Ân Thi

Huyện thuộc tỉnh Hưng Yên

Ân Thihuyện nằm ở phía đông của tỉnh Hưng Yên, Việt Nam.

Ân Thi
Huyện Ân Thi
Huyện
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Hồng
TỉnhHưng Yên
Huyện lỵThị trấn Ân Thi
Trụ sở UBNDĐường 3/2, TDP Hoàng Văn Thụ, thị trấn Ân Thi
Phân chia hành chính1 thị trấn, 20 xã
Thành lập1862
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDMai Xuân Giới
Chủ tịch HĐNDNguyễn Đình Lăng
Bí thư Huyện ủyNguyễn Lê Huy
Địa lý
Tọa độ: 20°49′06″B 106°05′19″Đ / 20,818199°B 106,088697°Đ / 20.818199; 106.088697
Diện tích129,98 km²[1]
Bản đồ huyện Ân Thi
Dân số (2020)
Tổng cộng135.075 người[1]
Thành thị9.564 người (7%)
Nông thôn125.511 người (93%)
Mật độ1.039 người/km²
Dân tộcKinh
Khác
Mã hành chính329[2]
Mã bưu chính17400
Biển số xe89-C1
Websitewww.anthi.hungyen.gov.vn

Địa lýSửa đổi

Huyện Ân Thi nằm ở phía đông của tỉnh Hưng Yên, tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, có vị trí địa lý:

Huyện Ân Thi có diện tích là 129,98 km², dân số năm 2020 là 135.075 người[1], mật độ dân số đạt 1.039 người/km².

Hành chínhSửa đổi

Huyện Ân Thi có 21 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Ân Thi (huyện lỵ) và 20 xã: Bắc Sơn, Bãi Sậy, Cẩm Ninh, Đa Lộc, Đặng Lễ, Đào Dương, Hạ Lễ, Hồ Tùng Mậu, Hoàng Hoa Thám, Hồng Quang, Hồng Vân, Nguyễn Trãi, Phù Ủng, Quảng Lãng, Quang Vinh, Tân Phúc, Tiền Phong, Vân Du, Văn Nhuệ, Xuân Trúc.

Lịch sửSửa đổi

Ân Thi thời Hùng Vương thuộc bộ Dương Tuyền. Sau là huyện Thiên Thi thuộc lộ Khoái Châu xứ Sơn Nam rồi Sơn Nam Thượng.

Trước kia, dọc đường 38 địa phận xã Tân Phúc có dấu vết Thánh Gióng đánh giặc Ân trong truyền thuyết là các ao nhỏ (vết chân ngựa) và những bụi tre ngà (vũ khí) liên tiếp trên cánh đồng.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), tỉnh Hưng Yên được thành lập, Thiên Thi trở thành một huyện của tỉnh Hưng Yên.

Năm Tự Đức thứ 15 (1862), đổi tên các huyện để tránh chữ Thiên thuộc diện các chữ tôn kính, chẳng hạn như huyện Thiên Bản đổi thành Vụ Bản (nay thuộc Nam Định), huyện Thiên Lộc đổi thành Can Lộc (nay thuộc Hà Tĩnh), vua ra lệnh đổi huyện Thiên Thi thành huyện Ân Thi.

Ngày 25 tháng 2 năm 1890, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập đạo Bãi Sậy và một số xã của huyện Ân Thi được cắt sang đạo Bãi Sậy.

Năm 1891, bãi bỏ đạo Bãi Sậy, trả lại các xã đã cắt sang về huyện Ân Thi.

Ngày 27 tháng 1 năm 1968, Quốc hội ban hành Nghị quyết[3] về việc tỉnh Hải Dương và tỉnh Hưng Yên hợp nhất thành tỉnh Hải Hưng và huyện Ân Thi thuộc tỉnh Hải Hưng.

Năm 1979, Chính phủ ban hành Quyết định 70-CP[4] về việc hợp nhất huyện Kim Động và huyện Ân Thi thành một huyện lấy tên là huyện Kim Thi.

Ngày 4 tháng 1 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 02-HĐBT[5] về việc sáp nhập các xã Hiến Nam và Lam Sơn của huyện Kim Thi vào thị xã Hưng Yên quản lý.

Ngày 23 tháng 3 năm 1996, Chính phủ ban hành các Nghị định 05-CP[6], 17-CP[7] về việc:

  • Chia huyện Kim Thi thành hai huyện Kim Động và Ân Thi. Huyện Ân Thi có diện tích tự nhiên 12.498,23 hécta và 124.714 nhân khẩu, gồm 21 xã
  • Thành lập thị trấn Ân Thi trên cơ sở xã Thổ Hoàng cũ và một phần xã Đăng Lễ, Hoàng Hoa Thám, Quảng Lăng.

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội ban hành Nghị quyết [8] về việc chia tỉnh Hải Hưng thành 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên và huyện Ân Thi thuộc tỉnh Hưng Yên.

Từ đó, huyện Ân Thi có 1 thị trấn và 20 xã cho đến nay.

Kinh tế - xã hộiSửa đổi

Ân Thi là một huyện đồng bằng thuần nông, chuyên canh lúa nước, dân trí tương đối cao, dân cư chủ yếu là dân tộc Kinh, chủ yếu theo đạo Phật, đạo Mẫu (số ít theo Thiên chúa giáo).

Làng nghềSửa đổi

Là một huyện chậm phát triển của Hưng Yên, phía Đông Nam của tỉnh. Ân Thi tuy có ít làng nghề hơn các huyện phía tây và phía bắc tỉnh nhưng Ân Thi lại có một số làng nghề mang nét đặc trưng:

  • Chạm bạc Huệ Lai
  • Làm nón Mão Cầu
  • Bánh đa Trà Phương
  • Rau, nông sản.

Văn hóaSửa đổi

Trên địa bàn huyện có nhiều di tích văn hóa, lịch sử như:

Giao thôngSửa đổi

Trên địa bàn huyện có 3 quốc lộ đi qua, gồm: quốc lộ 38, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (hoàn thành năm 2015) và quốc lộ 39 mới (dự án).

Đường quốc lộ 38 chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, từ thị trấn Kẻ Sặt huyện Bình Giang, cắt ngang huyện, qua thị trấn Ân Thi, sang nối với đường quốc lộ 39 ở Kim Động.

Danh nhânSửa đổi

Là một địa phương có truyền thống hiếu học, huyện Ân Thi thời phong kiến đã có nhiều vị nổi danh khoa bảng. Sau đây là danh sách các vị đỗ đại khoa của huyện Ân Thi được ghi lại tại Văn miếu Xích Đằng, Hưng Yên:

  1. Nguyễn Trung Ngạn, người Thổ Hoàng, đỗ Hoàng giáp, năm 1304.
  2. Đặng Tuyên, người xã Tiền Phong, đỗ Hoàng giáp năm 1448.
  3. Cáp Phùng, người xã Thổ Hoàng, đỗ tiến sĩ năm 1463.
  4. Vũ Tín Biểu, người xã Tiền Phong, đỗ Tiến sĩ năm 1478.
  5. Nguyễn Lệ, người xã Quảng Lãng, đỗ Hoàng giáp năm 1487.
  6. Nguyễn Thuần Hỗ, người Hồng Vân, đỗ Hoàng giáp năm 1487.
  7. Nguyễn Châu Chu (Nguyễn Thù), người xã Quảng Lãng, đỗ Tiến sĩ năm 1487.
  8. Nguyễn Văn Bính, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1505,
  9. Nguyễn Kiều, người xã Quảng Lãng, đỗ Tiến sĩ năm 1511.
  10. Nguyễn Chấn Chi, người Thổ Hoàng, đỗ Hoàng giáp năm 1518.
  11. Vũ Đàn, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1526.
  12. Đinh Tú, người thôn Nam TrìĐặng Lễ, đỗ Tiến sĩ năm 1544.
  13. Hoàng Tuân, người xã Thổ Hoàng, đỗ Bảng nhãn năm 1553.
  14. Nguyễn Đức Trân, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1562.
  15. Đặng Cơ, người xã Quảng Lãng, đỗ Tiến sĩ năm 1556.
  16. Hoàng Chân Nam, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1571.
  17. Hoàng Công Sân, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1670.
  18. Hoàng Công Bảo, người xã Thổ hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1710.
  19. Vũ Công Thắng, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1867.
  20. Vũ Trác Oánh, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1556.
  21. Hoàng Bình Chính, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1775.
  22. Ngô Văn phòng, người xã Tân Phúc, đỗ Hoàng giáp năm 1484.
  23. Lương Quý, người xã Tân Phúc, đỗ Hoàng giáp năm 1532.
  24. Lương Đức Mậu, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1511.
  25. Ngô Mậu Du, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1565.
  26. Nguyễn Độ, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1518.
  27. Ngô Văn Chính, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1637.
  28. Ngô Mậu Đôn, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1523.
  29. Phạm Quang Chiếu, người Bãi Sậy, đỗ Hoàng giáp năm 1676.
  30. Đỗ Thạnh, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1661.
  31. Lương Giản, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1526.
  32. Vũ Vinh Tiến, người xã Phù Ủng, đỗ Tiến sĩ năm 1640.
  33. Đào Duy Điển, người xã Bãi Sậy, đỗ Tiến sĩ năm 1757.
  34. Nguyễn Thạnh, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ đời Lê.
  35. Phan Trứ, người xã Phù ủng, đỗ Hoàng giáp năm 1832.
  36. Nguyễn Kinh Học, người xã Bắc Sơn, đỗ tiến sĩ năm 1637

