Nhóm nhạc nam

Nhóm nhạc ca hát bao gồm các nam ca sĩ trẻ
(đổi hướng từ Ban nhạc nam)

Nhóm nhạc nam hay boy band được định nghĩa là một nhóm nhạc bao gồm các nam ca sĩ trẻ, thường ở độ tuổi thanh thiếu niên hoặc độ tuổi 20 lúc nhóm nhạc được thành lập.[1] Họ hát những bản tình ca hướng tới phụ nữ trẻ. Vì là một nhóm nhạc ca hát nên hầu hết các thành viên nhóm nhạc nam không chơi nhạc cụ trong buổi thu âm hay trên sân khấu, tạo nên thuật ngữ một vài thứ dùng từ sai. Tuy nhiên là thực sự vẫn tồn tại những ngoại lệ. Nhiều nhóm nhạc nam còn nhảy và ca hát, cũng như thường đem tới những màn trình diễn vũ đạo đẹp mắt.

Một số nhóm nhạc kiểu này tự họ thành lập. Họ có thể khai triển từ đội hợp xướng nhà thờ (ban hát nhà nguyện) hoặc các ca đoàn nhạc Phúc âm, nhưng thường là do các nhà quản lý nghệ sĩ hay nhà sản xuất âm nhạc tạo ra thông qua việc tổ chức các buổi thử giọng.

Lịch sửSửa đổi

Thập niên 1990: Boyz II Men, Take That, Backstreet Boys, NSYNC và WestlifeSửa đổi

Thập niên 2000: Backstreet Boys, NSYNC, Westlife, Jonas Brothers, F4 và Phi Luân HảiSửa đổi

 
Jonas Brothers được coi là một nhóm nhạc nam

Tiếp nối thành công của Backstreet BoysNSYNC, các nhóm nhạc Âu-Mỹ như 98 Degrees, Westlife, O-Town, A1, BlueBusted đã nhanh chóng đạt được sự nổi tiếng cả ở trong nước và quốc tế.

Kể từ năm 2001, sự thống trị của các nhóm nhạc nam truyền thống trên các bảng xếp hạng đại chúng bắt đầu biến mất ở phía Tây Bán cầu, mặc dù biên tập Gil Kaufman của kênh MTV có kể ra những "nhóm nhạc nam thế hệ mới" có xu hướng giống với các ban nhạc My Chemical Romance, Sum 41Simple Plan hơn.[2]

Cũng trong năm 2001, nhóm nhạc nam F4 (đổi tên thành JVKV từ năm 2007)[3] của Đài Loan đã bùng nổ mạnh mẽ từ sau thành công của bộ phim truyền hình Vườn sao băng. Tiếng tăm của họ phủ sóng khắp châu Á. Cùng với thành công này, nhiều nhóm nhạc nam khác của Đài Loan đã nổi lên ở thời điểm đó, ví dụ như 183 Club, 5566 và đặc biệt là Phi Luân Hải. Tại Hàn Quốc, nhóm nhạc Shinhwa cũng góp phần lan tỏa làn sóng Hallyu ra khắp châu Á bao gồm: Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Hồng KôngTrung Quốc. Cũng trong năm 2001, một nhóm nhạc pop và dance mới gồm toàn thành viên nam đến từ Nhật Bản có tên gọi Exile đã ra mắt dưới trướng công ty thu âm Rhythm Zone trực thuộc Tập đoàn Avex với 14 thành viên, ngang ngửa với Super Junior - một nhóm nhạc nam Hàn Quốc - với số lượng 13 thành viên vào thời kỳ đỉnh cao.

Nhóm nhạc nam Arashi của Nhật Bản đã bán được hơn 30 triệu bản từ các đĩa hát của mình kể từ lần phát hành đầu tiên năm 1999.[4] Nhóm sở hữu cho mình đĩa đơn bán chạy nhất tại Nhật Bản trong các năm 2008[5] và 2009.[6] Năm 2003, nhóm SMAP phát hành đĩa đơn "Sekai ni Hitotsu Dake no Hana", sau đó trở thành đĩa đơn luôn bán chạy ở hàng thứ ba tại Nhật Bản, với hơn 3 triệu bản được bán ra.[7]

Tại khu vực Bắc Mỹ, nhóm nhạc Jonas Brothers trở nên nổi tiếng từ việc quảng bá trên sóng kênh truyền hình Disney Channel vào năm 2008. Những nhóm nhạc nam khác như JLSMindless Behavior cũng bắt đầu nổi lên và có được thành công đáng kể trong khoảng thời gian này. Tuy nhiên, ngoài mấy nhóm này ra thì thể loại nhóm nhạc nam đã không có được sự bùng nổ về mặt thương mại giống như thời kỳ từ giữa đến cuối những năm 90 ở Bắc Mỹ.

