Thu Hồ

Cố nhạc sĩ Việt Nam

Thu Hồ (14 tháng 10 năm 1919 – 19 tháng 5 năm 2000) là một nhạc sĩ, ca sĩ, nhà viết kịch người Việt Nam. Ông là thân phụ của nữ ca sĩ Mỹ Huyền.

Thu Hồ
Thu Ho.jpg
Thông tin cá nhân
SinhHồ Thu
14 tháng 10, 1919
Thừa Thiên Huế, Liên bang Đông Dương
Mất19 tháng 5, 2000(2000-05-19) (80 tuổi)
Westminster, California, Hoa Kỳ
Nghề nghiệpnhạc sĩ, ca sĩ, nhà viết kịch
Con cáiMỹ Huyền
Sự nghiệp âm nhạc
Bút danhThu Hồ
Dòng nhạcNhạc vàng
Tình khúc 1954–1975
Ca khúc
  • Quê mẹ
  • Khúc ca Đồng Tháp
  • Tím cả rừng chiều

Cuộc đờiSửa đổi

Ông tên thật là Hồ Thu, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1919 tại làng Tân Mỹ, tỉnh Thừa Thiên.[1]

Năm 1936, khi còn học trung học Pellerin, lần đầu tiên ông đi hát tại hội chợ Huế với bài La chanson du gondolier với nghệ danh Thu Hồ. Ông từng học nhạc lý với trưởng ban nhạc hoàng gia Huế Trần Văn Lý.

Năm 1938, làm trưởng ga xe lửa luân phiên rồi làm thư ký bút toán Ngân hàng Đông Dương.

Năm 1943, trong khi làm trưởng ga xe lửa Dầu Giây, ông viết nhạc phẩm đầu tay Quê mẹ.[2]

Năm 1947, ông gia nhập ban Thần Kinh Nhạc đoàn khi ban này vừa mới ra đời với sự cộng tác của ban nhạc Trần văn Lý và các ca sĩ như Minh Diệu, Mạnh Phát, Châu Kỳ, Tôn Thất Sở,... Khi Đài phát thanh Pháp Á mở thêm mục Tân nhạc Việt Nam, Thu Hồ được đài mời cộng tác. Sau khi Đài phát thanh Pháp Á được chuyển giao lại cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa để trở thành Đài phát thanh Sài Gòn, ông vẫn tiếp tục công việc của mình rồi sau đó cộng tác thêm với Đài Quân đội.

Ông gia nhập Quân đội năm 1954 và được trao giữ chức vụ Trưởng ban Tuyên truyền lưu động Đệ I Quân khu, đi khắp đó đây để ủy lạo binh sĩ. Trong dịp này, ông viết bài Khúc ca Đồng Tháp với phần lời ca của Trọng Danh. Năm 1957, ông gia nhập ban văn nghệ Vì Dân của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc gia.

Từ năm 1959 đến 1970, ông là giáo sư âm nhạc các trường Trung học tư thục nổi tiếng ở Sài Gòn như Nguyễn Bá Tòng, Thánh Thomas, Thiên Phước, Nguyễn Trường Tộ... Nhạc sĩ Thu Hồ là một trong những nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên được kết nạp thành viên của Hội nhạc sĩ quốc tế S.A.C.E.M (trụ sở tại Pháp). Ông cũng là một nhà viết kịch kiêm diễn viên kịch có hạng. Ông là diễn viên chính trong nhiều vở kịch do chính ông soạn như "Hai chàng một áo" và "Thầy lang bất đắc dĩ". Về kịch ngắn và kịch dài, ông đã soạn hơn 100 vở mà một số lớn đã được ban Thẩm Thúy Hằng mua bản quyền để trình diễn trên Đài Truyền hình Việt Nam.

Về tôn giáo, ông là một con chiên ngoan đạo, từng là thành viên trong ủy ban sáng lập Nhà thờ Fatima Bình Triệu nơi ông cư ngụ.

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông bị kẹt lại ở Việt Nam cho đến năm 1991 mới được bảo lãnh sang Hoa Kỳ. Ban đầu, ông cư ngụ tại San Diego, 2 năm sau ông dời về Santa Ana, California sống với cô con gái út là ca sĩ Mỹ Huyền.

Năm 1993, ông cùng với Đỗ Đức Hậu được Hội Thi sĩ Quốc tế bầu là Đại sứ thi ca hòa bình trong Hội nghị Thơ Quốc tế họp tại thủ đô Washington. Đây là chức vụ cao quý nhất của Hội dành cho các thi sĩ ngoại quốc về tham dự Hội nghị. Hội này có hơn 100 ngàn nhà thơ đại diện cho Hoa Kỳ và 41 quốc gia trên toàn thế giới.

Ông mất ngày 19 tháng 5 năm 2000 tại thành phố Westminster, California.

Gia đìnhSửa đổi

Thu Hồ lập gia đình năm 25 tuổi và có chín người con mà người con út là ca sĩ Mỹ Huyền. Vợ ông mất năm 1975.

Sáng tácSửa đổi

Ca khúcSửa đổi

  • Anh và em (Thu Hồ & Phạm Đại)
  • Áo người trinh nữ
  • Bên bờ sông Dịch (thơ Tô Như)
  • Bến sang ngang
  • Buồn không em (Đồng sáng tác Lê Dinh)
  • Bức tranh quê
  • Cánh nhạn về (Đồng sáng tác Mạnh Phát)
  • Chiếc áo biên cương (Đồng sáng tác Minh Kỳ)
  • Chiều Hương Giang
  • Chiều quê
  • Con sẽ về
  • Cô gái sông Hương
  • Cô gái trời cho đẹp
  • Cô nữ sinh Đồng Khánh
  • Dân làng đi cấy
  • Duyên em
  • Đôi dòng thương mến (Hoài Linh - Thu Hồ)
  • Đôi mắt người em gái
  • Đời em chỉ có mình chàng
  • Đoàn nam nữ học sinh
  • Đoàn quân ra biên cương
  • Đoàn trai Việt
  • Đồng Khánh[3]
  • Em còn giữ mái tóc thề
  • Em gái bến Thanh Hà (Đồng sáng tác Mạnh Phát)
  • Em và anh (Thu Hồ & Phạm Đại)
  • Em yêu người lính chiến (viết chung với Phượng Linh)
  • Gia Long
  • Gió đồng hương quê
  • Giọt sầu trinh nữ
  • Hoa tàn
  • Kiếp nghèo[4]
  • Kẻ ở người đi
  • Khúc ca Đồng Tháp (Lời Trọng Danh)
  • Khúc ca thôn dã
  • Khúc ca trên đường về
  • Lá thư đầu (thơ Hồ Mộng Thiệp)
  • Mái tóc em gái trường Gia Long
  • Mơ bóng chàng về
  • Mùa gặt mới (1954)
  • Mùa lúa chín
  • Mưa chiều thứ bảy (Viết chung với Lê Dinh)
  • Người ấy là ai (Đồng sáng tác với Minh Kỳ)
  • Người ấy là anh (Đồng sáng tác với Minh Kỳ)
  • Người ấy là em (Đồng sáng tác Mạnh Phát)
  • Người ở kẻ đi
  • Nhớ nhau
  • Nhớ làng tôi (Lời Khanh Tâm)
  • Nhớ tình suối trăng (Lời Hoàng Lang)
  • Những ai chưa về
  • Nếu anh là lính chiến
  • Quê anh trên vạn nẻo đường
  • Quê mẹ (1943)
  • Sầu ly biệt
  • Sóc Trăng mến yêu
  • Tà áo Trưng Vương
  • Thuyền lạc hướng
  • Tiếc thương mẹ Việt Nam
  • Tiếng sáo chiều quê
  • Tiếng hát yêu đời
  • Tiếng vang miền Trung
  • Tình hoài hương (Đồng sáng tác với Trần Văn Lý)
  • Tình Kinh Thượng (đồng sáng tác với Trọng Danh)
  • Tím cả rừng chiều (1964)[5]
  • Trăng huyền diệu
  • Trăng Sài Gòn
  • Trưng Vương[6]
  • Tôi không quên anh (Thu Hồ - Hoài Linh)
  • Vọng cô thôn

Nhạc thiếu nhi[7]Sửa đổi

  • Bầy sói lên đường
  • Công Cha Nghĩa Mẹ
  • Con cò mà đi ăn đêm
  • Em dậy sớm
  • Jesus hài đồng là vua
  • Hồi trống đến trường
  • Múa bướm
  • Nhắn bạn ngày hè
  • Nhảy cò cò
  • Nhảy lửa
  • Ta là sói con

ThơSửa đổi

  • Ánh bình minh (1965, thơ Công giáo)

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Nhạc sĩ Thu Hồ Lưu trữ 2013-07-02 tại Wayback Machine, Lê Dinh, 2000
  2. ^ Khang Phạm Channel. “CA NHẠC NHỮNG TÌNH KHÚC VƯỢT THỜI GIAN 3: CHIỀU TÌM (FULL) - vui lòng xem tại phút 19:59”. Youtube. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2021.
  3. ^ Khác với Cô nữ sinh Đồng Khánh
  4. ^ Khác với bài của nhạc sĩ Lam Phương.
  5. ^ Thơ Hữu Loan
  6. ^ Khác với Tà áo Trưng Vương
  7. ^ Xuất bản trong tập nhạc Em vui em hát em ca vào năm 1965