Thời nhà Trần có hai người nổi tiếng là Nguyễn Trung Ngạn và Phạm Ngũ Lão. Nguyễn Trung Ngạn là nhà chính trị, ngoại giao có tài, trải nhiều chức vụ từ chức Thông giám đến Tể tướng. Năm 1304, đỗ Hoàng giáp, cùng khoa với Mạc Đĩnh Chi, sống cùng thời với Trương Hán Siêu, Chu Văn An... Ông là ngoại giao xuất sắc, có vai trò quan trọng trong hai lần đi sứ nhà Nguyên, bảo đảm chủ quyền và độc lập dân tộc. Thuở nhỏ ông đã nổi tiếng là thần đồng và có năng khiếu văn chương.Ông còn là nhà văn, nhà thơ có tài. "Lịch triều hiến chương loại chí" Viết: "Lời thơ hào mại, phóng khoáng, có khí phách và cốt cách Đỗ Lăng (tức Đỗ Phủ). Những câu thơ hay nhiều không kể xiết. Thơ tứ tuyệt lại càng hay, không kém gì thơ thời thịnh Đường". Tác phẩm của ông có: Giới Hiên thi tập, Hình luật thư... Hiện còn 84 bài thơ trong Giới hiên thi tập.

Phạm Ngũ Lão vốn là gia tướng của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn coi ông như người bạn, phải bày mưu làm lễ đổi họ chuyển con gái ruột là quận chúa Anh Nguyên thành con nuôi rồi gả cho Phạm Ngũ Lão. Vị tướng tài đức này đã bốn lần mang quân đi tiễu phạt quân Ai Lao quấy nhiễu, hai lần đánh thắng quân Chiêm Thành. Ông là người văn võ toàn tài, trung thành, liêm khiết, được phong là Điện súy Thượng tướng quân và được thờ cùng với Trần Quốc Tuấn (Đức Thánh Trần).Ông đạt được đến cấp thượng tướng quân và sau khi mất được vua Trần nghỉ triều để tưởng nhớ. Nhắc đến danh tướng Phạm Ngũ Lão,một danh thần đã gói trong bốn chữ:văn võ toàn tài.

Hậu duệ của ông Tiến sĩ Đinh Tú kể trên là Quận công Đinh Văn Tả mà Sách Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính xếp Đinh Văn Tả là bậc mãnh tướng như Phạm Ngũ Lão. Ông làm quan nhà Lê Thần TôngLê Huyền Tông. có công giúp chúa Trịnh Tạc, Trịnh Căn dẹp loạn nội bộ nhà Trịnh, dẹp loạn Đông Hải, dẹp tan nhà Mạc nên được chúa Trịnh ưu đãi. Được phong Đô Tổng binh, Quận công, Đô đốc, rồi Thượng tể và ban cho 300 mẫu ruộng bổng lộc. Câu ngạn ngữ: "Đánh giặc họ Đinh làm quan họ Đặng" để chỉ công lao, tài giỏi của ông. Trong lịch sử Việt Nam, ông là người duy nhất được phong làm Phúc thần Thành hoàng Thượng đẳng Đại vương khi đang còn sống (gọi là sinh phong). Khi mất được vua Lê, chúa Trịnh đến viếng, cho Bộ Lễ hộ tang về quê, được an táng như bậc vương giả và được ban thụy hiệu là Vũ Dũng. Chúa Trịnh Căn tặng ông đôi câu đối: Tiết việt quyền long triều túc tướng - Phiên toàn trách trọng quốc nguyên huân. Con cháu đều làm tướng giỏi, được phong 18 đời làm Quận công.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a b c “Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên năm 2020 (Dân số tr.55)”. Cục thống kê tỉnh Hưng Yên. 17 tháng 7 năm 2021.
  2. ^ Tổng cục Thống kê
  3. ^ Nghị quyết của Quốc hội khóa III ngày 27-1-1968
  4. ^ Quyết định số 70-CP năm 1979 của Hội đồng Chính phủ
  5. ^ “Quyết định 02-HĐBT năm 1982 về việc mở rộng thị xã Hưng Yên thuộc tỉnh Hải Hưng do Hội đồng Bộ trưởng ban hành”. Thư viện pháp luật. 4 tháng 1 năm 1982.
  6. ^ “Nghị định 05-CP về việc chia các huyện Tứ Lộc, Ninh Thanh, Kim Thi thuộc tỉnh Hải Hưng”. Thư viện pháp luật. 23 tháng 3 năm 1996.
  7. ^ “Nghị định 17-CP về việc thành lập thị trấn huyện lỵ của các huyện Ân Thi, Thanh Miện thuộc tỉnh Hải Hưng”. Thư viện pháp luật. 23 tháng 3 năm 1996.
  8. ^ “Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh”. Thư viện pháp luật. 6 tháng 11 năm 1996.

Tham khảoSửa đổi