Thường Ninh (Thân vương)

Thường Ninh (chữ Hán: 常寧; 8 tháng 12, 1657 - 20 tháng 7, 1703), Ái Tân Giác La, là Hoàng tử thứ 5 của Thanh Thế Tổ Thuận Trị Đế.

Thường Ninh
Hoàng tử nhà Thanh
Thông tin chung
Phối ngẫuNạp Lạt thị (纳喇氏)
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Thường Ninh
(爱新觉罗常寧)
Hoàng tộcÁi Tân Giác La
Thân phụThanh Thế Tổ
Thuận Trị Đế
Thân mẫuThứ phi Trần thị
Sinh8 tháng 12, 1657
Mất20 tháng 7, 1703

Tiểu sửSửa đổi

Thường Ninh là con trai duy nhất của Thứ phi Trần thị. Ông được phong tước Cung Thân vương (恭親王) vào năm 1671 bởi người anh trai Khang Hi Đế.

Tháng 8 năm Khang Hi thứ 29 (1690), Thường Ninh là một trong hai chỉ huy cấp cao của Khang Hi Đế trong cuộc viễn chinh đánh Cát Nhĩ Đan tộc Chuẩn Cát Nhĩ, với chức An Bắc Đại tướng quân (安北大将军) cùng với người anh là Phúc Toàn. Ông được trao nhiệm vụ đưa quân vượt Hỉ Phong Khẩu (喜峰口) về phía bắc kinh thành Bắc Kinh để hợp với lực lượng của Phúc Toàn tấn công Cát Nhĩ Đan.

Ngày 3 tháng 9, cánh quân của Thường Ninh chạm trán quân Cát Nhĩ Đan và bị thua. Cát Nhĩ Đan thừa thắng dẫn quân tiến sâu, cách Bắc Kinh 700 dặm. Thất bại này đã khiến Thường Ninh bị mất chỗ đứng trong hội đồng Nghị chính Vương Đại thần. Mặc dù không còn được Khang Hi Đế trọng dụng, ông vẫn tiếp tục tham gia chiến dịch đánh Cát Nhĩ Đan lần thứ 2 năm 1696, trước khi Cát Nhĩ Đan thất bại hoàn toàn năm 1697.

Khi Thường Ninh qua đời vào năm Khang Hi thứ 46 (1707), ông không được triều đình ban thụy, con cháu đáng lý chỉ bị giáng xuống bậc Đa La Quận vương nhưng cũng không có quyền thế tập tước vị.

Gia thấtSửa đổi

Đích Phúc tấnSửa đổi

  • Nạp Lạt thị (纳喇氏), con gái của Lang trung Bái Khố Lễ (拜库礼).

Trắc Phúc tấnSửa đổi

  • Mã thị (马氏), con gái của Mã Nghĩa Thương (马义仓).

Thứ thiếpSửa đổi

  • Thư Thư Giác La thị (舒舒觉罗氏), con gái của Cáp Đang A (哈当阿).
  • Tát Khắc Đạt thị (萨克达氏), con gái của Thư Tát Nạp (书萨纳).
  • Nữu Hỗ Lộc thị (钮祜禄氏), con gái của Kị uý Đồ Nhĩ Hải (阿尔海).
  • Trần thị (陈氏), con gái của Trần Phúc Tư (陈福滋).
  • Tấn thị (晋氏), con gái của Tấn Cách Nghi (晋格宜).
  • Ngô thị (吴氏), con gái của Ngô Ứng Hùng (吴应熊).

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Vĩnh Thụ (永绶; 1671 - 1686), mẹ là Trắc Phúc tấn Mã thị. Được phong Tam đẳng Phụ quốc Tướng quân (1685). Qua đời khi chưa lập gia thất.
  2. Mãn Đô Hỗ (滿都祜; 1674 - 1731), mẹ là Thứ thiếp Thư Thư Giác La thị. Được phong Bối lặc (1712), sau bị giáng xuống Bối tử rồi giáng tiếp Trấn quốc công (1726). Có bảy con trai.
  3. Hải Thiện (海善; 1676 - 1743), mẹ là Thứ thiếp Trần thị. Được phong Phụng ân Tướng quân (1695), tấn thăng Bối lặc (1703), sau bị tước (1712), phục vị Bối lặc (1732). Sau khi qua đời được truy thuỵ là Hy Mẫn Bối lặc (僖敏貝勒). Có hai con trai.
  4. Đối Thanh Ngạch (對清額; 1681 - 1742), mẹ là Thứ thiếp Tát Khắc Đạt thị. Được phong Tam đẳng Phụ quốc Tướng quân (1700), sau bị bị tước (1740). Có chín con trai.
  5. Trác Thái (卓泰; 1683 - 1714), mẹ là Thứ thiếp Tát Khắc Đạt thị. Được phong Tam đẳng Phụ quốc Tướng quân (1702), sau bị tước. Không có con thừa tự.
  6. Văn Thù Bảo (文殊保 ; 1687 - 1708), mẹ là Thứ thiếp Ngô thị. Có một con trai.

Con gáiSửa đổi

  1. Cố Luân Thuần Hy Công chúa (固伦纯禧公主; 1671 - 1740), mẹ là Thứ thiếp Tấn thị, được Khang Hi Đế nhận làm nghĩa nữ. Hạ giá lấy Di Cát Ban Đệ (台吉班第) của tộc Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị.
  2. Nhị nữ (1672 - 1693), mẹ là Thứ thiếp Trần thị. Hạ giá lấy Đỗ Nhĩ Mã (杜尔玛) của tộc Qua Nhĩ Thấm thị.
  3. Tam nữ (1674 - 1680), mẹ là Thứ thiếp Trần thị. Chết yểu.
  4. Tứ nữ (1676 - 1678), mẹ là Thứ thiếp Trần thị. Chết yểu.
  5. Ngũ nữ (1676 - 1678), mẹ là Thứ thiếp Thư Thư Giác La thị. Chết yểu.
  6. Lục nữ (1684 - 1712), mẹ là Thứ thiếp Nữu Hỗ Lộc thị. Hạ giá lấy Đô Nhĩ Mã (都尔玛) của tộc Qua Nhĩ Thấm thị.
  7. Thất nữ (1686 - 1687), mẹ là Thứ thiếp Tát Khắc Đạt thị. Chết non.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi