Tê tê hay còn gọi là trút hoặc xuyên sơn, (tiếng Anh: Pangolin) là các loài động vật có vú thuộc Bộ Tê tê (Pholidota) (từ tiếng Hy Lạp cổ đại φολῐ́ς, "vảy sừng"). Chỉ còn một họ còn sinh tồn, Họ Manidae, gồm ba chi: Manis, PhataginusSmutsia. Chi Manis bao gồm 4 loài được tìm thấy ở châu Á, trong khi chi PhataginusSmutsia mỗi chi chỉ gồm 2 loài sống ở Châu Phi Hạ Sahara. Những loài này có kích thước từ 30 đến 100 cm. Một số loài tê tê đã bị tuyệt chủng cũng được biết đến.

Tê tê[1]
Thời điểm hóa thạch: Đầu thế Eocen - Gần đây
Manidae.jpg
Các loài tê tê còn sinh tồn
Tình trạng bảo tồn
CITES Phụ lục I (CITES)[2]
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Pholidota
Weber, 1904
Họ (familia)Manidae
Gray, 1821
Khu vực phân bố các loài tê tê      Manis crassicaudata      Manis pentadactyla      Manis javanica      Manis culionensis      Phataginus tricuspis      Phataginus tetradactyla      Smutsia gigantea      Smutsia temminckii
Khu vực phân bố các loài tê tê

     Manis crassicaudata      Manis pentadactyla      Manis javanica      Manis culionensis      Phataginus tricuspis      Phataginus tetradactyla      Smutsia gigantea

     Smutsia temminckii
Các chi
Một con tê tê trong tư thế phòng thủ, Bảo tàng Horniman, London.

Thân tê tê có lớp vảy lớn bằng keratin - chất liệu tương tự móng tay và móng chân bảo vệ và cứng bao phủ da của chúng; chúng là động vật có vú duy nhất được biết đến với đặc điểm này. Chúng sống trong những hốc cây rỗng hoặc hang, tùy theo loài ở các miền nhiệt đới châu Áchâu Phi. Tê tê là loài sống về đêm, và chế độ ăn uống của chúng bao gồm chủ yếu là kiến ​​và mối chúng bắt được bằng cái lưỡi dài của chúng. Vào ban ngày, chúng cuộn tròn thành quả bóng để ngủ. Chúng thường là động vật sống đơn độc, chỉ gặp nhau để giao phối và sinh ra một lứa từ một đến ba con và nuôi trong khoảng hai năm.

Tê tê bị đe dọa bởi nạn săn trộm (để lấy thịt và vảy của chúng, được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc), và nạn phá rừng nặng nề đe dọa môi trường sống tự nhiên của chúng. Chúng là loài động vật có vú bị buôn bán nhiều nhất trên thế giới. Kể từ tháng 1 năm 2020, trong số 8 loài tê tê, 3 loài (Manis culionensis, M. pentadactylaM. javanica) được đánh giá là có nguy cơ bị tuyệt chủng; 3 loài (Phataginus tricuspis, Manis crassicaudataSmutsia gigantea) được đánh giá là loài nguy cấp; 2 loài (Phataginus tetradactylaSmutsia temminckii) được đánh giá là dễ bị tổn thương trong sách đỏ IUCN của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế.

Nguồn gốcSửa đổi

Tên tê tê bắt nguồn từ tiếng Mã Lai "pengguling", có nghĩa là "con cuộn tròn". Tuy nhiên, tên hiện đại trong tiếng Mã Lai chuẩn là tenggiling; trong khi trong tiếng Indonesia, nó là trenggiling; và trong ngôn ngữ Philippines, nó là goling, tanggiling, hoặc balintong (với cùng nghĩa).

Đặc điểmSửa đổi

Toàn thân tê tê có lớp vảy cứng bao bọc, chồng lên nhau giống như những tấm vảy, chỉ chừa phần phía bụng. Khi mới sinh ra, vảy tê tê mềm nhưng dần cứng lại khi chúng trưởng thành. Chúng được làm bằng keratin, cùng một chất liệu giống móng tay của con người và móng vuốt dài và cứng, và có cấu trúc và thành phần khác với vảy của loài bò sát. Bề ngoài cơ thể có vảy tương đương với hình nón thông. Mép vảy sắc và nhọn để giúp việc phòng thủ. Nó có thể cuộn tròn lại thành một quả bóng khi bị đe dọa, với những lớp vảy chồng lên nhau đóng vai trò như một chiếc áo giáp, trong khi nó bảo vệ khuôn mặt của mình bằng cách nhét nó dưới đuôi. Các vảy sắc nhọn, cung cấp thêm khả năng phòng thủ khỏi những kẻ săn mồi. Chúng còn tự vệ bằng cách xịt dung dịch axit hôi từ tuyến gần hậu môn, tương tự như chất phun của chồn hôi.

Tê tê có móng dài và cứng; móng hai chân trước được dùng để phá tổ côn trùng tìm thức ăn, đào hang vào các gò kiến và mối và để leo trèo. Vì móng dài nên chúng không đi bằng cách đạp chân xuống đất mà ngược lại, tê tê di chuyển bằng cách co hai chân trước lại và giẫm lên mu bàn chân. Miệng chúng không có răng; thức ăn chủ yếu là kiếnmối. Chúng dùng lưỡi dài (có thể lên đến 40 cm, đường kính chỉ 0,5 cm) với nước dãi rất dính để bắt mồi. Lưỡi nằm trong lồng ngực, giữa xương ức và khí quản.

Phần đuôi tê tê có khả năng cầm nắm, để giúp vịn vào cành cây khi leo trèo.

Các loài tê tê đo được từ 30 đến 100 cm. Con cái thường nhỏ hơn con đực. Chúng làm ổ trong những hốc cây rỗng hay đào hang sâu dưới đất.

Tập tínhSửa đổi

Hầu hết tê tê là động vật sống về đêm và sử dụng khứu giác phát triển để tìm côn trùng. Loài tê tê đuôi dài cũng hoạt động vào ban ngày, trong khi các loài tê tê khác ngủ nhiều vào ban ngày, cuộn tròn thành một quả bóng.

Tê tê sống trong cây rỗng, trong khi các loài sống trên mặt đất đào đường hầm ở độ sâu 3,5 m (11 feet 6 inches).

Một số con tê tê di chuyển với móng vuốt phía trước của chúng uốn cong dưới tấm đệm chân, mặc dù chúng sử dụng toàn bộ phần đệm chân trên các chi sau. Một số còn thể hiện tư thế đi bằng hai chân và có thể đi một vài bước. Chúng bơi lội rất giỏi.

Kiếm ănSửa đổi

Tê tê ăn côn trùng. Chúng ăn hầu hết nhiều loài kiến ​​và mối khác nhau và có thể bổ sung bởi các loại côn trùng khác, đặc biệt là ấu trùng. Chúng hơi đặc biệt và có xu hướng chỉ tiêu thụ một hoặc hai loài côn trùng, ngay cả khi nhiều loài có sẵn. Một con tê tê có thể tiêu thụ 140 đến 200 gram (5 đến 7 ounce) côn trùng mỗi ngày. Tê tê là ​​cơ quan điều tiết quan trọng của quần thể mối trong môi trường sống tự nhiên.

Tê tê có thị lực rất kém và bị thiếu răng. Chúng chủ yếu dựa vào khứu giácthính giác, ngoài ra còn có những đặc điểm cơ thể khác giúp chúng ăn kiến ​​và mối. Cấu trúc bộ xương của chúng rất chắc chắn và hai chân trước khỏe, hữu dụng khi xé các gò mối. Chúng sử dụng móng vuốt phía trước khỏe của mình để đào sâu vào cây, mặt đất và thảm thực vật để tìm con mồi, sau đó sử dụng chiếc lưỡi dài để thăm dò bên trong các đường hầm của côn trùng và lấy con mồi.

Cấu trúc của lưỡi và dạ dày là chìa khóa giúp tê tê kiếm được và tiêu hóa côn trùng. Nước bọt dính khiến kiến ​​và mối dính vào chiếc lưỡi dài khi chúng săn trong đường hầm của côn trùng. Không có răng, tê tê cũng không có khả năng nhai; tuy nhiên, trong lúc kiếm ăn, chúng ăn phải những viên đá nhỏ tích tụ trong dạ dày. Phần dạ dày này được gọi là mề, và được bao phủ bởi các gai keratin. Những chiếc gai này hỗ trợ thêm cho quá trình nghiền nát và tiêu hóa con mồi của tê tê.

Một số loài, chẳng hạn như tê tê cây, sử dụng chiếc đuôi cứng cáp của chúng để treo trên cành cây và tước vỏ cây, để lộ tổ côn trùng bên trong.

Sinh sảnSửa đổi

Tê tê sống đơn độc và chỉ gặp nhau để giao phối. Con đực to hơn con cái, nặng hơn tới 40%. Mặc dù thời gian giao phối không xác định được, nhưng chúng thường giao phối một lần mỗi năm, thường là vào mùa hè hoặc mùa thu. Thay vì con đực tìm kiếm con cái, con đực đánh dấu vị trí của chúng bằng nước tiểu hoặc phân và con cái sẽ tìm chúng. Nếu có sự cạnh tranh về con cái, con đực sẽ sử dụng đuôi của chúng làm vũ khí để tranh giành cơ hội giao phối với con cái.

Thời gian mang thai khác nhau tùy theo loài, khoảng 120-150 ngày, đẻ lứa từ một (tê tê châu Phi) đến ba con (tê tê châu Á). Chúng thường đẻ một con, ít khi hai. Tê tê con có trọng lượng từ 80-450g. Lúc mới sinh vảy mềm, màu trắng. Sau một vài ngày, chúng cứng lại và sẫm màu giống những con trưởng thành. Trong giai đoạn sinh trưởng, con mẹ ở cùng với con cái trong hang. Chúng bám vào đuôi mẹ, khi gặp nguy hiểm con mẹ dấu con dưới bụng và cuộn tròn người lại, nhưng cũng có loài tê tê ẩn trong hang đến 2-4 tuần thì mới ra ngoài. Khi được một tháng tuổi, chúng lần đầu tiên rời hang cưỡi trên lưng mẹ. Chúng thôi sữa ở khoảng ba tháng, ở giai đoạn này con non bắt đầu ăn côn trùng và đến hai tuổi thì trưởng thành, có thể sinh sản được.[3]

Phân loạiSửa đổi

Mối đe dọa và được bảo tồnSửa đổi

Các loài tê tê ở cả châu Phi lẫn châu Á đều bị con người săn bắn lấy thịt. Tại Trung Quốc thịt tê tê được coi là cao lương bổ trong Đông y, giúp điều hòa lưu huyết và tăng lượng sữa cho sản phụ nên bán rất được giá. Chúng cũng được dùng như một chất khử trùng và có thể được sử dụng cho bệnh sốt và bệnh ngoài da, hoặc dùng bên ngoài chà lên da bị trầy xước của bệnh nhân, hoặc nghiền nát và tiêu hóa. Các phần của cơ thể chúng, đặc biệt là các loài Đông Nam Á bị nhập khẩu một mức độ lớn trong thị trường ngầm đến Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam. Mối đe dọa này cùng với nạn phá rừng, phá hoại môi trường sống của chúng, đã làm giảm số tê tê, nhất là loài Manis gigantea do bị săn bắn quá mức. Hiện nay, tất cả các loài tê tê đều được liệt kê trong danh sách cấm theo Công ước CITES. Từ năm 2000 là "không hạn định số lượng" (cấm tuyệt đối), có nghĩa là cấm bất kỳ thương mại quốc tế về tê tê hoặc các bộ phận cơ thể của chúng.[4] Tháng 11 năm 2010, tê tê đã được thêm vào danh sách các động vật có vú khác biệt về mặt di truyền và có nguy cơ tuyệt chủng của Hiệp hội Động vật học London (Zoological Society of London's).[5] IUCN cũng đã liệt kê tám loài tê tê, trong khi ba loài tê tê Java (Manis javanica), tê tê vàng (Manis pentadactyla) được xếp vào danh sách nguy cấp.[6]

