Ngô Đình Cẩn

cố vấn miền Trung của chế độ Chính phủ Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam từ 1955 đến năm 1963,chủ tịch Đảng Cần lao nhân vị Việt Nam.

Ngô Đình Cẩn (chữ Hán: 吳廷瑾; 1 tháng 11 năm 1910 – 9 tháng 5 năm 1964) là em trai và đồng thời là một người bạn tâm tình của Ngô Đình Diệm, tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa. Ông được anh trai giao làm cố vấn Trung phần, phụ trách cao nguyên Trung phần và khu vực duyên hải trải dài từ Phan Thiết ở phía nam đến biên giới Vĩ tuyến 17. Đặt tổng hành dinh tại cố đô Huế, ông Cẩn điều hành quân đội tư nhân và mật vụ kiểm soát khu vực do mình phụ trách. Trong thời gian cầm quyền, ông cai trị miền Trung như một bạo chúa, tổ chức trấn áp, vây bắt những người cộng sản, người chống đối hoặc có tư thù với mình. Chính vì điều này, ông Cẩn được đánh giá là người áp bức nhất trong số các anh em nhà họ Ngô.

Ngô Đình Cẩn
Sinh(1910-11-01)1 tháng 11, 1910
Mất9 tháng 5, 1964(1964-05-09) (53 tuổi)
Sài Gòn
Nguyên nhân mấtXử bắn
Quốc tịchNhà NguyễnViệt Nam Cộng hòa Việt Nam
Dân tộcKinh
Nổi tiếng vìEm trai, thân tín của tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm
Quê quánLệ Thủy, Quảng Bình
Tôn giáoCông giáo
Cha mẹ
Người thânNgô Đình Khôi (anh trai)
Ngô Đình Thục (anh trai)
Ngô Đình Diệm (anh trai)
Ngô Đình Nhu (anh trai)
Ngô Đình Luyện (em trai)

Thời còn trẻ, Ngô Đình Cẩn là một người ủng hộ tư tưởng của nhà cách mạng Phan Bội Châu. Cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, vào thời điểm mà nhiều phe nhóm trong nước cũng như các thế lực Quốc tế đang cố gắng giành quyền kiểm soát Việt Nam, ông đã tìm cách thu hút sự ủng hộ của quần chúng dành cho ông Diệm. Sau khi hoàn tất loại bỏ các phe dân tộc chủ nghĩa đối lập ở miền Trung, Ngô Đình Cẩn đã trở thành “lãnh chúa” khu vực sau khi ông Diệm trở thành tổng thống của nửa phía nam nước Việt Nam chia cắt vào năm 1955. Trong thời gian nắm quyền, ông Cẩn nổi tiếng không chỉ vì cai trị miền Trung bằng một bàn tay sắt, mà còn được biết đến là có tham gia thực hiện các phi vụ buôn lậu và tham nhũng. Các hoạt động chống Cộng của ông tỏ rõ sự hiệu quả khi lực lượng Việt Cộng ở miền Trung yếu hơn hẳn so với các vùng khác ở miền Nam. Lực lượng dân quân của ông được các quan chức Mỹ ở miền Trung khi đó đánh giá là công cụ chống Cộng hiệu quả.

Ảnh hưởng của ông Cẩn bắt đầu suy yếu sau khi ảnh cả của ông là Ngô Đình Thục được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng giám mục Tổng giáo phận Công giáo Huế. Sau khi nhậm chức, ông Thục tích cực truyền bá đức tin Công giáo, dẫn đến sự việc cấm treo cờ Phật giáo trong ngày lễ Phật Đản kỷ niệm ngày sinh của Phật Thích-ca Mâu-ni. Lực lượng quân đội tư nhân của Ngô Đình Cẩn đã nổ súng vào đám đông phản đối lệnh cấm khiến 9 người bị chết, dẫn đến Biến cố Phật giáo năm 1963. Để đối phó với mức độ của các cuộc biểu tình đang leo thang từng ngày, chính quyền Sài Gòn đã phản ứng với mức độ tàn bạo ngày càng tăng, khiến ông Diệm bị lật đổ trong cuộc đảo chính tháng 11 năm 1963. Ngô Đình Cẩn được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đề nghị cho tị nạn, nhưng đại sứ Henry Cabot Lodge Jr. đã yêu cầu nhân viên CIA Lucien Conein bắt giam ông Cẩn ở Sài Gòn. Ông được bàn giao cho quân đội, bị kết án tử hình và xử bắn vào năm 1964.

