chính trị, và một năm sau đó là thành viên Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô[2]. Nắm những chức vụ này ông đã tỏ rõ bản lĩnh người chiến sĩ đấu tranh chống những «kẻ thù của nhân dân» đến cùng.[3]

Vào những năm Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, Khrushchyov là Ủy viên Hội đồng quân sự phụ trách chính trị các phương diện quân Tây Nam, Đông Nam, Stalingrad, Nam, VoronezhUkraina 1. Hoàn toàn ủng hộ quan điểm của Stalin, ông đã là một trong số những người chịu trách nhiệm trong trận thua của Hồng quân[4] bị bao vây ở Kiev (1941) và ở Kharkov (1942). Sau khi chiến tranh kết thúc, ông mang quân hàm trung tướng.

Vào tháng 10 năm 1942 sắc lệnh do Stalin ký bãi bỏ hệ thống chỉ huy kép và chuyển các ủy viên từ cán bộ chỉ huy thành cố vấn đã được ban hành. Khrushchyov ở trong thê đội chỉ huy tiền tuyến sau Mamaevyi Kurgan, sau đó làm việc ở nhà máy máy kéo.

Trong giai đoạn từ 1944 đến 1947 ông làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết Ukraina, sau đó một lần nữa được bầu làm bí thư thứ nhất BCH TƯ Đảng cộng sản (của những người bôn-sê-vich) Ukraina.

Từ tháng 12 năm 1949, một lần nữa ông làm bí thư thứ nhất tỉnh Moskva và bí thư BCH TƯ đảng.

Lãnh đạo (1953-1964Sửa đổi

Những chính sách trong nướcSửa đổi

Củng cố quyền lực; Diễn văn bí mậtSửa đổi

Vào tháng 6 năm 1953, sau cái chết của Iosif Stalin, ông là một trong những người khởi xướng chính việc cách tất cả các chức vụ và bắt giam Lavrentiy Pavlovich Beriya.

Vào tháng 9 năm 1953 Khrushchyov được bầu làm bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương. Tại đại hội lần thứ 20 Đảng cộng sản Liên Xô, ông đã đọc báo cáo về sự sùng bái cá nhân của I.V. Stalin.

Tại "Hội nghị toàn thể tháng Sáu" năm 1957, Ban chấp hành trung ương đã giành thắng lợi trước nhóm chống đảng của V. Molotov, G. Malenkov, L. Kaganovich và kẻ hùa theo nhóm này là Shepilov.

Từ năm 1958 ông làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô.

Khrushchyov nắm những chức vụ này cho tới ngày 14 tháng 10 năm 1964, khi Hội nghị toàn thể tháng Mười BCH TƯ được tổ chức với sự vắng mặt của ông. Khrushchyov nghỉ hưu, thôi các chức vụ đảng và nhà nước "do tình trạng sức khỏe".[5]. Phó chủ nhiệm phòng quan hệ với các đảng công nhân và cộng sản của các nước xã hội chủ nghĩa thuộc Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô Nikolay Nikolayevich Mesyatsev nhớ lại:[6]

Từ đó, Nikita Khrushchyov sống bằng tiền lương hưu. Ông mất vào ngày 11 tháng 9 năm 1971.

Sau khi thôi chức, tên của Khrushchyov không hề "được nhắc tới" trong hơn 20 năm (cũng như tên của Stalin và nhất là tên của Malenkov); trong Đại bách khoa toàn thư Xô-viết chỉ có đôi dòng ngắn gọn nói về Khrushchyov như sau: Trong hoạt động của ông có các nhân tố của chủ nghĩa chủ quaný chí luận. Đã có tranh luận về hoạt động của Khrushchyov trong Cuộc cải tổ. Theo đó Khrushchyov nổi bật với vai trò "người tiên phong" của cuộc cải tổ, và người ta cũng đã xét đến vai trò cá nhân của Khrushchyov trong các vụ đàn áp, cũng như xét các mặt tiêu cực trong việc lãnh đạo của ông. «Hồi ký» của Khrushchyov mà ông viết nhờ tiền lương hưu đã được đăng ở các tạp chí xô-viết.

Trong lúc còn sống, tên của Khrushchyov đã được đặt cho thành phố của những người thợ xây dựng nhà máy thủy điện Kremenchuk (tỉnh Kirovograd, Ukraina) trong một thời gian ngắn. Thành phố này vào năm 1962 được đổi tên thành Kremges, khi Khrushchyov vẫn còn đương chức, sau đó vào năm 1969 tiếp tục được đổi tên thành Svetlovodsk.

