Hoàng Kim Giáp (Giản thể: 满城尽带黄金甲; bính âm: Mǎnchéngjìndàihuángjīnjiǎ; Hán Việt: Mãn thành tận đới hoàng kim giáp; tiếng Anh: Curse of the Golden Flower) là một bộ phim võ thuật, chính kịch được biên kịchđạo diễn bởi Trương Nghệ Mưu.[1] Tựa đề tiếng Quan thoại của phim là dòng cuối trong một bài thơ của Hoàng Sào, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại nhà Đường từ năm 875 tới năm 884.[2]

Hoàng Kim Giáp

Tập tin:Curseofgoldenflower.jpg
Áp phích phim
Đạo diễnTrương Nghệ Mưu
Sản xuấtGiang Chí Cường
Trương Nghệ Mưu
Tác giảTrương Nghệ Mưu
Viết kịch: Tào Ngu
Diễn viênChâu Nhuận Phát
Củng Lợi
Chu Kiệt Luân
Âm nhạcMai Lâm Mậu
Quay phimTrương Nghệ Mưu
Phát hànhHoa Kỳ:
Sony Pictures Classics
Hồng Kông:
Edko Film
Công chiếu
Trung Quốc 21 tháng 12 năm 2006

Hoa Kỳ 21 tháng 12 năm 2006

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 13 tháng 4 năm 2007
Độ dài
114 phút.
Quốc giaTrung Quốc
Ngôn ngữQuan thoại
Kinh phí$45,000,000
Trang web chính thức

Với kinh phí 45 triệu US$,[3] vào thời điểm ra mắt, Hoàng Kim Giáp vượt qua Vô cực của đạo diễn Trần Khải Ca, trở thành phim Trung Quốc đắt giá nhất mọi thời đại.[4] Tác phẩm được chọn đem đi tranh giải Phim ngoại ngữ hay nhất tại Oscar lần thứ 79 nhưng không nhận được đề cử.[5][6][7] Dù vậy, phim vẫn được đề cử cho hạng mục Thiết kế phục trang đẹp nhất.[8] Năm 2007, tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 26 phim nhận được 14 đề cử và 4 giải thưởng bao gồm Giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (Củng Lợi), Giải chỉ đạo hành động xuất sắc nhất (Trình Tiểu Đông), Giải thiết kế trang phục và trang điểm đẹp nhất (Hề Trọng Văn) và Giải nhạc phim hay nhất (ca khúc "Đài hoa cúc" của Châu Kiệt Luân).[9]

Chuyện phim dựa trên nội dung vở kịch "Lôi Vũ" của Tào Ngu, nhưng bối cảnh bị đẩy lùi từ Thiên Tân hiện đại về thời Hậu Đường thuộc Ngũ đại Thập quốc.[10]

Một bối cảnh trong phim Hoàng Kim Giáp

Nội dungSửa đổi

Phim lấy cốt truyện và tình tiết dựa vào vở kịch Lôi Vũ của Tào Ngu, nhưng được đẩy lùi bối cảnh về thời Ngũ Đại Thập Quốc. Thời Ngũ Đại Thập Quốc, đất nước Trung Hoa thời phong kiến chiến tranh liên miên. Vua Hậu Đường trước khi lên ngôi đã có quan hệ tình cảm với một cô thôn nữ và có hai con, gồm một trai (đại hoàng tử) và một gái.Tuy nhiên,ông lại che giấu sự thật để kết hôn và lấy công chúa của nước láng giềng làm hoàng hậu. Cô thôn nữ nuốt hận ôm con gái và để lại đứa con trai rồi bỏ đi, lấy Tưởng thái y làm chồng.Trong lễ hội Cúc hoa,Hoàng hậu cùng Vương tử Nguyên Kiệt(cùng cha khác mẹ)ở trong hoàng tộc đã khởi quân lật đổ Đại vương nhưng không thành công.Vì thấy có lỗi với mẹ mình nên Nguyên Kiệt đã rút kiếm tước đoạt được từ trong tay một tên lính của Đại Vương rồi tự sát.Quá đau buồn trước cái chết của con trai mình,nên mẹ Nguyên Kiệt hất chén thuốc(có độc)văng trúng vào biểu trưng tượng trưng cho triều đại của Đại Vương khiến vật đó bị hoen ố và biến dạng hoàn toàn do chén thuốc(có độc)mà nên.

Phân vaiSửa đổi

  • Châu Nhuận Phát trong vai Đại vương (tương ứng Chu Phác Viên trong Lôi vũ của Tào Ngu)
  • Củng Lợi trong vai Vương hậu (tương ứng Phồn Y trong Lôi Vũ)
  • Châu Kiệt Luân trong vai Vương tử Nguyên Kiệt (元杰) (tương ứng Lỗ Đại Hải trong Lôi Vũ)
  • Tần Tuấn Kiệt trong vai Vương tử Nguyên Thành (元成) (tương ứng Chu Xung trong Lôi Vũ)
  • Lưu Diệp trong vai Thái tử Nguyên Tường (元祥) (tương ứng Chu Bình trong Lôi Vũ)
  • Nghê Đại Hoành trong vai Tưởng thái y (tương ứng Lỗ Quý trong Lôi Vũ)
  • Trần Cẩn trong vai Nguyên Phối phu nhân (tương ứng Thị Bình trong Lôi Vũ)
  • Lý Mạn trong vai Tưởng Thiền (蔣 嬋), con gái Tưởng thái y, thực ra là con Đại vương (tương ứng Lỗ Tứ Phượng trong Lôi Vũ).

Nhan đề phimSửa đổi

Nhan đề Hoàng Kim Giáp lấy từ câu cuối của một thi phẩm thời Đường của Hoàng Sào, nhan đề "Bất đệ hậu phú cúc" (xem đầy đủ tại Thơ của Hoàng Sào):

Nguyên văn Hán văn: 滿城盡帶黃金甲。

Phiên âm Hán-Việt: Mãn thành tận tới hoàng kim giáp.

Tạm dịch nghĩa: Áo giáp vàng ở đầy dưới đất khắp cố thành.

Âm nhạcSửa đổi

Phần âm nhạc trong phim do nhạc sĩ người Nhật Umebayashi Shigeru (梅林茂 Umebayashi Shigeru?, Mai Lâm Mậu) phụ trách. Shigeru Umebayashi cũng chính là nhạc sĩ của các phim Tâm trạng khi yêu2046 (đạo diễn Vương Gia Vệ, diễn viên Lương Triều Vĩ, Trương Mạn Ngọc), Thập diện mai phục (House of Flying Daggers) năm 2004 của Trương Nghệ Mưu, phim Tô Khất Nhi của đạo diễn Viên Hòa Bình, Hoắc Nguyên Giáp (Fearless) của đạo diễn Vu Nhân Thái, chỉ đạo võ thuật Viên Hoà Bình, ngôi sao Lý Liên Kiệt thủ vai năm 2006

Bên cạnh việc tham gia diễn xuất trong phim, Châu Kiệt Luân cũng thể hiện hai ca khúc nhạc phim, một bài tên "Chrysanthemum Terrace" hay Cúc Hoa Đài (tiếng Trung: 菊花台; bính âm: Júhuā tái), phát hành trong album 2006 Still Fantasy và bài còn lại trích từ mini album Curse of the Golden Flower (EP) có tên "Golden Armor" hay Hoàng Kim Giáp (tiếng Trung: 黄金甲; bính âm: Huángjīn jiǎ).

Trang phụcSửa đổi

Tất cả các nhân vật nữ trong phim từ hoàng hậu tới các cung nữ đều mặc trang phục cung đình hở vòng một nhiều, khiến phim này bị khán giả chế giễu.[11] Chiếc áo long bào để Châu Nhuận Phát mặc được may bằng nhiều sợi chỉ vàng 18 K có giá thành lên tới 1,25 triệu Nhân dân tệ.[12] Việc phục trang trong phim này đã mang về cho nhà thiết kế Yee Chung-Man một giải Kim Tượng và một đề cử cho giải Oscar lần 79, năm 2006-2007

Giải thưởngSửa đổi

  1. Phim hay nhất: xếp hạng 4
  2. Đạo diễn xuất sắc nhất (Trương Nghệ Mưu): hạng 4
  3. Nam diễn viên chính xuất sắc nhất (Châu Nhuận Phát): hạng 4
  4. Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (Củng Lợi)[14]
  5. Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất (Châu Kiệt Luân hạng 4 và Lưu Diệp hạng 5)
  6. Kỹ thuật quay phim xuất sắc nhất: Triệu Tiểu Đinh (趙小丁) hạng 5
  7. Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất (Trình Tiểu Đông)[14]
  8. Trang phục xuất sắc nhất: Hề Trọng Văn (奚仲文)[14]
  9. Vũ đạo
  10. Best Original Film Score: Shigeru Umebayashi hạng 4
  11. Ca khúc hay nhất: Đài hoa cúc (菊花台), phổ nhạc và biểu diễn: Châu Kiệt Luân, lời: Vincent Fang)[14]
  12. Thiết kế âm nhạc xuất sắc nhất: Tao Jing & Roger Savage hạng 3
  13. Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất: Angela Barson, Frankie Chung Chi Hang, John Leonti & Sze Cheuk Wah hạng 3

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Hoàng Kim Giáp (2006)”. https://www.imdb.com/. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2020. 
  2. ^ Women in Chinese Martial Arts Films of the New Millennium: Narrative Analyses and Gender Politics. Lexington Books. 2012. tr. tr.145. ISBN 9780739139103. 
  3. ^ “Điểm mặt 5 phim có kinh phí đầu tư lớn nhất châu Á”. zingnews.vn. 10 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2020. 
  4. ^ “Quả bom tấn trước thềm Oscar 2007”. thanhnien.vn. 14 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2020. 
  5. ^ 'Curse,' 'The Banquet' picked as Oscar entries”. english.china.com. 3 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2020. 
  6. ^ ““Hoàng Kim Giáp”và “Dạ yến” tranh Oscar năm sau?”. tienphong.vn. 17 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2020. 
  7. ^ “Vì sao "Hoàng kim giáp" và "Dạ yến" rớt Oscar?”. thanhnien.vn. 25 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2020. 
  8. ^ “THE 79TH ACADEMY AWARDS | 2007”. oscars.org. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2020. 
  9. ^ “第二十六屆香港電影金像獎得獎名單”. hkfaa.com. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2020. 
  10. ^ “Cảnh phim từng bị coi là 'nóng' nhất thế giới điện ảnh Trương Nghệ Mưu”. vtc.vn. 3 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2020. 
  11. ^ "Hoàng Kim Giáp" bị chế giễu vì phô ngực diễn viên, VnExpress
  12. ^ Bí mật chiếc long bào trong phim "Mãn thành tận đới hoàng kim giáp"
  13. ^ 'Hoàng kim giáp' đại thắng tại giải Kim Tượng
  14. ^ a ă â b c Thông tin trên trang chính thức giải Kim Tượng. Tại đây nói giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất không phải là Củng Lợi, cũng như thứ tự đoạt giải có thể khác biệt

Liên kết ngoàiSửa đổi