Thời thơ ấuSửa đổi

 
Chứng tích khu biệt thự ở ấp Ngũ Tây, Thuỷ An, thành phố Huế

Ngô Đình Cẩn là người con thứ 8 trong gia đình có 9 anh chị em và trong số 6 người con trai thì ông là người con thứ 5. Mẹ ông là bà Phạm Thị Thân, cha ông Ngô Đình Khả là một quan đại thần trong triều đình vua Thành Thái dưới thời Pháp thuộc.[1][2] Theo sổ rửa tội được lưu giữ tại Nhà thờ chính tòa Phủ Cam, Huế thì Ngô Đình Cẩn sinh vào ngày 1 tháng 11 năm 1910 tại họ đạo Phủ Cam và có tên thánh là Jean Baptiste.[3]

Phản đối việc chính quyền Pháp truất ngôi và lưu đày vua Thành Thái, Ngô Đình Khả từ quan về nhà làm ruộng.[1] Sau khi cha mất, anh cả và anh thứ ba của Ngô Đình Cẩn – Ngô Đình KhôiNgô Đình Diệm – đều lần lượt được bổ nhiệm làm Tổng đốc. Do bất mãn trước sự cai trị của Pháp, ông Diệm nối gót cha từ quan trở về làm một thường dân vào năm 1933, trong khi ông Khôi vẫn giữ chức cho tới khi Nhật vào Đông Dương mới về hưu, rồi bị Việt Minh ám sát năm 1945.[2] Người anh thứ hai, Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục, về sau được bổ nhiệm làm Tổng giám mục Tổng Giáo phận Huế. Anh trai thứ tư, Ngô Đình Nhu, là cố vấn chính trị và đồng thời là nhà chiến lược chính trị của chính quyền tổng thống Diệm. Em trai út Ngô Đình Luyện trở thành một nhà ngoại giao sau khi gia đình họ Ngô thâu tóm nền chính trị miền Nam. Trong số sau người anh em trai, chỉ có ông Thục và ông Luyện là tránh khỏi bị hành quyết hoặc ám sát trong các biến động chính trị tại Việt Nam.[4]

Thông tin chi tiết về cuộc sống đầu đời của Ngô Đình Cẩn là không nhiều. Thời trẻ, ông nghiên cứu các tác phẩm và bình luận của nhà yêu nước Phan Bội Châu.[5] Được xem là là nhà cách mạng hàng đầu Việt Nam lúc bấy giờ, Phan Bội Châu bị chính quyền thuộc địa Pháp bắt giữ và bị kết án tử hình trước khi được giảm án xuống quản thúc tại gia.[6][7] Ông được người Pháp đưa về an trí tại Bến Ngự, Huế, và sống nốt quảng đời còn lại tại mảnh đất này.[5] Ngô Đình Cẩn thường ghé qua con xuồng ba lá của Phan Bội Châu trên dòng sông Hương, khi đến mang theo đồ ăn làm lễ vật để được nghe "Ông già Bến Ngự" luận bàn về chính trị.[5] Được xem là người ít học nhất trong gia đình,[8] Ngô Đình Cẩn chưa từng bao giờ rời khỏi Việt Nam và là người duy nhất trong số mấy anh em không theo học tại một cơ sở giáo dục do người châu Âu điều hành.[9]