Gia đình Khrushchyov N.SSửa đổi

Nikita Sergeyevich đã hai lần cưới vợ (theo dữ liệu không chính thức là ba lần). Cuộc hôn nhân đầu tiên với Efrosinya Ivanovna Pisareva, đã mất vào năm 1920.

N.S Khrushchyov có tất cả năm người con: hai con trai và ba con gái, có hai con với người vợ đầu là Yulia và Leonid.

  1. Leonid Nikitish Khrushchyov (10 tháng 11 năm 191711 tháng 3 năm 1943) — phi công quân đội. Năm 1942, Leonid Khrushchev đã bắn chết 1 đồng đội khi đùa giỡn lúc say rượu, bị tòa án binh kết án 8 năm tù giam, nhưng được miễn án tù để ra trận chiến đấu. Sau 6 phi vụ thì Leonid đào ngũ sang phía Đức. Cơ quan Tình báo Xô viết đã xâm nhập vào tận Berlin để bắt Leonid đưa về Moscow. Đại Nguyên soái Stalin quyết định sẽ không có sự ưu đãi nào với tội đào ngũ sang phe địch, kể cả khi đó là con của cộng sự thân thiết, nên Leonid bị xử bắn. Việc Stalin không tha tội cho Leonid là một trong những nguyên nhân chính khiến Nikita Khrushchev công kích Stalin sau khi ông qua đời.
  2. Leonid có 2 vợ: Người vợ đầu tiên của Leonid là Rozа Treyvas, cuộc hôn nhân kéo dài không lâu và bị hủy bỏ theo lệnh riêng của N.S. Khrushchyov. Người vợ thứ hai — Lyubov' Illarionovna Sizyx, bị bắt vào năm 1942 (theo dữ liệu khác, vào năm 1943)) bởi dính líu đến việc Leonid Khrushchev đào ngũ, bà được trả tự do vào năm 1954. Từ cuộc hôn nhân này có hai người con — con trai Yuriy Leonidovich Khrushchyov (sinh năm 1935), phi công lái bay thí nghiệm có công, đại tá về hưu, và con gái Yuliya Leonidovna Khrushchyova.
  3. Yulia Nikitishna Khrushchyova — lấy chồng là Viktor Petrovich Gontaryom, giám đốc nhà hát opera Kiev.

Theo các dữ kiện chưa được khẳng định, N.S Khrushchyov đã cưới vợ là Nadezhda Gorskaya trong thời gian ngắn.

Người vợ tiếp theo, Nina Petrovna Kukharchuk, sinh 14 tháng 4 năm 1900 ở làng Vasilyov, tỉnh Kholmskaya (hiện nay là lãnh thổ Ba Lan). Họ cưới nhau vào năm 1924, tuy nhiên mãi tới năm 1965 cuộc hôn nhân mới được đăng ký chính thức ở ZhAGS. Người đầu tiên trong số các bà vợ của các vị lãnh tụ Xô viết chính thức đi theo chồng trong các buổi đón tiếp, kể cả ở nước ngoài. Mất vào 13 tháng 8 năm 1984, được an táng ở nghĩa trang Novodevich ở Mat-xcơ-va. Con gái đầu tiên từ cuộc hôn nhân này đã qua đời khi còn nhỏ.

Người con gái Rada Nikitishna Adzhubey, sinh ở Kiev vào năm 1929. Chồng cô ấy — Aleksey Ivanovich Adzhubey, biên tập viên chính tờ báo "Tin tức" (tiếng Nga: «Известия»).

Người con trai Sergey Nikitish Khrushchyov sinh vào năm 1935 ở Mát-xcơ-va, tốt nghiệp trường № 110 với huy chương vàng, kĩ sư hệ thống tên lửa, giáo sư, từ năm 1990 sống và giảng dạy ở Hoa Kỳ, hiện nay là công dân nước này.[7]. Sergey Nikitish sinh được hai người con trai, người anh tên là Nikita, người em là Sergey. Sergey hiện sống ở Mát- xcơ-va. Nikita mất vào ngày 22 tháng 2 năm 2007, được an táng tại nghĩa trang Novodevich ở Mat-xcơ-va cạnh ông bà.

Vào năm 1937 con gái N.S. Khrushchyov là Elena chào đời.

Gia đình Khrushchyov đã sống ở Kiev trong ngôi nhà cũ của Poskryobyshev, ở nhà nghỉ ngoại ô ở Mezhgor'; lúc ở Mat-xcơ-va đầu tiên ở phố Maroseyka, sau đó ở Nhà Chính phủ («Nhà bên bờ kè»), ở phố Granovskiy, ở biệt thự quốc gia trên dãy núi Lenin (phố Kosygina hiện nay), lúc sơ tán — ở Kuybyshev, Samara, sau khi về hưu — ở nhà nghỉ ngoại ô ở Zhukovka 2.

Các hoạt động chính trị chủ yếuSửa đổi

Hồi ký KhrushchyovSửa đổi

Trong năm 1970 hồi ký của ông bằng tiếng Anh với tựa là Khrushchev Remembers (Khrushchyov nhớ lại) xuất hiện, tuy nhiên vì quan hệ với bộ chính trị, ông luôn phủ nhận đó là của mình. Nhưng mà giọng ông thâu trên băng, lúc ông về hưu đã đọc cho viết lại tại Datscha mình, đã chứng nhận điều đó. Con ông trong một ấn bản sau này, cho biết mình chính là thành người hiệu đính và lưu giữ bản thảo, theo ông đó là "một việc rất nguy hiểm". Chính quyền thời đó "đã làm tất cả để hồi ký của Khrusev không ra đời được." Toàn bộ bản viết của Khrushchyov lần đầu tiên công bố năm 1990-1995 trong tạp chí “Các vấn đề lịch sử” ở Nga.[8]

Phê bìnhSửa đổi

Giải thưởngSửa đổi

Hình ảnh Khrushchyov trong nghệ thuậtSửa đổi

Điện ảnhSửa đổi

Nikita Sergeyevich Khrushchyovshchyov từng được đề cập trong bộ phim Enemy at the Gate, với vai trò là người chỉ huy quân đội trong trận Stalingrad.

Âm nhạcSửa đổi

Tưởng niệmSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ tiếng Nga: Центра́льный Исполни́тельный Комите́т СССР, (ЦИК CCCР) dịch nghĩa: Ủy ban Chấp hành Trung ương Liên Xô, là cơ quan cao nhất chính quyền quốc gia Liên bang Xô viết 1922—1938 giữa các kì Đại hội các Xô viết toàn Liên Xô. Tất cả các Đại hội đều diễn ra ở Matxcova.
  2. ^ tiếng Nga: ВКП(б) = Всесоюзная коммунистическая партия (большевиков) = Đảng cộng sản toàn Liên Xô (của những người bôn-sê-vic), tên chính thức của Đảng cộng sản Liên Xô giai đoạn 1925—1952
  3. ^ Theo một số công bố, một mẫu thư ngắn của Khrushchyov gửi cho Stalin vào năm 1938 từ Kiev [1], [2], [3], [4]
    có nội dung như sau: «Iosif Vissarionovich kính mến! Ukraina hàng tháng gửi 17-18 ngàn người bị trấn áp, còn Matxcova khẳng định không quá 2-3 ngàn người. Yêu cầu đồng chí thi hành các biện pháp. Người luôn yêu mến đồng chí, N.S. Khrushchyov».
    Nghị quyết ngắn của Stalin trả lời bức thư này rất thú vị: «Im đi, thằng ngu!» [5] Tuy nhiên, không ai trong số các tác giả viết những bài báo này chỉ ra đường dẫn tới kho lưu trữ, trong đó giữ «bức thư ngắn của Khrushchyov» này. Phóng viên, sử gia Leonid Mikhailovich Mlechin vào ngày 20 tháng 9 năm 2009 trên sóng đài phát thanh «Tiếng vang Matxcova» đã kiên quyết bác bỏ huyền thoại này, cho rằng mẫu thư đó không thể nào tồn tại. Leonid Mlechin trước hết đã chỉ ra cách diễn đạt trong bức thư này hoàn toàn không thể có.
  4. ^ РККА (tiếng Nga: Рабоче-Крестьянская Красная Армия = quân đội đỏ công nhân - nông dân = Hồng quân công nông)
  5. ^ “Проект решения ЦК КПСС об освобождении Хрущёва от должности”. 
  6. ^ “Горизонты в лабиринте”. Советская Россия. 
  7. ^ William Taubman (2004). “Khrushchev: The Man and His Era”. New York: W.W.Norton&Company. ISBN 0-393-32484-2. 
  8. ^ HỒI KÝ KHRUSEV , Nguyễn Học (dịch từ bản tiếng Nga), tusachnghiencuu, tr. 1

Liên kết ngoàiSửa đổi