Mở trình đơn chính

Tương An Quận Vương (chữ Hán: 襄安郡王; 30 tháng 5 năm 18208 tháng 3 năm 1854), biểu tự Duy Thiện (惟善), hiệu Khiêm Trai (謙齋), là một hoàng tử nhà Nguyễn và là một thi nhân nổi tiếng của triều đại này.

Tương An quận vương
襄安郡王
Hoàng tử Việt Nam
Thông tin chung
Tên đầy đủ
Nguyễn Phúc Miên Bửu (阮福綿寶)
Tước hiệuTương quốc công (襄国公)
Tương An công (襄安公)
Tương An quận vương (襄安郡王)
Thụy hiệuTương An Cung Nghị quận vương
(襄安恭毅郡王)
Thân phụNguyễn Thánh Tổ
Minh Mạng
Thân mẫuHồ Thị Tùy
Sinh30 tháng 5 năm 1820
Huế, Việt Nam
Mất8 tháng 3, 1854(1854-03-08) (33 tuổi)
Huế, Đại Nam
Nghề nghiệpThi sĩ

Ông là anh em cùng cha khác mẹ với Tùng Thiện Vương Miên Thẩm và Tuy Lý Vương Miên Trinh, nổi tiếng văn hay chữ tốt nức thời, được liệt vào Mạc Vân thi xã. Người đời gọi cả ba là Nguyễn triều Tam Đường (阮朝三堂).

Tiểu sửSửa đổi

Tương An quận vương vốn tên là Nguyễn Phúc Miên Bửu (阮福綿寶), sinh ngày 30 tháng 5 năm 1820 (tức 19 tháng 4 năm Canh Thìn) năm Minh Mạng thứ nhất (1820) tại Thái Tử Cung sau Thanh Hòa điện trong Hoàng thành Huế. Ông là con trai thứ 12 của Minh Mạng, mẹ là An tần Hồ Thị Tùy (胡氏隨), người Triệu Phong, Quảng Trị.

Năm 1825, Hoàng tử Miên Bửu được đến Dưỡng Chính đường (養正堂) học tập cùng với các anh em khác, trong số đó có Hoàng tử Miên ThẩmHoàng tử Miên Trinh. Năm 1827, Hoàng đế sai dựng thêm Minh Thiện đường (明善堂) cho ông và Miên Thẩm, Miên Trinh ở chung, vì thế ba người rất thân nhau.

Năm 1833, ông được phép lập phủ riêng, đến năm 1836, thì được nạp thiếp. Năm 1839, ông được phong là Tương Quốc công (襄國公). Năm 1842, ông hộ giá Thiệu Trị ra Bắc Hà.

Năm 1843, ông được gia phong Tương An công (襄安公), được cử làm giáo đạo dạy hai hoàng tử và cũng là hai cháu ruột của ông, đó là An Phong công Nguyễn Phúc Hồng Bảo và Phúc Tuy công Nguyễn Phúc Hồng Nhậm. Sau Hồng Nhậm được truyền ngôi, tức Nguyễn Dực Tông Tự Đức. Còn An Phong công Hồng Bảo, người cháu được ông tương đắc và yêu mến hơn, vì âm mưu giành lại ngai vàng nên bị giam rồi chết thảm trong ngục năm 1854, khi mới 29 tuổi.

Khi đó, Tự Đức nghi chú là Tương An công Miên Bửu có nhúng tay vào vụ việc trên, song không có chứng cứ buộc tội. Buồn vì bị theo dõi và vì xót thương cho số phận Hồng Bảo, ông đóng cửa ở lỳ trong phủ riêng, lấy thơrượu làm khuây. Ông qua đời ngày 8 tháng 3 năm 1854 (tức mồng 10 tháng 2 năm Giáp Dần), hưởng thọ 34 tuổi. Thụy là Cung Nghị (恭毅).

Năm 1878, nhân dịp lễ tứ tuần đại khánh, Tự Đức sai quan đến nhà thờ truy tặng ông là Tương An Quận vương (襄安郡王).