Giai đoạn giữa thập niên 2000, đặc biệt là tại Anh Quốc và phần còn lại của châu Âu, đã chứng kiến sự hoạt động bền bỉ liên tục của các nhóm nhạc nam thập kỷ 90 ví dụ như Backstreet BoysWestlife (trước khi tan rã vào năm 2012), cũng như sự trở lại thành công của Take That năm 2005, Boyzone năm 2007 và New Kids on the Block năm 2008. Một vài mục báo có đề cập đến các nhóm nhạc này, nhất là những nhóm có sự điều chỉnh đội hình sau một khoảng thời gian tách nhóm, bao gồm: Take That, Boyzone và 98 Degrees khi đã trở thành những "nhóm nhạc đàn ông" (man band).[8]

Thập niên 2010: One Direction và sự nổi lên của K-popSửa đổi

Các nhóm nhạc nam được ưa thích nhất thế giớiSửa đổi

Dưới đây là danh sách các nhóm nhạc nam được ưa thích nhất thế giới, dựa trên số liệu số liệu doanh thu đã xác nhận của hơn 40 triệu bản thu âm:

Xếp thứ Tên nhóm Quốc tịch Số thành viên Năm hoạt động Thể loại nhạc Số album phòng thu Doanh số đã xác nhận
1 Backstreet Boys   Hoa Kỳ 5 → 4 → 5 1993–nay (24 năm) Pop 9 130 triệu[9]
2 The Jackson 5 5 → 6 → 4 1964–1990, 2001, 2012–2013 (29 năm) Pop/R&B 18 130 triệu[10]
3 New Kids on the Block 5 → 4 → 5 1984–1994, 2008–nay (19 năm) Pop 6 80 triệu[11]
4 The Osmonds 5 1958–1980 (22 năm) 22 77 triệu[12]
5 Bay City Rollers   Anh 5 1966–1981 (15 năm) 16 70 triệu[13]
6 *NSYNC   Hoa Kỳ 5 1995–2002 (7 năm) 4 70 triệu[14]
7 Menudo   Puerto Rico 5 1977–1997, 2007–2009 (22 năm) Nhạc pop tiếng Latinh (Latin pop) 44 60 triệu[15]
8 Boyz II Men   Hoa Kỳ 5 → 4 → 3 1988–nay (29 năm) R&B 11 60 triệu[16]
9 One Direction   Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland 5 → 4 2010–2016 (6 năm; đang tạm ngừng hoạt động) Pop 5 50 triệu[17]
10 Take That   Anh 5 → 4 → 5 → 3 1990–1996, 2005–nay (18 năm) 8 45 triệu[18][19]
11 Westlife   Ireland 5 → 4 1998–2012 (14 năm) 10 40 triệu[20]

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Walt Hickey (ngày 4 tháng 6 năm 2014). “Boy Bands: More Like Man Bands”. Trang web FiveThirtyEight. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ Kaufman, Gil (2007). “The New Boy Bands”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  3. ^ Wang, Vivien (ngày 29 tháng 4 năm 2007). “Boy band changes name F4 into JVKV”. China Daily. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2007. 
  4. ^ “【オリコン】嵐、相葉主演月9主題歌1位 CD総売上3000万枚突破”. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon. Ngày 19 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2017. 
  5. ^ “年間ランキング特集『2008年 オリコン年間ランキング大発表!』”. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2017. 
  6. ^ “年間ランキング特集『オリコン2009年年間ランキング大発表!』”. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2017. 
  7. ^ SMAP「世界に一つだけの花」300万枚突破 ファンの「購買運動」目標達成 (bằng tiếng Japanese). Oricon News. Ngày 9 tháng 12 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  8. ^ D'Zurilla, Christie (ngày 17 tháng 8 năm 2012). “98 Degrees reunites as 'man band' on 'Today' show”. The Los Angeles Times. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. 
  9. ^ Feeney, Katherine (ngày 6 tháng 1 năm 2010). “Backstreet Boys are back”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  10. ^ Backstreet Boys Celebrate 25 Years of Being a Boy Band With Adorable Flashback Photo, truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2018.
  11. ^ “Interview: New Kids on the Block's Jordan Knight pictures life as a teenage boy band in 2012”. Báo Luận đàn Chicago. Ngày 26 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  12. ^ “An Osmond Family Tribute”. Oprah.com. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  13. ^ Justine Picardie (ngày 26 tháng 3 năm 1995). 'In the Rollers, I'd just say: I want that house. Then I'd move in'. Nhật báo The Independent. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  14. ^ Melinda Newman (ngày 14 tháng 11 năm 2017). “*NSYNC And Epic Rights Join Together For Merchandise Line to Celebrate Band's 20th Anniversary: Exclusive”. Tạp chí Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  15. ^ Tammy Tibbetts (ngày 17 tháng 12 năm 2007). “History of Menudo (Lịch sử nhóm nhạc Menudo)”. Tạp chí Seventeen. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017. 
  16. ^ Libby Hill (ngày 6 tháng 1 năm 2016). “Boyz II Men to play teen angels in Fox's 'Grease: Live'. Thời báo Los Angeles. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017. 
  17. ^ “One Direction Band's Louis Tomlinson Arrested In Airport Tussle”. Hãng thông tấn AFP. Ngày 9 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2017. 
  18. ^ “The X Factor's 5 biggest selling acts ever - Little Mix and One Direction battle for chart supremacy”. Trang web Digital Spy. Ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017. 
  19. ^ “One Direction: The rise of the inescapable pop boy band”. ABC Australia. Ngày 26 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017. 
  20. ^ Gordon Barr (ngày 29 tháng 2 năm 2008). “Westlife breaking records”. Nhật báo Evening Chronicle. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)

Liên kết ngoàiSửa đổi