Việt Nam rơi vào tình trạng hỗn loạn sau khi Nhật Bản xâm lược và thay thế chính quyền thuộc địa của Pháp trong trong Thế chiến thứ hai. Khi chiến tranh kết thúc, người Nhật đầu hàng quân Đồng Minh và buộc phải rút lui về nước trong khi nước Pháp do bị suy yếu nghiêm trọng bởi bất ổn chính trị dưới chế độ Vichy nên không thể thiết lập kiểm soát ở Đông Dương.[10] Vào lúc này, Mặt trận Việt Minh của Hồ Chí Minh giành được chính quyền và tuyên bố độc lập với tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã đụng độ vũ trang với người Pháp cũng như các nhóm dân tộc chủ nghĩa Việt Nam khác để giành quyền kiểm soát đất nước.[11] Trong thời gian này, Ngô Đình Cẩn đã tổ chức một cơ sở hỗ trợ bí mật cho ông Diệm ở miền Trung.[12] Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ là một trong số rất nhiều người theo chủ nghĩa dân tộc đang cố gắng giành quyền lãnh đạo quốc gia và đã trải qua hơn một thập kỷ sống ẩn dật, không màng tới chuyện chính sự.[11] Ngô Đình Cẩn góp công lớn giúp anh trai loại bỏ các nhóm dân tộc chủ nghĩa chống cộng khác, bao gồm Việt Nam Quốc dân ĐảngĐại Việt Quốc dân Đảng, là những phe nhóm cạnh tranh trực tiếp với ông Diệm nhằm thu hút sự ủng hộ của quần chúng.[12] Ngày 23 tháng 10 năm 1955, Ngô Đình Diệm lật đổ Bảo Đại trong một cuộc trưng cầu dân ý đầy gian lận do Ngô Đình Nhu tổ chức. Ba ngày sau, ông Diệm tự xưng là Tổng thống của chính thể mới Việt Nam Cộng hòa.

Người của Ngô Đình Cẩn thu hút dân chúng bỏ phiếu cho ông Diệm. Những người không tuân theo thường bị truy đuổi gắt gao, đánh đập, hành hạ bằng cách đổ nước sốt tiêu hoặc nước vào mũi.[13][14] Những hành vi bạo lực này đặc biệt rõ ràng tại những khu vực thuộc thẩm quyền của ông Cẩn,[15] nhất là tại Huế, nơi lòng người vẫn còn hướng về cựu hoàng đế Bảo Đại và nhà Nguyễn.[15] Một tuần trước cuộc bỏ phiếu, ông đã ra lệnh cho cảnh sát bắt giữ 1.200 người vì lý do chính trị. Tại Hội An, một số người đã bị giết trong cuộc bạo động diễn ra vào ngày bầu cử.[16]

Cai trịSửa đổi

Trong thời Đệ nhất Cộng hòa, các thành viên gia đình họ Ngô nắm hết mọi thực quyền trong tay do đó chế độ của ông Diệm bị cho là chế độ gia đình trị. Về phần mình, Ngô Đình Cẩn tuy không có vị trí chính thức trong chính phủ, nhưng nắm rất nhiều quyền lực tại miền Trung Việt Nam và được mệnh danh là “Lãnh chúa miền Trung”. Ông sở hữu quyền lực gần như vô hạn trong vùng, thường can thiệp vào các chiến dịch đàn áp Việt Cộng đậm chất "phong kiến" của quân đội.[17] Robert Scigliano, một nhà báo và một học giả từ Nhóm Cố vấn Việt Nam của Đại học Bang Michigan (MSUG), nhận định rằng Ngô Đình Cẩn cùng Ngô Đình Nhu và vợ là bà Trần Lệ Xuân cũng như anh cả Ngô Đình Thục đã tạo nên “một tầng lớp tinh hoa đứng ngoài vòng pháp luật, cùng với [ông] Diệm quyết định vận mệnh của [đất nước] Việt Nam.”[17] Tất cả bộ máy và sự hoạt động ở khu vực miền Trung đều nằm ngoài tầm kiểm soát của Sài Gòn và Cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, do đó ông Cẩn đôi khi phủ quyết các quan chức được chính phủ Sài Gòn bổ nhiệm về miền Trung.[18]

Ngô Đình Cẩn sở hữu trong tay quân đội và lực lượng cảnh sát mật riêng. Những lực lượng này thường thực hiện các cuộc truy lùng, tiêu diệt Việt Cộng, nhưng đồng thời cũng bắt giam, thủ tiêu các đối thủ chính trị chống cộng khác. Ông Cẩn tích lũy được khối tài sản lớn thông qua các hành vi tham nhũng, chẳng hạn như ăn hối lộ từ các doanh nhân, cho phép những người này nhận hợp đồng viện trợ nước ngoài từ chính phủ Hoa Kỳ của Dwight D. EisenhowerJohn F. Kennedy. Ông yêu cầu doanh nhân phải trả một khoản phí cho Phong trào Cách mạng Quốc gia của Đảng Cần lao Nhân vị,[19] đổi lại họ sẽ được phê chuẩn giấy phép nhập khẩu và đơn xin nhận viện trợ nước ngoài. Ông Cẩn được nhiều người cho là đã bán gạo ra miền Bắc thông qua thị trường chợ đen, cũng như tổ chức buôn lậu thuốc phiện khắp châu Á qua đường Lào, và độc quyền buôn bán quế.[17][20]

Ông thường xung đột với các anh em của mình về các vấn đề nội bộ, đặc biệt là với ông Ngô Đình Nhu, cố vấn có ảnh hưởng nhất của ông Diệm,[21] đồng thời là người đang kiểm soát phần phía nam của đất nước. Giữa hai anh em thường xảy ra tranh chấp trong những vấn đề liên quan đến các gói viện trợ của Hoa Kỳ và việc buôn bán gạo, nhưng không can thiệp vào các vấn đề trong lãnh thổ thuộc thẩm quyền của người còn lại.[21] Ông Cẩn từng cho ông Diệm xem một danh sách dài những đối thủ chính trị bị mình bắt giam, mong muốn mở văn phong cho cảnh sát mật của mình ở Sài Gòn, nhưng không báo cho ông Nhu biết.[22] Ông cho xây dựng các trại tra tấn và cải tạo, đàn áp dã man những người bất đồng chính kiến.[20] So sánh Cẩn với các anh trai của mình, Scigliano nói rằng ông Cẩn “cũng được coi là người nghiêm khắc nhất, một số người sẽ gọi là man rợ, ông và những thành viên trong gia đình cai trị lãnh địa của mình bằng một bàn tay hà khắc, đôi khi tàn nhẫn.”[17] Đề cập đến cách cai trị chuyên quyền của Ngô Đình Cẩn, một nhà phê bình người Việt Nam nói rằng, không giống như ông Diệm, ông Cẩn kiên định và khiến những thân cận không nghi ngờ gì về những gì ông muốn: “Họ không bối rối khi nói nước đôi về các lý tưởng và thể chế dân chủ.“[23] Việc ông tạo ra một hệ thống có nhiều ưu đãi và răn đe được xác định rõ ràng được xem là một lý do dẫn đến thành công.[23]

Bị bắt giamSửa đổi

Tháng 11 năm 1963, Hoa kỳ bật đèn xanh cho tướng Dương Văn Minh đảo chính lật đổ chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, tướng Dương Văn Minh cùng một số tướng lĩnh khác đảo chính lật đổ chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Tổng thống và cố vấn Ngô Đình Nhu bị giết. Ngày 2 tháng 11 năm 1963, Ngô Đình Cẩn mời tướng Đỗ Cao Trí ra Huế gặp ông nhưng vị tướng này ra lệnh cho quân đội bao vây nhà Ngô Đình Cẩn. Lợi dụng sự sơ hở của lính gác, cháu trai Ngô Đình Cẩn là linh mục Nguyễn Văn Thuận đưa ông này chạy vào ẩn náu trong nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế.[24]

Chiều ngày 3 tháng 11 năm 1963, tướng Đỗ Cao Trí ra Huế và đi thẳng đến nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế gặp Ngô Đình Cẩn. Theo tư liệu và hồi ức của Trịnh Quốc Thiên và Nguyễn Văn Minh tướng Trí nói với Ngô Đình Cẩn rằng Hội đồng Quân nhân Cách mạng ủy nhiệm ông này đến thông báo rằng cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu là tai nạn ngoài ý muốn của các tướng lãnh đồng thời chuyển lời của Hội đồng Quân nhân Cách mạng mời Ngô Đình Cẩn tham gia Hội đồng.[24] Tướng Đỗ Cao Trí cũng thông báo với Ngô Đình Cẩn rằng Hội đồng Quân nhân Cách mạng sẽ tịch thu tài sản của ông này và đề nghị giữ giùm tài sản của Ngô Đình Cẩn. Ngô Đình Cẩn đã trao 24 kg vàng cho tướng Đỗ Cao Trí cùng một số đồ quý giá và tiền mặt.[24]

