Nguyễn Thị Rịa

Người khai khẩn vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu, Việt Nam

Nguyễn Thị Rịa (1665 – 1759)[Ghi chú 1] hay Bà Rịa, Tiên nữ Nương Nương,[1] tên riêng là Rịa, mang họ Chúa Nguyễn, tước Hàm Nghè,[Ghi chú 2] là một người Việt Đàng Trong thời Chúa Nguyễn. Bà được biết đến là một nhân vật kiên định, nhân từ, giản dị, từ trẻ đã cùng nhóm người thời Nguyễn vào Nam lập nghiệp, góp phần đóng góp công cuộc khai phá, lập ấp xứ Đàng Trong; tạo nên cộng đồng người dân ở vùng đất mới, lãnh đạo người dân địa phương cùng vượt qua khó khăn để sinh sống.[2][3] Trong lịch sử Bà Rịa – Vũng Tàu, bà được người dân tưởng nhớ, thờ tụng, mang ảnh hưởng lớn, được cho rằng: tên của bà lấy để đặt cho các địa danh thành phố Bà Rịa và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.[4][5]

Nguyễn Thị Rịa
Bà Rịa
Hàm Nghè
Thông tin chung
Tên khácBà Nghè
Rịa
Tôn xưngNương nương
Hôn nhânĐộc thân
Tước hiệuHàm Nghè
Giới tínhNữ
Sinh1665
 Dinh Trấn Biên, Đàng Trong
Nay là tỉnh Phú Yên, Việt Nam
Mất1759 (93 – 94 tuổi)
 Hắc Lăng, Phước Liễu
Nay là Tam Phước, Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu, Việt Nam
Nguyên nhân mấtTuổi già
An tángTam Phước, Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu, Việt Nam
Nghề nghiệpLãnh đạo nhân dân
Người khai khẩn
Quốc gia Việt Nam
Quốc tịchNgười Đàng Trong
Dân tộcNgười Việt
Triều đạiChúa Nguyễn
Sau khi qua đời
Thần vịTiên nữ nương nương
Bà Rịa nương nương
Nguyễn Thị Rịa tiên nương
Thờ tựMộ Bà Rịa
Đền thờ Bà Rịa

Tiểu sử cuộc đờiSửa đổi

Xuất thân và di dân vào NamSửa đổi

Bà Rịa sinh năm 1665 tại dinh Trấn Biên, tỉnh Phú Yên ngày nay.[Ghi chú 3] Năm 1680, khi 16 tuổi[Ghi chú 4] thời Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1687), bà theo đoàn lưu dân đi từ dinh Trấn Biên – Phú Yên vào Nam lập nghiệp. Trước thời kỳ đó, năm 1578, Chúa Nguyễn Hoàng cử Phù Nghĩa Hầu Lương Văn Chánh đưa lưu dân, những người nghèo không sản nghiệp vào vùng đất từ Nam đèo Cù Mông đến đèo Cả khai hoang lập ấp, chính thức mở đầu sự nghiệp khai phá xứ Đàng Trong trong công cuộc Nam tiến.[6] Nơi đoàn người di dân tới là vùng đất rộng lớn, có địa hình lồi lõm phức tạp, đầm lầy lau sậy thành hệ thống lớn. Khu vực này nhiều thú dữ và không có cộng đồng sinh sống.[2]

Góp sức Đàng TrongSửa đổi

Thời kỳ đầu đặt chân đến vùng đất rừng thiêng nước độc này, bà đã tập trung vào công việc khai khẩn ở vùng Đồng Xoài, nay là xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tiếp đó mở rộng ra vùng Gò Xoài – Phước Liễu, trước đây là xã Tam An, do hai xã An NhứtTam Phước hợp nhất, tiếp tục khai hoang đến Láng Dài – Xuyên Mộc. Ban đầu bà khai phá Mô Xoài, phía Đông Bắc cách dinh Phủ 5,0 km, kế đến Mỹ Khê, gần 10.000 thước về phía Đông, nằm sát Kho Vua, Bưng Bạc. Lúc bấy giờ, Mỹ Khê là vùng đầm lầy, địa hình nhiều lau sậy phức tạp, vùng đất chưa được xây dựng làng mạc mà chỉ khai phá gần 300 mẫu ruộng vườn bởi nhóm người đi trước. Bà là một người phụ nữ bình thường, giản dị, với khả năng dẫn dắt đồng bào khai phá vùng đất mới, nỗ lực xây dựng kinh tế hậu phương, góp công, góp sức kiến tạo nên làng mạc đông đúc và trù phú nhằm phô trương sức mạnh và vị thế của Chúa Nguyễn với các nước láng giềng.[7]