Gia quyếnSửa đổi

  • Cha: Minh Mạng.
  • Mẹ: Hồ Thị Tùy (胡氏隨; 1795 - 23 tháng 11 năm 1839), người tổng Bái Ân, thuộc huyện Do Linh, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Bà là con của Cẩm Y hiệu úy Hồ Văn Chiêm. Nạp cung năm 1810, đến năm 1836 thì được phong An tần (安嬪), là bậc thứ năm trong chín bậc phi tần thời Nguyễn[1].
  • Chị gái: Phong Hòa công chúa Nhu Thuận (豐禾公主 柔順; 21 tháng 4 năm 1819 - 18 tháng 10 năm 1844), hoàng nữ thứ 8 của Thánh Tổ. Mất khi chưa lập gia thất, truy tặng Phong Hòa công chúa (豐禾公主), thụy Đoan Diễm (端艷). Lúc đầu thờ ở đền Triển Thân, sau đổi thờ ở đền Thân Huân.
  • Em trai: Nghĩa Quốc công Nguyễn Phúc Miên Tề (阮福綿宰; 21 tháng 10 năm 1822 - 5 tháng 12 năm 1844), tự Trọng Chân (仲真), hiệu Tùng Thự (松墅), là hoàng tử thứ 18 của Thánh Tổ. Năm Minh Mạng thứ 21 phong làm Tư Nghĩa Quận công (思義郡公). Sinh thời, ông là người khiêm tốn, noi theo lễ độ. Khi mất, Thiệu Trị tiếc thương, cho nghỉ chầu 3 ngày, truy phong Nghĩa Quốc công (義國公), thụy Cung Đạt (恭達). Có hai con trai, một con gái. Con trưởng là Hồng Hào, lúc đầu tập phong làm Đôn Nghĩa đình hầu, sau vì có tội bị đoạt tước phong. Cháu nội Ưng Linh, tập phong Tá quốc khanh.
  • Em trai: Hòa Thịnh vương Nguyễn Phúc Miên Tuấn (阮福綿寯; 12 tháng 6 năm 1827 - 22 tháng 6 năm 1907), hoàng tử thứ 37 của Thánh Tổ, cũng là một thi sĩ của nhà Nguyễn. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), sắc phong làm Hòa Thịnh Quận công (和盛郡公). Hàm Nghi gia phong Thịnh Quốc công (盛國公). Dưới thời Đồng Khánh, cùng Tuân Quốc công Miên Trữ can việc phong Vương phi nên bị tước vị. Thành Thái cải phong Hòa Thịnh công (和盛公) rồi tấn phong Quận vương. Sau khi mất được truy thụy Hòa Thịnh Đoan Cung vương (和盛端恭王). Có 35 con trai, 26 con gái. Cháu nội của ông, Ưng Lang, là một nhạc sĩ.
  • Con cái: Ông có 18 con trai và bảy con gái, chỉ ghi chép con thứ 2 là Nguyễn Phúc Hồng Bị (阮福洪被) tập phong tước Quận công vào thời Thành Thái.

Tác phẩmSửa đổi

Nguyễn Phúc Miên Bửu là người văn võ kiêm toàn: kinh sử, thi phú, đàn tỳ bà, cưỡi ngựa, bắn cung đều giỏi. Khi mất, ông có để lại:

  • Khiêm Trai thi tập, do một người em là Nguyễn Phúc Miên Tuấn tập hợp và cho khắc in sau khi tác giả đã mất (khoảng năm 1878-1883). Thi tập gồm 14 quyển, 655 bài thơ chữ Hán, làm theo thể cổ phong hoặc Đường luật, lấy đề tài tả cảnh, tự tình, vịnh truyện, vịnh vật...
  • Khiêm Trai văn tập gồm 2 quyển, 74 bài[2].

Ngoài ra, ông còn sáng tác nhiều thơ Nôm, song vì không khắc in, nên thất lạc nhiều, chỉ còn lại:

  • Hoài Cổ dài 100 câu và Trăm thương dài 36 câu, cả hai khúc ngâm đều được làm theo thể lục bát phối hợp song thất lục bát, để tỏ bày mối tình tri kỷ cùng nỗi xót thương thầm kín của tác giả đối với Hồng Bảo.
  • Thơ Đường luật thất ngôn bát cú: còn truyền lại 13 bài.
  • Hòa Lạc ca (Bài ca về chiếc thuyền Hòa Lạc): liên ngâm cùng với Miên Thẩm, Miên Trinh.
  • Truyện Từ Thức, diễn Nôm theo truyện Từ Thức trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.

Căn cứ nội dung, Nguyễn Khuê tạm chia thơ Miên Bửu thành mấy khuynh hướng, lược ghi:

  • Mảng thơ nói đến nếp sống của giai cấp quý tộc, lòng tôn quân, ca ngợi các vua nhà Nguyễn, như: Cung họa ngự chế sơ chính nguyên vận (Kính họa nguyên vận bài ngự chế sơ chính), Tạ từ y cung ký nhất luật (Kính chép một bài thơ luật tạ ơn vua ban áo)...
  • Mảng thơ chịu ảnh hưởng Nho, PhậtLão, như: Thuật sự, Khiển hoài, Linh Hựu quán niệm hương hành chí đồ trung đắc cú (Bài thơ làm trên đường đi dâng hương chùa Linh Hựu), Nhân sự (Việc người đời), Đăng các (Lên các), Đề Lão tử thừa ngưu xa quá quan đồ (Đề tranh Lão tử cưỡi xe trâu qua cửa ải)...
  • Mảng thơ sầu vì cha mẹ mất, anh em, bạn bè xa cách, như: Hạ nhật cảm hoài ký trọng đệ Chất Uyển (Ngày hè cảm hoài gửi em Chất Uyển), Lưu biệt thứ vận xá đệ Trọng Chân (Lưu biệt, họa theo vần em Trọng Chân), Tống nhân chi Quảng Nam (Đưa người đi Quảng Nam)...
  • Mảng thơ sầu tình, thương vay khóc mướn, sầu trước cảnh thiên nhiên, hoài cổ, như: Không đề, Trách tình nhân lỗi hẹn, Thu khuê, Đãi nguyệt (Chờ trăng), Sầu tư, Đại nhân điếu kỹ (Thay người điếu kỹ nữ), Du Tây Hồ hành (Khúc hát dao chơi Hồ Tây), Văn cầm (Nghe đàn), Bi xuân (Thương xuân), Long Biên hoài cổ thứ vận phụng họa Minh Tĩnh chủ nhân (Long Biên hoài cổ, kính họa theo vần Minh Tĩnh chủ nhân)...
  • Mảng thơ lo sợ bị vạ lây và liên quan đến Hồng Bảo, như: Trăm thương, Hoài cổ ngâm, Hoàng nhị tử (Kiến Phong công)[3] thư trai nguyên tịch hội ẩm (Rằm tháng Giêng hội ẩm tại phòng sách của Hoàng tử thứ hai…), Nguyệt dạ quan (Kiến Phong công) độ xạ (Đêm trăng xem...bắn cung)...

Nhận xétSửa đổi

Về tài văn chương của ông, sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép (dịch):

(Vương) nổi tiếng về thơ, rất sở trường về quốc âm, đặt ra điền từ, thường có nhiều bài hay, sánh ngang với Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương.[4]

Vua Tự Đức, trong bài Gửi Tuy Lý công có câu:

Ngã thúc tối hữu danh,
Thiền liên Tùng, Tuy, Tương...
Dịch:
Chú ta nổi tiếng nhất
Bộ ba Tùng, Tuy, Tương...

Trích thêm ba đánh giá, của:

  • Trần Thanh Mại:
Tương An sở trường về thi quốc âm, chẳng những đứng về bậc nhất trong các hoàng thân thuở bấy giờ, mà đối với tất cả danh nhân trong làng thơ xưa của ta cũng đã chiếm một địa vị rất cao.[5]
  • Hoàng Trọng Thược:
Nói đến thi sĩ đất Thần kinh, trước hết phải kể đến ba anh em Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương và Tương An quận vương…họ chẳng những nổi tiếng ở Việt Nam, mà cả Trung Quốc thời bấy giờ cũng phải khâm phục.[6]
  • Từ điển văn học (bộ mới):
Thơ Miên Bửu có một số bài đề cập đến sinh hoạt nhàn nhã của những người trong hoàng phái, mô tả cuộc sống dưới dạng thanh bình no đủ, đề cao công đức triều Nguyễn…phần này không có giá trị gì mấy...Đáng chú ý là mảng thơ trữ tình, đa sầu, đa cảm. Như ông xót thương người kỹ nữ bạc mệnh (Đại nhân điếu kỹ - Thay người điếu kỹ nữ), buồn trước những dấu tích lịch sử hưng phế (Long Biên hoài cổ thứ vận phụng họa Minh Tĩnh chủ nhân - Long Biên hoài cổ, kính họa theo vần Minh Tĩnh chủ nhân) và ngậm ngùi với mọi đổi thay của cảnh sắc thiên nhiên (Thu khuê - Phòng khuê mùa thu, Sầu tư - Nhớ sầu, Dạ tọa đối nguyệt vịnh sầu - Đêm ngồi ngắm trăng vịnh nỗi sầu, Xuân nhật khúc từ - Những lời trong buồng khuê ngày xuân...).
Ngoài ra, ông cũng làm một số bài thơ tình, tình cảm khá chân thật dù hình ảnh chỉ là ước lệ (Trách tình nhân lỗi hẹn, Không đề). Và từ khi ông bị nghi ngờ, thơ ông càng tăng chất u buồn, chứa đựng tâm sự của người lo "cháy thành vạ lây", vọng về quá khứ, xót thương người tri kỷ, nói lên thói tình bạc bẽo, tráo trở...Thơ ông giàu hình ảnh, âm điệu, cách dùng điển tích, sử dụng ngôn ngữ điêu luyện và mạnh bạo, nhiều khi không theo nếp mòn xưa cũ...[7]

Giới thiệu thơSửa đổi

Thuật sự
Cận nhật thư trai nhất sự vô,
Bằng song ngột ngột tọa như ngu.
Ninh hưu lộng xảo thêm xà túc,
Bất cảm khoa hùng loát hổ tu.
Thủ chuyết tiện thành diên thọ thuật,
Thận ngôn tức thị hộ thân phù.
Thế gian tối thiểu tri cơ giả,
Tiếu ngã hành tàng thậm viễn vu.
Tạm dịch:
Phòng sách việc đời tránh bấy nay,
Nương song vò võ tựa đần ngây.
Trò thêm chân rắn đừng khoe khéo,
Chuyện vuốt râu hùm dám nói hay.
Giữ vụn lại thành thêm tuổi thọ,
Gìn lời ấy chính bớt ương tai.
Thế gian kẻ biết cơ trời ít,
Cười tớ hành tàng chuyện nước mây.
Trăm thương
(trích)
...Thương ôi! bóng ngả ngàn dâu,
Ngựa qua cửa hé, sao sầu ban mai.
Thương ôi! xuân bất tái lai,
Kẻ tài người sắc biết ai đó chừ?
Thương ôi! nay khóc người xưa,
Người xưa có biết bây giờ mà thương!
Dầu có thương, không thương cũng chớ,
Dầu không thương, không nhớ cũng thôi.
...Thương là thương sinh ly, tử biệt,
Khiến người dưng thảm thiết lọ ta!
Thương thay con tạo khéo ngoa,
Thấy người nằm đó, biết ta đời nào?
Thương thay đổi vật dời sao,
Bể sâu cũng cạn, non cao cũng bằng.
Biết làm răng oán chừ cho được?
Thương phản hồn không chước hồi sanh.
Thương thay một tấm Thôi thành,
Cỏ cao trăm thước, rêu doanh mấy màu.
Thương nhau xin nhớ lời nhau:
Đừng năng dây ngọc mà đau lòng vàng [8].

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Xem thêm website Nguyễn Phước tộc
  2. ^ Từ điển Văn học (bộ mới) và Nguyễn Khuê đều ghi 74, sách Vua Minh Mạng với Thái y viện và ngự dược ghi 75 bài.
  3. ^ Vì Hồng Bảo bị tội, nên phải để ‘Hoàng nhị tử" thay vì "Hoàng trưởng tử".
  4. ^ Đại Nam chính biên liệt truyện, Nhị tập, quyển 6, tờ 10a.
  5. ^ Trần Thanh Mại, Tuy Lý Vương, Huế, Ưng Linh xuất bản, 1938, tr. 54-55
  6. ^ Hương Bình thi phẩm, Nhà in Thông tin, Sài Gòn, 1967, tr.11.
  7. ^ Triêu Dương, Từ điển Văn học (bộ mới), tr. 1166.
  8. ^ Nguyên văn chữ Hán xem trong sách Tâm trạng Tương An Quận Vương.

Tham khảo chínhSửa đổi

  • Nguyễn Khuê, Tâm trạng Tương An Quận Vương, Trung tâm sản xuất học liệu (thuộc Bộ Giáo dục và Thanh niên) xuất bản, Sài Gòn, 1974.
  • Nhiều người soạn, Từ điển Văn học (bộ mới), Nhà xuất bản. Thế giới, 2004.
  • Lê Nguyễn Lưu và Phan Tấn Tô, Vua Minh Mạng với Thái y viện và ngự dược, Nhà xuất bản. Thuận Hóa, 2007.
  • Đại Nam Liệt Truyện, tập 3, quyển 5: Truyện của các hoàng tử - Tương An Quận vương Miên Bảo.

Liên kết ngoàiSửa đổi