Sau đó linh mục Nguyễn Văn Thuận và các linh mục dòng Chúa Cứu Thế đến Tòa lãnh sự Mỹ tại Huế xin cho ông Ngô Đình Cẩn tỵ nạn chính trị. Lãnh sự Mỹ John Helble gọi điện vào Sài Gòn xin ý kiến Tòa Đại sứ và Bộ Ngoại giao Mỹ. Tòa đại sứ Mỹ chấp thuận. Trong lúc chưa cứu xét về trường hợp tỵ nạn của Ngô Đình Cẩn xong, ông lại đòi Mỹ cho phép mẹ là bà Phạm Thị Thân cùng tỵ nạn với ông. Bộ Ngoại giao Mỹ phải ra chỉ thị cho Lãnh sự quán của họ ở Huế hủy bỏ quyết định cho phép Ngô Đình Cẩn tỵ nạn tại Mỹ.[24]

Khi biết tin Ngô Đình Cẩn đang tỵ nạn tại Lãnh sự quán Hoa Kỳ, tướng Đỗ Cao Trí đến Tòa lãnh sự Mỹ cảnh báo cơ quan này đừng chứa chấp ông Cẩn vì dân chúng Huế sẽ tràn vào phá Tòa lãnh sự và hành hung ông Cẩn thì không có lực lượng nào giữ được an ninh. Tòa lãnh sự Mỹ quyết định trao trả Ngô Đình Cẩn cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa.[24] Sáng ngày 5 tháng 11 năm 1963, tướng Đỗ Cao Trí cùng với một sĩ quan Mỹ và sĩ quan Việt Nam Cộng hòa đưa Ngô Đình Cẩn và mẹ ông này lên máy bay đi Sài Gòn theo lệnh của Hội đồng Quân nhân Cách mạng.[24] Ngô Đình Cẩn bị giam tại khám Chí Hòa. Trong thời gian bị biệt giam tại đây, sức khỏe của ông giảm sút trầm trọng đến nỗi không đi được.

Ngô Đình Cẩn được nhốt trong khám Chí Hòa cho đến ngày 20-04-1964. Vào ngày này, Ngô Đình Cẩn phải ra toà án. Ngồi ghế chánh án là Đại tá Đặng Văn Quang. Luật sư bào chữa cho ông Cẩn là Võ Văn Quan. Đại tá Đặng Văn Quang vốn là con đỡ đầu của thân mẫu đức cha Nguyễn Văn Thuận/chị ruột ông Cẩn. Nhân chứng tố cáo ông Cẩn là bà vợ của ông Nguyễn Đắc Phương. Ông Phương bị người của ông Cẩn xô té từ trên lầu cao trước đây. Toà tuyên án tử hình ông Cẩn với đủ thứ tội như: tội thủ tiêu người ở Chín Hầm, tổ chức ám sát, bắt người vô cớ, buôn thuốc phiện, và làm thiệt hại kinh tế quốc gia. Trước toà, ông Cẩn nói: "Tôi quân sự không biết, hành chánh không biết, học tầm thường thì làm sao ra lệnh cho ai được?".

Bốn ngày sau khi tuyên án, ông Cẩn đệ đơn xin ân xá. Đơn xin ân xá của Ngô Đình Cẩn đã được chuyển đến tướng Dương Văn Minh là Quốc trưởng. Rồi Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình cũng gửi một lá thư tới Dương Văn Minh xin ân xá cho tử tội Ngô Đình Cẩn với lý do là Cẩn đang bị bệnh rất nặng, ngày sống chỉ đếm được trên đầu ngón tay cho nên không cần thiết phải hành quyết Cẩn. Nhưng tất cả đều bị Dương Văn Minh bác thẳng thừng.

Trước làn sóng phản đối việc kết án tử hình Ngô Đình Cẩn ngày càng lan rộng trong giáo dân, chính quyền Dương Văn Minh - Nguyễn Khánh quyết thi hành án sớm.