Đợt khai phá thứ hai (1698 – 1700), Bà Rịa một lần nữa xung phong hướng dẫn đoàn người khai phá tiếp phần đất trống Mỹ Khê trên 300 mẫu ruộng, chạy dài về Đông Nam hơn 10.000 thước, khoảng hai đợt gần 1.500 mẫu ruộng vườn. Bà có công khai khẩn, tự lực tự cường, tăng phần lương thực nuôi quân.[7]

Năm Mậu Dần (1694), Bà Rịa đã huy động dân chúng sửa chữa cầu cống, đường sá bị hư hỏng nặng do bão lũ, hỗ trợ đoàn quân của Thống suất, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vượt qua Phước Liễu, góp phần hoàn thành nhiệm vụ kinh lược đất, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên – Đồng Nai. Năm 1698, Gia Định được Nguyễn Hữu Cảnh thành lập, tiền đề của Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Bà Rịa được Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1752) phong tước Hàm Nghè[8] và sắc phong cho mang họ nhà Chúa, từ đó bà có tên là Nguyễn Thị Rịa.[9]

Bà Rịa có cuộc đời trải qua năm đời Chúa, gồm Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1620 – 1687), Nghĩa Vương Nguyễn Phúc Thái (1650 – 1691), Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1675 – 1725), Ninh Vương Nguyễn Phúc Chú (1697 – 1738), Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1714 – 1765); mất năm 1759 thời Vũ Vương tại Hắc Lăng, Phước Liễu hưởng thọ 94 tuổi. Bà Rịa không có chồng, con cái, từng sở hữu 300 mẫu ruộng sau quá trình khai khẩn; khi qua đời, ruộng được sung vào công điền chia cho người nghèo.[9]

Tưởng nhớ và ảnh hưởngSửa đổi

Mộ Bà RịaSửa đổi

Sau khi Bà Rịa mất, người dân địa phương tưởng nhớ tới bà. Nhằm ghi khắc công lao, vùng địa phương đã lập khu mộ thờ cúng và tôn vinh. Để tới mộ Bà Rịa, đi từ Quốc lộ 55 qua khỏi Trung tâm hành chính – chính trị huyện Long Điền khoảng 2,0 km, rẽ phải vào Tỉnh lộ 44B đi thêm khoảng 2,0 km, đến nơi có mộ Bà Rịa. Khu mộ nằm sát bên đường đối diện với Ủy ban Nhân dân xã Tam Phước, huyện Long Điền.[10] Cổng của khu mộ được sơn màu vàng, với mái ngói đỏ tươi. Trên cổng có tấm bảng màu nâu với hàng chữ vàng nhạt: Mộ Bà Rịa. Bên trong khuôn viên khu mộ rộng lớn là những hàng trúc, tre đằng ngà, bồ đề cùng nhiều cây cổ thụ lớn. Nằm giữa khu mộ là ngôi nhà hình lục giác có bia tưởng niệm bằng đá granit đen ghi công lao Bà Rịa được đặt trên mình con rùa bằng đá granit xám.[10] Trong khuôn viên di tích, nhân dân địa phương đã xây nên tập hợp các bức tượng diễn tả cảnh sinh hoạt của người dân Bà Rịa xưa. Mỗi bức tượng đều phản ánh sinh động một phần việc làm của người dân trong cuộc sống thường nhật. Sự thanh bình, dạt dào ấm cúng của người dân suốt quá trình khai khẩn vùng đất, khi Bà Rịa và nhóm ngư dân đặt bước chân đầu tiên đến vùng này.[10]

