Cổng thông tin:Liban

Giới thiệu về nước Cộng hoà Liban


Cộng hoà Liban
Flag of Lebanon.svg Coat of Arms of Lebanon.svg
Quốc kỳ Quốc huy
Bản đồ
Vị trí của Liban
Vị trí của Liban trên thế giới
Vị trí của Liban
Vị trí Liban trong khu vực
Quốc ca
Hành chính
Chính phủCộng hòa nghị viện đơn nhất thế tục[1]
Tổng thốngMichel Aoun[2]
Thủ tướngNajib Mikati
Chủ tịch Nghị việnNabih Berri
Lập phápNghị viện Liban
Thủ đôBeirut
33°54′N 35°32′E
33°54′B 35°32′Đ / 33,9°B 35,533°Đ / 33.900; 35.533
Thành phố lớn nhấtBeirut
Địa lý
Diện tích10.452 km² (hạng 166)
Diện tích nước1,8 %
Múi giờEET (UTC+2); mùa hè: EEST (UTC+3)
Lịch sử
1 tháng 9 năm 1920Đại Liban
23 tháng 5 năm 1926Hiến pháp
22 tháng 11 năm 1943Tuyên bố độc lập
24 tháng 10 năm 1945Độc lập (Gia nhập LHQ/ kết thúc ủy trị của Pháp)
31 tháng 12 năm 1946Pháp rút quân
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Ả Rập[3]
Tôn giáoHồi giáo (54%), Thiên Chúa giáo (40,5%), Druze (5,5%)
Dân số ước lượng (2017)5.416.225 người (hạng 112)
Mật độ560 người/km² (hạng 21)
Kinh tế
GDP (PPP) (2018)Tổng số: 91 tỷ đô la Mỹ[4] (hạng 88)
Bình quân đầu người: 20.028 đô la Mỹ[4][5] (hạng 66)
GDP (danh nghĩa) (2018)Tổng số: 57 tỷ đô la Mỹ[4] (hạng 86)
Bình quân đầu người: 12.454 Đô la Mỹ[4][5] (hạng 71)
HDI (2017)Giảm 0,757[6] cao (hạng 80)
Đơn vị tiền tệBảng Liban (LL) (LBP)
Thông tin khác
Tên miền Internet.lb
Mã điện thoại+961[7]
Lái xe bênphải[8]

Liban (Tiếng Việt: Li-băng; tiếng Ả Rập: لبنانLibnān; phiên âm tiếng Ả Rập Liban: [lɪbˈnæːn]; tiếng Pháp: Liban), tên đầy đủ Cộng hoà Liban (tiếng Ả Rập: الجمهورية اللبنانيةal-Jumhūrīyah al-Lubnānīyah; phiên âm tiếng Ả Rập Liban: [elˈʒʊmhuːɾɪjje l.ˈlɪbnæːnɪjje]; tiếng Pháp: République libanaise; tiếng Anh: Lebanon; phiên âm tiếng Anh: /lɛbənɒn, -nən/), là một quốc gia Trung Đông. Liban có nhiều núi, nằm cạnh bờ biển đông của Địa Trung Hải. Nó giáp với Syria về phía bắc và Đông, và Israel về phía nam, có bờ biển hẹp dọc theo ranh giới Tây.

Cái tên Liban (cũng được viết là "Loubnan" hay "Lebnan") có nguồn gốc từ nhóm ngôn ngữ Semit, nghĩa là "trắng", để chỉ đỉnh núi tuyết phủ ở Núi Liban.

Trước cuộc nội chiến (1975–1990), Liban là một quốc gia thịnh vượng. Sau nội chiến, cho tới tháng 6 năm 2006, tình trạng căng thẳng về chính trị - xã hội ở quốc gia này dần được cải thiện và đi vào ổn định hóa, xung đột giữa Israel và Hezbollah đã tác động và ảnh hưởng đến binh lính và thường dân nơi đây, cơ sở hạ tầng bị hư hại, người dân mất nhà cửa. Dù phải chịu ảnh hưởng từ các cuộc xung đột quân sự, quốc gia này hiện đã phần nào thành công trong việc khôi phục lại nền kinh tế, Liban ngày nay vẫn đang duy trì được một chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao, GDP danh nghĩa đạt mức 57 tỷ đô la mỹ với hơn 5 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người đạt mức 12.454 USD/người trong năm 2019 - vào loại khá trên thế giới.

Bài viết nổi bật

Danh sách nổi bật

Hassan Maatouk playing against Saudi Arabia
Hassan Maatouk trong trận gặp đội Ả Rập Xê Út năm 2019

Hassan Maatouk là một tiền đạo bóng đá thi đấu cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Liban và hiện là cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia này nhiều lần nhất.[9] Kể từ khi ra mắt ở Liban vào năm 2006, tính đến tháng 6 năm 2021, Maatouk đã ghi được 21 bàn thắng sau 93 lần ra sân thi đấu quốc tế,[10][11] đưa anh trở thành cầu thủ ghi bàn hàng đầu mọi thời đại của đất nước mìnhh.[12] Anh đã vượt qua kỷ lục của Roda Antar bằng việc ghi quả phạt đền trước đội Sri Lanka trong vòng loại FIFA World Cup 2022 khu vực châu Á vào ngày 15 tháng 10 năm 2019.[13] Anh ra mắt thi đấu cho Liban trong trận thắng 2–1 trước đội Ả Rập Xê Út vào ngày 27 Tháng 1 năm 2006.[11] Bàn thắng quốc tế đầu tiên của anh được ghi sau năm năm kể từ lần ghi bàn thứ 20 của anh cho đất nước Liban trong trận đá với đội tuyển Bangladesh.[11][14]

Maatouk đã ghi được hai hat-trick cho đội tuyển quốc gia của anh, ghi hai lần trong trận với Kuwait với kết quả hòa 2-2, thuộc vòng loại FIFA World Cup 2014,[11][15] và hai bàn thắng trong trận đá với đội Thái Lan với chiến thắng 5-2 thuộc Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2015.[11][16] Anh đã ghi nhiều bàn thắng vào lưới đội tuyển Bắc Triều Tiên và Thái Lan hơn bất kỳ đội nào khác, với tất cả ba bàn thắng vào lưới họ.[11] Maatouk đã ghi được hơn một nửa số bàn thắng của anh tại sân nhà, với mười bàn tại Sân vận động Thể thao Thành phố Camille Chamoun, hai bàn thắng tại Sân vận động Quốc tế Saida và một bàn thắng tại Sân vận động Olympic Quốc tế Tripoli.[11]

Hình ảnh nổi bật

Cây tuyết tùng Liban dưới trời tuyết đông Bsharri. Cây tuyết tùng tượng trưng cho sự thiêng liêng (xuất hiện nhiều trong Kinh Thánh), sự bất hủ và trường tồn.

Bạn có biết

  • …nữ phóng viên truyền hình người Liban May Chidiac đã bị khủng bố đánh bom xe làm mất tay chân?
  • …vì không có cuộc điều tra dân số toàn diện nào được thực hiện tại Liban từ năm 1932, số dân của thành phố Beirut chỉ là một con số ước lượng?
  • …lúc sinh thời, nhà hoạt động phụ nữ Anissa Rawda Najjar đã được chính phủ Liban vinh danh bằng một con tem thư nhân dịp sinh nhật thứ 100 của bà?
  • …với chiều dài 170 km, sông Litani là con sông dài nhất ở Liban?
  • Hiệp ước Quốc gia từng quy định bất thành văn tỷ lệ số ghế trong nghị viện Liban là 6:5 nghiêng về các nghị sĩ Thiên Chúa giáo?
  • ... dù không quy định trong hiến pháp, Tổng thống Liban được yêu cầu là một tín đồ của Công giáo Maronite?
  • ...Riad Al Solh, người hai lần làm thủ tướng Liban, kết hôn với em gái của người hai lần làm thủ tướng Syria?
  • …lễ tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống Liban Elias Sarkis diễn ra tại một khách sạn thay vì nghị viện?
  • …sau khi đảm nhận chức vụ Tổng thống Liban, Michel Suleiman yêu cầu dỡ bỏ các tấm áp phích mang hình ông tại các khu vực công cộng?

Lịch sử, Con người và Điểm đến

Lối vào vườn trên đường Rue Spears

Vườn René Moawad nằm tại quận Sanayeh của thủ đô Beirut, Liban. Khu vườn là không gian công cộng lâu đời nhất ở thủ đô.[17] Khalil Pasha (1864-1923), một chỉ huy quân đội Ottoman trong chiến tranh thế giới thứ nhất[18] là người ra lệnh xây dựng khu vườn năm 1907.[19]

Tên gọi

Khu vườn có nhiều tên kể từ khi được xây dựng vào đầu thế kỷ 20. Đầu tiên, nó có tên là "Vườn Công cộng Hamidi" nhưng mọi người thường gọi nó là "Vườn Sanayeh".[20] Nó mang tên "René Moawad" để tưởng nhớ cố tổng thống René Moawad, người bị ám sát ngày 22 tháng 11 năm 1989 không xa khu vườn.[21]

Địa điểm

Phía Bắc của khu vườn bao quanh bởi đường Rue Spears, phía Nam bởi đường Rue Alameddine, phía Đông bởi đường Rue Halawani và phía Tây bởi đường Rue Sanayeh. Đối diện với khu vườn ở đường Rue Spears là một khu phức hợp của thư viện Quốc gia. Với diện tích 22.000 mét vuông, khu vườn là điểm đến phổ biến cho người đi bộ, và trẻ em. Khu vườn cũng phổ biến đối với người cao tuổi khi họ đến đây ngồi trong các bóng râm để chơi bài, backgammon hay cờ vua. Khu vườn còn là nơi để các họa sĩ trưng bày các tác phẩm của họ.[17]

Chiến tranh Liban 2006

Trong chiến tranh Liban 2006, khu vườn và xung quanh nó là nơi các tổ chức phi chính phủ tạo chỗ ở, giúp đỡ những người tị nạn. Trụ sở "Sanayeh Relief Center" nằm trong một căn nhà đối diện vườn.[22]

Trong văn học và nghệ thuật

  • Day of Honey: A Memoir of Food, Love, and War bởi Annia Ciezadlo
"Tôi đã đi đến một công viên nhỏ gọi là vườn Sanayeh với Jackson và bạn của chúng tôi là Abdulrahman, người đang đi quanh khu vực Ras Beirut mua thực phẩm và thuốc men cho người tị nạn bằng chính tiền của mình."
"Những người duy nhất xử lý khủng hoảng ở vườn Sanayeh là một số ít sinh viên ở độ tuổi teen và hai mươi, một người trong số họ đeo dây nịt và đeo khẩu trang."
  • Jnaynet Al-Sanaye' (Vườn Sanayeh) một vở kịch bởi Roger Assaf (1997)[23]


Hãy tham gia vào dự án này!

Thư mời tham gia dự án Liban
WPLEB.png

Dự án Liban tại Wikipedia tiếng Việt là một dự án được thành lập nhằm tạo và nâng cao chất lượng các bài viết liên quan đến Liban. Dự án rất mong đợi sự quan tâm và tham gia của bạn. Mời bạn tham gia Dự án Liban nhằm nâng cao chất lượng những bài thuộc dự án. Những đóng góp của bạn đều đáng trân trọng! Nếu bạn muốn tham gia, xin ghi danh trong danh sách thành viên. Xin cảm ơn!

Và đừng quên giới thiệu dự án này đến các thành viên khác bằng cách gửi thư mời {{thế:Thư mời tham gia dự án Liban}} vào trang thảo luận của họ!

Qxz-ad196 (1).gif

Liên kết đến các Wikipedia khác

Các dự án chị em của Wikimedia Foundation cũng cung cấp thông tin hữu ích:

Wikibooks
Tủ sách

Commons
Kho hình ảnh

Wikinews 
Tin tức

Wikiquote 
Danh ngôn

Wikisource 
Văn thư

Wikiversity
Học liệu

Wikivoyage 
Cẩm nang du lịch

Wiktionary 
Từ điển

Wikidata 
Cơ sở dữ liệu

Nguồn được dẫn

  1. ^ “Hiến pháp Liban” (PDF). Presidency of Lebanon. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011.
  2. ^ “Results of 2nd round of Lebanon presidential election: Michel Aoun – 83 (winner); blank votes – 36; others/cancelled – 8”. The Daily Star. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  3. ^ Các tài liệu chính thức cũng được viết bằng tiếng Pháp. Các ngôn ngữ được nói ở Liban bao gồm phương ngôn Liban của tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Anhtiếng Armenia.
  4. ^ a b c d “Lebanon”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012.
  5. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Liban un
  6. ^ “2016 Human Development Report” (PDF). United Nations Development Programme. 2016. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2017.
  7. ^ Mục “Lebanon” trên trang của CIA World Factbook.
  8. ^ “Driving in Lebanon”. adcidl.com. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  9. ^ Mamrud, Roberto. “Lebanon – Record International Players”. RSSSF. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2019.
  10. ^ “Hassan Maatouk”. FA Lebanon. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2021.
  11. ^ a b c d e f g Strack-Zimmermann, Benjamin. “List of international goals scored by Hassan Maatouk”. National Football Teams (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2019.
  12. ^ “MD4 – Group H: Sri Lanka 0–3 Lebanon”. The AFC (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019.
  13. ^ “لبنان يحقق فوزه الثاني المتتالي بعد تخطي سريلانكا بثلاثية نظيفة”. Elsport News (bằng tiếng Ả Rập). ngày 15 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2019.
  14. ^ Laurie, Kenny (ngày 25 tháng 7 năm 2011). “Maatouk leads Lebanon to 4–0 World Cup qualifying win against Bangladesh”. The Daily Star (Lebanon). Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019.
  15. ^ “2014 FIFA World Cup Brazil™ – Matches – Lebanon-Kuwait”. FIFA.com (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019.
  16. ^ “Lebanon out AFC Asian Cup despite beating Thailand 5–2”. boxscorenews.com. ngày 5 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019.
  17. ^ a b Ashkal Alwan
  18. ^ “First World War.com”. Truy cập 3 tháng 6 năm 2017.
  19. ^ Auzias and Labourdette. Le Petit Futé Beyrouth, page 158
  20. ^ Debbas, Fouad. Beirut, Our Memory: A Guided Tour Illustrated with Postcards, 140 page
  21. ^ Blanford, Nicholas. Killing Mr Lebanon: the Assassination of Rafik Hariri, page 37
  22. ^ “Sanayeh Relief Centre: solidarity with Lebanese society”. Tadamon. ngày 19 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013.
  23. ^ Selaiha, Nehad (ngày 8 tháng 12 năm 2004). “Southern rhythms”. Al Ahram Weekly. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013.