Bị xử tửSửa đổi

Trưa ngày 9/5, luật sư Võ Văn Quan vào thăm Ngô Đình Cẩn lần cuối cùng. Sau này, ông Quan kể lại cho nhà báo Phan Kim Thịnh: "Sáng sớm ngày 9/5, cháu Ngô Đình Cẩn là Trần Trung Dung vào thăm. Ông Cẩn nói chuyện một cách thản nhiên, không hề biểu lộ thái độ lo lắng, sợ sệt. Người cháu gái thì ngồi cạnh giường, khóc và nguyền rủa những kẻ phản phúc nhà họ Ngô. Nhưng ông Cẩn điềm tĩnh nói: "Không có gì đáng buồn mà phải khóc lóc. Làm chính trị là phải như thế. Cậu không có gì oán thán hết".

Nhìn đồng hồ đã thấy gần 12h trưa, Ngô Đình Cẩn bảo: "Luật sư đưa cho tôi cái danh thiếp của ông". Ông Quan ngạc nhiên không hiểu lúc này Ngô Đình Cẩn còn muốn có danh thiếp của mình để làm gì. Nhưng chiều ý, ông vẫn lấy danh thiếp đưa cho Ngô Đình Cẩn.

 
Bút tích của Ngô Đình Cẩn

Ông Cẩn lấy bút viết vào phía sau danh thiếp: "Xin hết lòng đa tạ" và viết tên Ngô Đình Cẩn. Đưa lại danh thiếp cho luật sư, Ngô Đình Cẩn dịu giọng nói: "Tôi xin gửi lại chút này để cám ơn luật sư đã hết lòng biện hộ cho tôi". Luật sư Quan bối rối: "Thật sự tôi có giúp được gì cho ông đâu, họ vẫn xử tối đa". Ông Cẩn khẽ lắc đầu, gượng cười: "Vấn đề không phải ở đó. Viết mấy chữ này, tôi muốn tỏ lòng tri ân đối với người luật sư không từng quen biết, nhưng đã tận tình và can đảm nói lên giữa phiên tòa những gì tôi muốn nói".

Ngô Đình Cẩn bị kết án tử hình ngày 22 tháng 4 và đem ra bắn lúc 18 giờ 20 phút ngày 9 tháng 5 năm 1964. Ông được chôn tại nghĩa trang sân bay Tân Sơn Nhất, về sau quy tụ về nghĩa trang Lái Thiêu (tỉnh Bình Dương), nằm chung với hai anh Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và mẹ Phạm Thị Thân.

Năm 1989, tướng Trần Văn Đôn có viết cuốn hồi ký "Việt Nam nhân chứng", và khi nói về cái chết của Ngô Đình Cẩn, ông ta viết như sau: "Vài tháng sau ngày chỉnh lý, tướng Nguyễn Khánh có phái đại tá Lâm Văn Phát thông qua bà Trần Trung Dung và nhờ chuyển lời nói với ông Cẩn rằng, hãy chuyển số tiền 6 triệu USD mà ông Cẩn có trong một ngân hàng Thụy Sĩ cho tướng Nguyễn Khánh. Đổi lại tướng Khánh sẽ cho một chiếc phi cơ đưa ông Cẩn đi Singapore. Bà Trần Trung Dung yêu cầu đừng ghi âm khi bà ấy vào khám hỏi ông Cẩn. Sau khi nghe bà Dung trình bày, Ngô Đình Cẩn không chịu giao số tiền đó cho ông Khánh, rồi hỏi bà Dung có cần lấy thì ông giao cho. Lúc đó bà Dung sợ liên lụy nên không dám nhận. Mấy ngày sau, nhân dịp một vị linh mục vào làm lễ cho ông Cẩn, ông đã ký giấy ủy quyền cho nhà dòng Cứu Thế số tiền đó. Giấy ủy quyền được để trong một cuốn kinh Thánh...".

