Mở trình đơn chính

Giáo sư Việt Nam hoặc đơn giản là Giáo sư là tên gọi một học hàm, hoặc chức danh hoặc chức vụ khoa học dành cho các cán bộ giảng dạy cao cấp ở các bộ môn thuộc trường đại học hoặc viện nghiên cứu, được nhà nước Việt Nam phong tặng vì đáp ứng đủ các tiêu chí do luật định trong các hoạt động (lĩnh vực) đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Từ năm 1976, ở Việt Nam đã chủ trương đào tạo trên đại học trong cả nước. Một số trường, cơ sở đào tạo lớn bắt đầu đào tạo phó Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ) là mốc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của nền giáo dục đại học ở Việt Nam. Để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực bậc cao. Nhà nước Việt Nam chủ trương phong hàm giáo sư, phó giáo sư cho đội ngũ nhà giáo và các nhà khoa học. Điều này có ý nghĩa lớn đối với sự nghiệp đào tạo sau đại học.

Tuy nhiên có nhiều ý kiến của các giáo sư cho là chức danh giáo sư cần được cải cách theo tiêu chuẩn quốc tế.[1]

Mục lục

Lần phong đầu tiênSửa đổi

Những lần phong sauSửa đổi

Sau đợt phong hàm giáo sư đầu tiên, Chính phủ đã tổ chức xét và công nhận học hàm giáo sư, phó giáo sư nhiều đợt vào các năm: 1980, 1984, 1988, 19911996. Tong các đợt này, gần 4000 nhà giáo và nhà khoa học đã được phong hàm giáo sư, phó giáo sư.

  1. Năm 1980, giáo sư 83, phó giáo sư 347
  2. Năm 1984, giáo sư 117, phó giáo sư 664
  3. Năm 1986, giáo sư 6, phó giáo sư 10
  4. Năm 1988, giáo sư 14, phó giáo sư 87
  5. Năm 1989, giáo sư 2,
  6. Năm 1991, giáo sư 247, phó giáo sư 727
  7. Năm 1992, giáo sư 140, phó giáo sư 719
  8. Năm 1996, giáo sư 210, phó giáo sư 771
  9. Năm 1997, giáo sư 2 [2]

Ngày 17 tháng 5 năm 2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2001/NĐ-CP "Quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh giáo sư, phó giáo sư". Theo nghị định này, việc xét và phong hàm giáo sư, phó giáo sư được thực hiện theo từng năm.

  1. Năm 2001, giáo sư 96, phó giáo sư 391
  2. Năm 2002, giáo sư 115, phó giáo sư 553
  3. Năm 2003, giáo sư 62, phó giáo sư 388
  4. Năm 2004, giáo sư 38, phó giáo sư 302
  5. Năm 2005, giáo sư 41, phó giáo sư 312
  6. Năm 2006, giáo sư 44, phó giáo sư 411
  7. Năm 2007, giáo sư 54, phó giáo sư 445 [2]
  8. Năm 2014, GS trẻ nhất và GS cao tuổi nhất đợt này cũng là GS trẻ nhất và cao tuổi nhất trong lịch sử (1974 - 2014). Đó là GS Phan Thanh Sơn Nam, 37 tuổi, chuyên ngành Hóa học, giảng viên trường ĐH Bách khoa – ĐHQGH TP.HCM và GS Lê Ngọc Canh, 81 tuổi, chuyên ngành Nghệ thuật, nguyên giảng viên trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật TƯ – HN.[3]
Đội ngũ giáo sư, phó giáo sư được phong nhiều nhất ở các ngành: Y, Kinh tế, Toán, Lý, Hóa, Nông nghiệp...
  1. Năm 2018, Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước công bố đầu tháng 2-2018, 1.226 người được cho là đạt chuẩn giáo sư, phó giáo sư năm 2017. Do dư luận phản ứng, Thủ tướng đã chỉ đạo Hội đồng chức danh rà soát lại danh sách này. Bộ trưởng GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ - chủ tịch Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước, đã giao Thanh tra Bộ chủ trì xác minh làm rõ. Ngày 6-3, trong danh sách mới 74 người được công nhận đạt tiêu chuẩn giáo sư, 1.057 người phó giáo sư. 95 người không còn tên trong danh sách mới có nhiều cán bộ quản lý như ứng viên GS Nguyễn Thị Kim Tiến - Bộ trưởng Bộ Y tế, ứng viên GS Lê Quân - thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội, ứng viên PGS Trương Xuân Cừ - Phó trưởng Ban chỉ đạo Tây Bắc, ứng viên PGS Hà Anh Đức - thư ký Bộ trưởng Bộ Y tế, ứng viên PGS Nguyễn Hùng Long - phó cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), ứng viên PGS Lê Quang Minh - giám đốc Sở Y tế Hà Nam, ứng viên PGS Trịnh Thanh Hùng - Phó vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ các ngành Kinh tế kỹ thuật Bộ Khoa học và công nghệ...[4]

Những giáo sư là lãnh đạo cấp caoSửa đổi

Tiêu chuẩn và quy trình xét phongSửa đổi

Một người sẽ được xét chức danh Giáo sư khi đạt một số tiêu chuẩn về nghiên cứu, hướng dẫn, và giảng dạy. Người đó sẽ phải làm hồ sơ nộp lên Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước. Sau đó hội đồng sẽ thẩm định hồ sơ, phỏng vấn các ứng viên và quyết định có phong hay không qua hình thức bỏ phiếu kín lấy đa số.

Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nướcSửa đổi

Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước Việt Nam là 1 hội đồng quan trọng của ngành giáo dục Việt Nam, là cơ quan có nhiệm vụ, vai trò như trọng tài đề cử, xem xét, và phong tặng chức danh giáo sư của Việt Nam.

Chức năng nhiệm vụ của Hội đồng:Sửa đổi

  • Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, có trách nhiệm xét công nhận hoặc hủy bỏ công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư;
  • Thành viên của Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước gồm: Chủ tịch hội đồng, một Phó Chủ tịch hội đồng, Tổng thư ký và các ủy viên. Các thành viên Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước phải có chức danh giáo sư. Tổng thư ký hội đồng làm việc theo chế độ chuyên trách. Các thành viên khác của Hội đồng làm việc theo chế độ kiêm nhiệm;
  • Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước có con dấu hình quốc huy và tài khoản riêng. Kinh phí hoạt động của Hội đồng được cấp từ ngân sách Nhà nước thông qua Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Hội đồng chức danh giáo sư ngành, liên ngành và Hội đồng chức danh giáo sư cơ sở là các hội đồng chuyên môn, do Chủ tịch hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước quyết định thành lập để giúp Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước thực hiện nhiệm vụ được giao.
  • Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước, các Hội đồng chức danh giáo sư ngành, liên ngành và Hội đồng chức danh giáo sư cơ sở.[5]
  • Chủ tịch đầu tiên của hội đồng là giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn.

Thành viên hiện tạiSửa đổi

Thành viên Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước nhiệm kỳ 2018 - 2023 [6]

  • Chủ tịch Hội đồng

GS. TS. Phùng Xuân Nhạ (Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo)

  • Phó Chủ tịch Hội đồng

GS. TSKH. VS. Châu Văn Minh (Phụ trách nhóm ngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật và công nghệ)

GS. TS. Nguyễn Quang Thuấn (Phụ trách nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn, nghệ thuật, thể dục thể thao)

  • Ủy viên Hội đồng [7]
  1. GS. TS. Nguyễn Thanh Phương
  2. GS. TSKH. Nguyễn Đông Anh
  3. GS. TSKH. Bành Tiến Long
  4. GS. TS. Nguyễn Thanh Thủy
  5. GS. TS. Lê Quan Nghiệm
  6. GS. TSKH. Hồ Đắc Lộc
  7. GS. TS. Phạm Huy Khang
  8. GS. TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc
  9. GS. TSKH. Trần Văn Sung
  10. GS. TS. Trần Minh Hưởng
  11. GS. TS. Trần Hữu Phúc
  12. GS. TS. Mai Trọng Nhuận
  13. GS. TS. Trần Thọ Đạt
  14. GS. TS. Đào Trí Úc
  15. GS. TS. Nguyễn Trọng Giáng
  16. GS. TS. Mai Ngọc Chừ
  17. GS. TS. Bùi Chí Bửu
  18. GS. TS. Phan Tuấn Nghĩa
  19. GS. TS. Vũ Minh Giang
  20. GS. TS. Vũ Dũng
  21. GS. TS. Trần Thục
  22. GS. TSKH. Lê Tuấn Hoa
  23. GS. TS. Phạm Văn Đức
  24. GS. TS. Tạ Ngọc Tấn
  25. GS. TS. Lã Nhâm Thìn
  26. GS. TS. Nguyễn Hữu Đức
  27. GS. TS. Nguyễn Việt Anh
  28. GS. TS. Đặng Vạn Phước

Ý kiến/Nhận địnhSửa đổi

Bài chi tiết: Học hàm

Phản đốiSửa đổi

Chức danh giáo sư cần được cải cách theo tiêu chuẩn quốc tế.[1]

  • Theo GS Hoàng Tụy:"Trước hết, có một tiến bộ đáng ghi nhận là cách gọi học hàm GS thành chức danh GS. Thật ra, chỉ có ở nước ta và cũng chỉ từ giữa năm 80 trở đi mới coi GS là phẩm hàm để phong thưởng, chứ các nước khác, GS là chức vụ khoa học, với nội dung chức trách cụ thể, cần tuyển chọn người đủ năng lực để đảm nhiệm. Sự khác biệt không chỉ ở ngôn từ, mà ở mục đích và nội dung công việc. Do quan niệm học hàm theo kiểu phong kiến nên nhiều người chỉ có chức quyền dễ dàng được phong GS, cho dù chẳng có trình độ gì.[8].
  • Theo GS Ngô Bảo Châu, "chúng ta nên trả lại từ giáo sư về đúng nghĩa của nó, tức là một vị trí làm việc. Nhà nước cũng nên trao quyền bổ nhiệm này cho các cơ sở giáo dục bởi phù hợp với chủ trương chung là giao quyền tự chủ cho các trường đại học...tôi thấy một số người được Hội đồng giáo sư Nhà nước phong hàm nhưng lại không xứng đáng vì chức danh giáo sư gắn liền với việc nghiên cứu khoa học." [9]
  • GS. Nguyễn Văn Tuấn trong một bài viết trên mạng Vietnamnet đề nghị: "Bộ GDĐT thay vì can thiệp vào việc bổ nhiệm giáo sư của các đại học, chỉ cần quản lý tốt quy trình bổ nhiệm và kiểm tra tiêu chuẩn bổ nhiệm." [10]

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi