Họ Bùi làng Thịnh Liệt

Họ Bùi Thịnh Liệt hoặc Họ Bùi làng Sét, là một dòng họ nổi tiếng đã đóng góp nhiều nhân vật quan trọng cho các Triều đại trong thời gian từ đầu thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 20, cũng như nhiều văn hào, tác gia… của nền văn hóa Việt Nam trong 5 thế kỷ đó. Gia tộc này đã được nhắc đến trong nhiều sách và tài liệu như Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, cũng như nhiều bài báo khác.

Nguồn gốcSửa đổi

Dựa theo gia phả Bùi Thị Gia phả do Bùi Huy Bích ghi chép lưu trữ tại Viện Hán Nôm thì nguồn gốc của họ Bùi làng Thịnh Liệt là từ làng Cát Xuyên, huyện Hoàng Hóa, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa (nay là huyện Hoằng Hóa của tỉnh Thanh Hóa), Viễn tổ của dòng họ (khuyết tên) gia tộc này di cư đến Xã Định Công, huyện Thanh Đàm (sau này là Thanh Trì), phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (gần thành Thăng Long). Sau đó chuyển sang xã Thịnh Liệt cư trú tại đây, khu vực cư trú sau thành thôn Bùi Đông, sau đó có tên là Làng Giáp Nhị gắn bó với lịch sử của dòng họ này.

Viễn tổ có tên hiệu Chí Đức, sống trong khoảng từ cuối thế kỷ 14 đến giữa thế kỷ 15 và là người đã mang gia đình từ Thanh Hóa đến gần Thăng Long. Ông nổi tiếng khi còn trẻ là một người có sức khoẻ phi thường và biết võ nghệ. Theo truyện kể lại thì ông đã một mình đánh đuổi một đàn trâu rừng để cứu con gái của Hoàng Công Thục – một võ tướng của nhà Trần. Vì công này, tướng Hoàng Công Thục gả con gái của mình. Bà Ngọc Trân cũng còn là cháu ngoại của vua Trần khi đó.

Viễn tổ Chí Đức sinh con trai là Trung Thức. Theo truyện kể lại thì có một người Trung Hoa thông hiểu về phong thuỷ, vì muốn trả ơn cho Trung Thức, đã đề nghị cho Trung Thức hai vùng phúc địa – một vùng sẽ tạo ra một vị vua trong các người con cháu, còn vùng kia sẽ tạo ra nhiều thế hệ có nhiều danh nhân – và Trung Thức đã chọn vùng phúc địa thứ hai. Nghe theo lời, Trung Thức dọn gia đình sang làng Thịnh Liệt, lúc đó chỉ là một khu đầm lầy với gia đình của Cao Lệnh Công đang ở. Sau khi dọn sang Thịnh Liệt, Trung Thức lấy con gái họ Cao là Cao Thục Tịnh. Về sau, khi gia đình trở nên quý hiển có nhiều con cháu làm quan trong triều, Trung Thức được vua nhà Hậu Lê phong tước Diễn Phúc Bá, chức Tả Thị Lang và tên hiệu là Tả Dụ; do đó Trung Thức còn được biết với tên Tả Dụ.

Danh nhân qua nhiều thế hệSửa đổi

Từ khi định cư tại làng Thịnh Liệt, gia tộc họ Bùi này đã đóng góp nhiều nhân vật trong lịch sử Việt Nam. Số người làm quan trong dòng họ rất nhiều nhưng các người giữ chức vụ quan trọng và tiêu biểu trong triều đình là các người sau đây:

  • Bùi Xương Trạch (1451-1529): con trai lớn của Diễn Phúc Bá Tả Dụ (hay Trung Thức). Ông làm quan trong triều nhà Hậu Lê, giữ các chức vụ như Đông các Học sĩ, Thượng thư bộ Binh, Tế tửu Quốc Tử Giám... cũng như Thượng thư Trưởng Lục bộ (một chức vụ quan trọng điều khiển cả sáu bộ, tương đương như Tể tướng) kiêm Đô Ngự sử, và được vua phong tước Quảng Văn Hầu. Ông nổi tiếng thanh liêm, được nhiều người kính phục và được nhắc đến trong nhiều tài liệu lịch sử. Khi chết ông được phong tặng chức Thái phó, tước Quảng Quốc Công và tên hiệu là Văn Lượng.
  • Quan Quốc Tử Giám bạ (1464-1552): em cùng cha khác mẹ của Bùi Xương Trạch; không biết tên, chỉ biết qua tên của chức vụ vì ông giữ chức Giám bạ cho Quốc Tử Giám. Ông đỗ kỳ thi Hương năm 1492 và sau đó vào đến tam trường cho thi Hội nhưng không đỗ tiến sĩ.
  • Bùi Trụ (khoảng từ đầu đến giữa thế kỷ 16): con trai lớn của Bùi Xương Trạch. Ông làm quan đến chức Thượng thư bộ Hộ. Khi chết ông được phong tặng chức Thái bảo, tước Kính Quận Công.
  • Bùi Vịnh (1508-1545): con trai thứ của Bùi Xương Trạch. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang bộ Hộ kiêm Tả Xuân phường, sau này đến chức Đông các Đại học sĩ, tước Mai Lĩnh Hầu. Khi chết ông được phong tặng chức Thái bảo, tước Mai Quận Công.
  • Bùi Bỉnh Uyên (1520-1613): con của Bùi Vịnh; đỗ thi Hương nhưng không đi thi Hội vì đang có tang. Ông đã làm quan lúc ban đầu với nhà Mạc nhưng cùng bác là Bùi Trụ và cha vợ là Lê Bá Ly vào Thanh Hóa năm 1550 để lập lại nhà Lê. Sau này ông làm quan đến các chức Thượng thư Bộ binh, Tham tụng..., và được phong tước Tiên Quận Công. Ông làm quan trong ba đời vua Lê và bốn đời Chúa Trịnh; tất cả bảy người con của ông đều là võ tướng được phong tước.
  • Bùi Bỉnh Quân (1580-1630): cháu bốn đời của Bùi Xương Trạch, làm quan đến chức Phụng thiên Phủ doãn. Ông chết trong khi đi sứ nhà Minh và được phong tặng chức Hữu Thị Lang.
  • Bùi Bỉnh Trục (1730-1815): làm quan đến chức Tự thừa.
  • Bùi Huy Bích (1744-1818): cháu bảy đời của Bùi Xương Trạch, làm quan đến các chức Đốc đồng Nghệ An, Tham tụng... và được phong tước Kế Liệt Hầu. Sau khi thu xếp êm nạn kiêu binh năm 1785, ông được phong chức Đồng binh Chương sự kiêm Tham tụng, nhưng ông từ chối để về hưu. Ông được nhắc đến trong nhiều tài liệu về văn học và lịch sử Việt Nam.
  • Bùi Phổ (1776-1836): làm quan đến chức Thượng thư bộ Hình.
  • Bùi Bành (1866-1935): giữ chức Án sát của nhiều tỉnh cũng như Hiệp lý Hà Nội và Tuần phủ Yên Bái dưới thời nhà Nguyễn.

Các bia tiến sĩ tại Văn Miếu Hà Nội còn ghi tên của bốn vị tiến sĩ của dòng họ này:

Số người đỗ cử nhân trong các kỳ thi Hương cũng khoảng 20 người, như: Bùi Trụ, Bùi Bỉnh Uyên, Bùi Xuân Nghị, Bùi Xương Tự, Bùi Nhữ Tích, Bùi Ngạn Cơ, Bùi Phổ, Bùi Bành...

Ngoài ra, dòng họ này cũng đóng góp rất nhiều vào văn hóa và văn học Việt Nam với các tác gia. Nổi tiếng nhất là Bùi Huy Bích (Tồn am thi văn tập, Hoàng Việt thi tuyển, Hoàng Việt văn tuyển,...), Bùi Bỉnh Trục (Đản Trai trích đối, Đản Trai công thi tập), Bùi Phổ (Mão Hiên văn tập, Mão Hiên chuyết bút, Bùi thị gia phả...); sau đó là Bùi Vịnh (Đế đô hình thắng, Cung trung bảo huấn), Bùi Nhữ Tích (Minh đô thi), Bùi Xương Trạch (bài ký đình Quảng Văn tại cửa Đại Hưng của thành Thăng Long); và nhiều văn hào khác.

Trong sách Danh nhân Hà Nội có nhắc đến Bùi Liêm cũng thuộc gia tộc này. Bùi Liêm (1881-1916) là cháu 10 đời của quan Quốc Tử Giám bạ. Trong thời gian Pháp thuộc, ông tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thụcphong trào Đông du của Phan Bội Châu. Năm 1912, ông sang Trung Quốc để gia nhập Việt Nam Quang Phục Hội. Ông bị bắt khi trở về nước năm 1915 và bị xử bắn vào ngày 8 tháng 11 năm 1916.

Làng Giáp Nhị - Thịnh Liệt theo thời gianSửa đổi

Trước thế kỷ XV, Thịnh Liệt gọi là động Cổ Liệt, giáp với động Mơ - Mai Động phía đông bắc. Tại đây Hồ Hán Thương có ý định xây cung điện để rời Tây Đô về Cổ Liệt - Huyện Long Đàm. Đến cuối thế kỷ XVI, Huyện Long Đàm đổi tên thành Thanh Trì, động Cổ Liệt đổi thành Thịnh Liệt. Mỗi làng trong xã Thịnh Liệt có một họ chính, đông đinh. Vì thế, tên họ được gọi cho tên Làng trước khi phân thành các giáp thời nhà Nguyễn: Giáp Nhất trước được gọi Thôn Bùi Tây; Giáp Nhị - Bùi Đông; Giáp Tam - Đỗ Trung; Giáp Tứ - Đỗ Nội; Giáp Ngũ - Đỗ Ngoại; Giáp Lục - làng Sét; Giáp Thất - Lê thôn...Đầu thế kỷ XX, chỉ còn lại Giáp Nhất, Giáp Nhị, Giáp Tứ; Giáp Lục và Giáp Bát vì Giáp Tam và Giáp Ngũ nhập vào Giáp Nhị, Giáp Thất nhập vào Giáp Bát. Năm thôn này được nâng lên thành 5 xã độc lập, cùng với xã Tương Mai hợp thành tổng Thịnh Liệt, còn gọi là tổng Sét, huyện Thanh Trì. ". Gia tộc họ Bùi Thịnh Liệt này bắt đầu từ thôn Bùi Đông và trở thành Giáp Nhị (đến nay).

Trong số các làng văn hiến tại Bắc Việt, làng Giáp Nhị - Thịnh Liệt là một trong số ít những làng có cả văn chỉ lẫn thọ chỉ. Thọ chỉ, giống như văn chỉ, là một gò đất lộ thiên có văn bia (để phần biệt với văn từ và thọ từ) trong cuộc trấn hưng Nho Giáo thời Lê Trung Hưng do Tham tụng Bùi Huy Bích chấp chính đề xướng dùng để tôn vinh Nho giáo, các danh nhân khoa bảng, Thọ chỉ để tôn vinh các người lớn tuổi – từ 70 tuổi hay hơn nhưng đặc biệt là các người trên 100.

Nhà thờ của họ Bùi trong làng được vua Lê Hiển Tông phong một bức hoành phi có bốn chữ "Sơn Nam Vọng Tộc" để chỉ một dòng họ nhiều danh vọng của trấn Sơn Nam. Trấn Sơn Nam lúc đó bao gồm các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Hà NamHà Đông.

Tham khảoSửa đổi

  • Bùi Đăng Thái, 600 năm họ Bùi – Giáp Nhị - Thịnh Liệt trong tạp chí Họ Bùi Việt Nam, tập 4, tháng 12 năm 2005
  • Anh Chi, Dòng họ Bùi danh tiếng ở làng Giáp Nhị, Thịnh Liệt, trong tạp chí Hà Nội Mới, 16 tháng 12 năm 2006