Mặc dù tê tê được bảo vệ bởi lệnh cấm quốc tế về thương mại (được quy định là động vật hoang dã quý hiếm, có nguy cơ tiệt chủng, bị hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại), số lượng tê tê đã bị buôn bán bất hợp pháp do niềm tin ở châu Á có quy mô phổ biến là thịt tê tê có thể kích thích tiết sữa hay chữa bệnh ung thư hoặc bệnh hen suyễn, chống dị ứng, thậm chí còn đuổi được cả tà ma.[7] Trong thập kỷ qua đã có nhiều vụ buôn bán bất hợp pháp tê tê, vảy và thịt tê tê ở châu Á.[8][9] Trong một sự cố như vậy vào năm 2013, 10.000 kg thịt tê tê đã bị bắt giữ từ một tàu Trung Quốc bị mắc cạn ở Philippines,[10][11] hay là cuối tháng 4 năm 2013, Hải quan Pháp đã chặn 50 kg vẩy tê tê đang trên đường chuyển về Việt Nam.[12] Một thị trường chợ đen vẫn tồn tại và liên tục buôn lậu với số lượng lớn được phát hiện,[13] như vụ phát hiện khoảng 23 tấn trong tháng Hai và tháng 3 năm 2008 tại Việt Nam.[14] Ngày 27-4-2018, gần 3,8 tấn vảy tê tê tới từ Congo được cất giấu tinh vi trong hai container gỗ cập cảng Cát Lái ở Thành phố Hồ Chí Minh bị lực lượng chức năng phát hiện.[15] Tê tê cũng bị săn bắt và ăn thịt ở Ghana và là một trong những loại thịt rừng phổ biến hơn, trong khi những người chữa bệnh địa phương sử dụng chúng như một nguồn thuốc truyền thống.

VirusSửa đổi

Sự lây nhiễm COVID-19Sửa đổi

Trình tự axit nucleic của vùng liên kết thụ thể cụ thể của protein gai đột biến thuộc coronavirus lấy từ tê tê được phát hiện là trùng khớp 99% với SARS-CoV-2, loại vi rút gây ra COVID-19 và là nguyên nhân của đại dịch COVID-19. Các nhà nghiên cứu ở Quảng Châu, Trung Quốc, đưa ra giả thuyết rằng SARS-CoV-2 có nguồn gốc từ loài dơi, và trước khi lây nhiễm sang người, đã tồn tại trong cơ thể tê tê. Việc buôn bán tê tê bất hợp pháp ở Trung Quốc để sử dụng trong y học cổ truyền được cho là vật trung gian truyền bệnh cho người. Tuy nhiên, so sánh toàn bộ bộ gen cho thấy tê tê và virus corona phát hiện ở người chỉ tương đồng 92% RNA của chúng. Các nhà sinh thái học lo lắng rằng những suy đoán ban đầu về việc tê tê là ​​nguồn gốc có thể dẫn đến việc giết mổ hàng loạt, gây nguy hiểm hơn cho động vật, tương tự như những gì đã xảy ra với cầy hương châu Á trong đợt bùng phát dịch SARS.

Pestivirus và ColtivirusSửa đổi

Năm 2020, hai loại virus RNA mới có liên hệ xa với pestivirus và coltivirus đã được phát hiện trong bộ gen của Tê tê Java (Manis javanica) và Tê tê vàng (Manis pentadactyla) đã chết. Để thể hiện địa điểm lấy mẫu và vật chủ, chúng được đặt tên là virus tê tê Dongyang (DYPV) và virus tê tê Lishui (LSPV). DYPV pestivirus cũng được xác định ở bọ ve Amblyomma javanense từ một con tê tê bị bệnh.

Y học cổ truyềnSửa đổi

Vảy và thịt tê tê được sử dụng làm nguyên liệu cho nhiều chế phẩm y học cổ truyền Trung Quốc. Mặc dù không có bằng chứng khoa học nào về tính hiệu quả và không có cơ chế hoạt động hợp lý, sự phổ biến của chúng vẫn thúc đẩy thị trường chợ đen buôn bán các bộ phận cơ thể động vật, bất chấp những lo ngại về độc tính, lây truyền bệnh từ động vật sang người, và sự tuyệt chủng. Nhu cầu liên tục với các bộ phận làm nguyên liệu tiếp tục diễn ra việc săn trộm, săn bắn và buôn bán tê tê.