Nhận địnhSửa đổi

Nhận xét về khả năng của Ngô Đình Cẩn, Phạm Xuân Ẩn đã nói:

Tuy nhiên, chính sách khắc nghiệt của Ngô Đình Cẩn cũng bị lên án dữ dội và trong dân gian xuất hiện một bài "Vịnh Chuồng cọp" nhằm mỉa mai Ngô Đình Cẩn như sau:[26]

Kìa xem chú cọp vẻ vang thay
Sảnh rộng thềm cao ngự bấy nay
Một kiếp tàn hung hùm xám đó
Muôn dân ghê rợn ác ôn này
Chầu hầu bao kẻ khôn gần mặt
Thăm viếng nào ai dám bắt tay
Mưa gió lầm than đâu đấy mặc
Phòng riêng mộng ấm, tháng năm chày

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă Jacobs 2006, tr. 18–19
  2. ^ a ă Tucker 2000, tr. 288–293
  3. ^ Phan Bùi Bảo Thy (19 tháng 1 năm 2013). “Những chuyện ít biết về "bạo chúa miền Trung" Ngô Đình Cẩn”. An ninh thế giới. Công an Nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2020. 
  4. ^ Tucker 2000, tr. 292.
  5. ^ a ă â Hammer 1987, tr. 114
  6. ^ Tucker 2000, tr. 326.
  7. ^ Jacobs 2006, tr. 21.
  8. ^ Karnow 1997, tr. 210.
  9. ^ Buttinger 1967, tr. 1253.
  10. ^ Tucker 2000, tr. 142.
  11. ^ a ă Jacobs 2006, tr. 22–25
  12. ^ a ă Miller, Edward (tháng 10 năm 2004). “Vision, Power and Agency:The Ascent of Ngo Dinh Diem”. Journal of Southeast Asian Studies (Singapore: Cambridge University Press) 35 (3): 433–58. doi:10.1017/S0022463404000220. 
  13. ^ Karnow 1997, tr. 239
  14. ^ Jacobs 2006, tr. 95
  15. ^ a ă Miller 2004, tr. 207
  16. ^ Miller 2004, tr. 208
  17. ^ a ă â b Buttinger 1967, tr. 954–55
  18. ^ Scigliano 1964, tr. 58
  19. ^ Tucker 2000, tr. 59.
  20. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên encyc
  21. ^ a ă Karnow 1997, tr. 246
  22. ^ Langguth 2000, tr. 99
  23. ^ a ă Buttinger 1967, tr. 1149–50
  24. ^ a ă â b c d Huế - những tháng ngày sục sôi - Kỳ 6: Số phận Ngô Đình Cẩn, Nguyễn Đắc Xuân, Báo Tuổi Trẻ ngày 10/01/2012
  25. ^ Ông tướng tình báo bí ẩn và những điệp vụ siêu hạng (kỳ 5): "Biết địch, biết ta", Báo Thanh niên
  26. ^ Những tội ác tày trời của "bạo chúa miền Trung" Ngô Đình Cẩn, Phan Bùi Bảo Thy, Báo Công An Nhân dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An, 09/02/2013

Tham khảoSửa đổi

  • Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War. Santa Barbara, California: ABC-CLIO. ISBN 0195135253. 
  • Buttinger, Joseph (1967). Vietnam: A Dragon Embattled. New York City: Praeger Publishers. 
  • Hammer, Ellen J. (1987). A Death in November: America in Vietnam, 1963. New York City: E. P. Dutton. ISBN 0-525-24210-4. 
  • Jacobs, Seth (2006). Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America's War in Vietnam, 1950–1963. Lanham, Maryland: Rowman & Littlefield. ISBN 0-7425-4447-8. 
  • Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK prolonged the Vietnam War. New York City: Oxford University Press. ISBN 0-19-505286-2. 
  • Karnow, Stanley (1997). Vietnam: A History. New York City: Penguin Books. ISBN 0-670-84218-4. 
  • Langguth, A. J. (2000). Our Vietnam: the war, 1954–1975. New York City: Simon & Schuster. ISBN 0-684-81202-9. 
  • McAllister, James (2008). “'Only Religions Count in Vietnam': Thich Tri Quang and the Vietnam War”. Modern Asian Studies 42 (4): 751–782. doi:10.1017/s0026749x07002855. 
  • Miller, Edward (2004). Grand Designs, Vision, Power and Nation Building in America's Alliance with Ngo Dinh Diem, 1954–1960. UMI. 
  • Prochnau, William (1995). Once upon a Distant War. New York City: Times Books. ISBN 0-8129-2633-1. 
  • Scigliano, Robert (1964). South Vietnam: Nation Under Stress. Boston, Massachusetts: Houghton Mifflin. 
  • Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social and Military History. Santa Barbara, California: ABC-CLIO. ISBN 1-57607-040-9.