Trong thế kỷ 21, các công dụng chính của vảy tê tê là ​​thực hành thủ đoạn dựa trên những tuyên bố chưa được chứng minh là vảy làm tan cục máu đông, thúc đẩy tuần hoàn máu hoặc giúp phụ nữ cho con bú tiết sữa. Những tác dụng về sức khỏe của thịt và vảy tê tê được các nhà y học dân gian và các thầy lang khẳng định là dựa trên việc chúng ăn kiến, lưỡi dài và vảy. Tên tiếng Trung chuan shan jia (穿山甲) ("xuyên qua núi") nhấn mạnh ý tưởng về sự xâm nhập hoặc xuyên qua các vật cản lớn như núi, cộng với các vảy khác biệt thể hiện sự xâm nhập và bảo vệ.

Dược điển chính thức của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bao gồm vảy tê tê Trung Quốc như một thành phần trong công thức TCM. Tê tê được đưa ra khỏi dược điển từ nửa đầu năm 2020. Mặc dù vảy tê tê đã được loại bỏ khỏi danh mục nguyên liệu thô, chúng vẫn được liệt kê như một thành phần chính trong các loại thuốc khác nhau.

Ghi chép đầu tiên về vảy tê tê xảy ra ở Ben Cao Jinji Zhu ("Variorum of Shennong's Classic of Materia Medica", năm 500 sau Công nguyên), đề xuất vảy tê tê để bảo vệ khỏi kiến ​​cắn; đốt vảy để chữa bệnh cho những người quấy khóc ban đêm. Trong thời nhà Đường, một công thức để xua đuổi tà ma với vảy, thảo mộc và khoáng chất đã xuất hiện vào năm 682, và vào năm 752 sau Công nguyên, người ta cho rằng vảy tê tê cũng có thể kích thích tiết sữa ở phụ nữ đang cho con bú, một trong những công dụng chính ngày nay, đã được giới thiệu trong Wai Tai Mi Yao ("Arcane Essentials from the Imperial Library"). [83] Trong triều đại nhà Tống, khái niệm xuyên thủng và khai thông tắc nghẽn được nhấn mạnh trong Taiping sheng hui fan ("Công thức từ các hiền nhân biên soạn"), do Wang Huaiyin biên soạn năm 992.

Hình ảnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Schlitter, D. A. (2005). Wilson, D. E.; Reeder, D. M (biên tập). Mammal Species of the World (ấn bản 3). Johns Hopkins University Press. tr. 530–531. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên CITES
  3. ^ Từ điển sinh học phổ thông,Lê Đình Lương, Nhà xuất bản Giáo dục, 2001
  4. ^ “Schuppentiere bei CITES, PDF-Download”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013.
  5. ^ 'Asian unicorn' and scaly anteater make endangered list”. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2011.
  6. ^ Gõ chữ " manidae " vào ô tìm kiếm tại IUCN
  7. ^ Bettina Wassener (ngày 12 tháng 3 năm 2013). “No Species Is Safe From Burgeoning Wildlife Trade”. The New York Times. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  8. ^ Watts, Johnathan (2007). 'Noah's Ark' of 5,000 rare animals found floating off the coast of China”. The Guardian. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2011. Đã bỏ qua tham số không rõ |month= (trợ giúp)
  9. ^ “Asia in Pictures (28May2012)”. The Wall Street Journal. 2012. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2012. Đã bỏ qua tham số không rõ |month= (trợ giúp)
  10. ^ “Chinese vessel on Philippine coral reef caught with illegal pangolin meat”. Associated Press. ngày 15 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2013.
  11. ^ “Boat Filled With 22,000 Pounds Of Pangolin Hits Endangered Coral Reef”. Care2. ngày 16 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013.
  12. ^ Hải quan Pháp chặn giữ được hàng chục ký vẩy tê tê buôn lậu qua Việt Nam, RFI, ngày 1 tháng 5 năm 2013
  13. ^ Armoured but endangered – Artikel des WWF vom 16. tháng 9 năm 2004
  14. ^ 23 tonnes of pangolins seized in a week – traffic.org
  15. ^ Gần 3,8 tấn vảy tê tê nhập lậu từ Congo vào Việt Nam, tuoitre.vn, 27-4-2018

Tham khảoSửa đổi