Nhóm tượng điêu khắc với những người đàn ông, phụ nữ đang chặt cây, bắc cầu, chèo thuyền vượt sóng, thể hiện cho công cuộc khai phá, mở rộng đất đai của người dân thời xa xưa. Bên phải là khu mộ Bà Rịa, bên ngoài được xây bao phủ bức tường thành bằng đá ong mài, ngang 7,0 m, dài 8,2 m, tường dày 0,5 m, cao 1,0 m, bốn góc gắn bốn chiếc đèn trang trí hình tròn. Nằm thấp bên trong vòng thành là ngôi mộ Bà Rịa được xây theo bậc tam cấp. Bốn góc mộ có bốn trụ xi măng, được đặt hình bông sen.[1] Ngôi mộ chính được sơn màu xanh da trời nổi bật lên giữa vòng thành đá ong màu nâu thẫm. Đền thờ làm nơi hương khói, với tên gọi bà là Nguyễn Thị Rịa Tiên nữ Nương Nương trong câu đối:[11]

Bà Rịa anh linh di vạn cổ,
Nương nương hiển hách chứng thiên kim.

Phần bia mộ của bà khắc dòng chữ Nguyễn Thị Rịa tiên nương. Năm 1902, Trường Viễn đông bác cổ Đông Dương (École française d'Extrême-Orient, EFEO) xây lại mộ Bà Rịa.[12] Vào năm 1936 dưới thời tổng An Phú Thượng, tỉnh Bà Rịa và năm 1972 dưới thời tỉnh Phước Tuy, chính quyền sở tại hai lần cho trùng tu lại khu mộ của Nguyễn Thị Rịa. Ngôi mộ được người dân địa phương, doanh nghiệp, doanh nhân trong tỉnh góp sức ủng hộ, bảo tồn. Vào năm 2010, Ủy ban Nhân dân huyện Long Điền lập điện thờ, sửa sang, cử người trông coi và hương khói mộ của bà ở xã Tam Phước, huyện Long Điền.[13] Giỗ bà Nguyễn Thị Rịa được người dân quanh vùng tổ chức vào ngày 16 tháng 06 Âm lịch hàng năm, lễ cúng lúc 12 giờ. Kỳ giỗ này đã trở thành phong tục mà nhân dân địa phương tiến hành thường niên, tưởng nhớ công ơn người phụ nữ có công khai hoang mở đất, lập làng năm xưa.[14]

Ảnh hưởngSửa đổi

Bà Nguyễn Thị Rịa có nhiều ảnh hưởng tới tên gọi địa phương. Sau khi bà mất, cây cầu nối Tam Phước – An Nhất, nơi Bà Rịa khai hoang 300 mẫu ruộng được mang tên là cầu Bà Nghè.[Ghi chú 5] Đến năm 1865, thực dân Pháp chia toàn cõi Nam Kỳ thành 13 sở tham biện. Phủ Phước Tuy của nhà Nguyễn bấy giờ được mang tên là sở tham biện Bà Rịa. Ngày 05 tháng 01 năm 1876, thực dân Pháp chia ba tỉnh Biên Hoà, phủ Phước Tuy chính thức mang tên là tỉnh Bà Rịa.[4] Hiệp hội nghiên cứu Đông Dương (Societé dus Études Indochinoises) xuất bản cuốn Địa chí Bà Rịa căn cứ sự lưu truyền của dân gian, giải thích nguồn gốc địa danh Bà Rịa là để tưởng nhớ bà Nguyễn Thị Rịa.[15] Ngày 12 tháng 08 năm 1991, tại kỳ họp của Quốc hội Việt Nam khóa XIII, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thành lập tỉnh dựa trên ghép tên Bà Rịa.[16] Từ năm 2012, tên Bà Rịa được đặt cho thành phố trung tâm hành chính – chính trị, tỉnh lỵ của tỉnh là thành phố Bà Rịa.

Một số vấn đềSửa đổi

Cách gọi khác vùng Bà RịaSửa đổi

Năm 1998, tại Tam An (Tam PhướcAn Nhứt ngày nay), huyện ủy Long Điền tổ chức hội thảo bàn về vấn đề trùng tu mộ Bà Rịa, đồng thời thống nhất một số nội dung lịch sử.[17] Những vấn đề chưa được đồng thuận được nêu ra trong hội thảo này.

Vấn đề về Gia Định Thành thống chí: Gia Định Thành thống chí của Trịnh Hoài Đức bên cạnh ca ngợi bà Nguyễn Thị Rịa cũng viện dẫn tài liệu Trung Quốc đưa ra một số giả thiết để cắt nghĩa địa danh Bà Rịa và xếp loại đây là một địa danh chưa rõ ràng bởi có nhiều cách giải thích khác nhau. Các tác giả dựa vào thư tịch cổ Trung Quốc, cụ thể là Tân Đường thư, có viết: “Bà Ly ở ngay phía Đông Nam Chiêm Thành từ Giao Châu đi ghe theo biển, trải qua các nước Xích Thố, Đan Đan rồi đến đại địa châu Đà Mã (cũng gọi là Mã Lễ, quốc tục xỏ tai, đeo hoa, lấy một bức vải quấn ngang lưng) phía nam nước ấy có Thủ Nại, sau niên hiệu Vĩnh Huy đời Đường (651 – 655) bị Chân Lạp thôn tính”.[18] Căn cứ Tân Đường thư, Trịnh Hoài Đức viết: Bà Rịa là ở đầu biên giới trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng, cho nên các phủ phía Bắc có câu ngạn (ngữ) rằng “Cơm – Nai – Nịa, Cá Rí – Rang”.[19]

Trịnh Hoài Đức là người Minh Hương, tuân thủ đặc điểm ngữ âm tiếng Hán nên ông cắt nghĩa: Tra theo chánh văn thì chữ Lợi âm là lục địa, thiết âm là lịa, vậy nghi chữ Bà Rịa tức là nước Bà Lợi thuở xưa. Một số học giả theo hướng giải thích địa danh Bà Rịa bắt nguồn từ vương quốc Bà Lợi, Bà Ly, Bà Lịa hoặc cho rằng Bà Rịa vẫn là tên đất (Bàn Ray, Bàn Rey) do biến âm trở thành Bà Rịa.[17] Các nghiên cứu này cho rằng tên vùng Bà Rịa có thể không xuất phát từ bà Nguyễn Thị Rịa.[20]

Khẳng định Bà RịaSửa đổi

Nguyên tắc ảnh hưởng: địa danh Bà Rịa được cấu tạo theo phương thức chuyển hóa từ nhân danh Nguyễn Thị Rịa – một người phụ nữ quê gốc Phú Yên có công to lớn khai khẩn vùng đất này từ lâu đã trở thành nguyên tắc phổ biến được biết đến bởi nhân dân vùng miền.[21] Dùng nhân danh chuyển hóa thành địa danh là phương thức cấu tạo địa danh quen thuộc của địa danh học. Các nhà nghiên cứu người Pháp đồng tình theo hướng này.[15]

Bên cạnh đó, có một số ghi chép thể hiện sự khác biệt trong tiểu sử về cuộc đời của bà Nguyễn Thị Rịa. Sách Địa chí Bà Rịa năm 1902 có một chi tiết chưa chính xác. Tài liệu này nói rằng Bà Rịa vào Nam khai khẩn đất hoang lập làng Phước Liễu năm 1789 và mất năm Gia Long thứ hai (1803). Về vấn đề này, sách Địa bạ Bà Rịa – Vũng Tàu khẳng định:[22]

Trong danh mục "Các họ đạo của xứ Đồng Nai từ năm 1747 có ghi rõ Bà Rịa có 140 giáo dân và Đất Đỏ có 350 người theo đạo Công giáo".[23] Như vậy vùng đất có địa danh Bà Rịa đã có từ trước đó rất lâu. Địa danh Bà Rịa được chuyển hóa từ nhân danh Nguyễn Thị Rịa. Quan điểm này được soi sáng và có căn cứ vững chắc dưới nhiều phương pháp tiếp cận khoa học về lịch sử, dân tộc học, ngôn ngữ học, văn hóa dân gian. Về mặt lịch sử, từ dinh Trấn Biên (Phú Yên), theo tiếng gọi của các chúa Nguyễn, có nhiều đoàn di dân được Nhà nước tổ chức khai khẩn vùng đất biên cảnh ở Mô Xoài (Bà Rịa ngày nay) trong thế kỷ XVII, trong đó có bà Nguyễn Thị Rịa.

Về mặt dân tộc học, có tài liệu của Trung Quốc như Hán thư, Đường thư chỉ đề cập đến quận Nhật NamNhà Hán đã từng tạm chiếm. Biên giới quận Nhật Nam là Lăng già Bát Bạt Đa (phiên âm địa danh Chăm Linga Pravta – Linga đại sơn thần) – tức núi Đá Bia. Ngoài ngọn núi này là Nhật Nam ngoại khiếu.[Ghi chú 6] Tân Đường thư đề cập đến Vương quốc Bà Ly không đủ tin cậy.[15]

Về mặt ngôn ngữ học, không có phương thức biến thể ngữ âm[Ghi chú 7] từ Bà Lợi, Bà Ly, Bà Lịa thành Bà Rịa hoặc từ Bà Ray – Bàn Rey thành Bà Rịa.[24]

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Có một số nguồn thông tin, nghiên cứu đề ra thống kê, phân tích khác nhau về năm trong cuộc đời của Bà Rịa. Tuy nhiên, cột mốc 1665 – 1759 được xem là phổ biến nhất trong người dân địa phương, được các tổ chức, cơ quan địa phương công báo.
  2. ^ Tước Hàm Nghè thường được ban cho quan chức làm việc trong các Điện. Trong Thời Nguyễn, tước hiệu này ban cho những người có công lao.
  3. ^ Có nguồn thông tin cho rằng Nguyễn Thị Rịa có quê ở Bình Định. Tuy nhiên, đa số nghiên cứu khảo sát khẳng định bà sinh ra ở Phú Yên.
  4. ^ Theo Âm lịch lúc này là 16 tuổi tính thêm tuổi mụ, là 15 tuổi theo Dương lịch.
  5. ^ Tên gọi cầu Bà Nghè dựa trên Hàm Nghè, tước vị Bà Rịa được ban tặng.
  6. ^ Nhật Nam ngoại khiếu: ngoài cõi của Nhật Nam.
  7. ^ Biến thể ngữ âm được dân gian gọi là đọc trại.

Tham khảo sách và trực tuyếnSửa đổi

  1. ^ a b Nguyễn Nam (ngày 31 tháng 12 năm 2014). “Chuyện về địa danh "Bà Rịa"… Bài 2: Hình thành địa danh Bà Rịa”. Báo Du lịch. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  2. ^ a b Trịnh Hoài Đức, trang 35 – 36.
  3. ^ Sơn Khê (ngày 10 tháng 4 năm 2020). “Bà Rịa – Người có công khai hoang mở đất, lập làng”. Báo Bà Rịa Vũng Tàu. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  4. ^ a b “Lịch sử hình thành Bà Rịa Vũng Tàu”. Cổng thông tin điện tử tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  5. ^ Hồ Sơn Diệp, Lê Thị Vi. “Bàn thêm nguồn gốc địa danh Bà Rịa”. Bảo tàng Bà Rịa Vũng Tàu. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  6. ^ Xuân Triệu (ngày 3 tháng 3 năm 2017). “Dâng hương tưởng niệm Thành Hoàng Lương Văn Chánh – người có công khai khẩn vùng đất Phú Yên”. Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  7. ^ a b Nguyễn Nam (ngày 24 tháng 12 năm 2014). “Chuyện về địa danh "Bà Rịa"… Kỳ 1: Truyền thuyết”. Báo Du lịch. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  8. ^ Từ điển Chức quan, trang 435.
  9. ^ a b “Mộ Bà Rịa”. Huyện Long Điền. ngày 14 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  10. ^ a b c Xem video tìm hiểu về Bà Rịa, người có công khai hoang lập ấp vùng đất Bà Rịa Vũng Tàu của phóng viên Đài Phát thanh – Truyền hình Đồng Tháp, tại kênh chính thức Đài truyền hình, đã lưu trữ.
  11. ^ “Mộ Bà Rịa”. Du lịch Bà Rịa. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  12. ^ Monographie de Bà Rịa, trang 61.
  13. ^ Võ Hiền (ngày 20 tháng 10 năm 2015). “Mộ Bà Rịa – Vũng Tàu xưa và nay”. Phương Nam Plus. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  14. ^ “Bàn về truyền thuyết địa danh Bà Rịa”. Thành phố Bà Rịa. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  15. ^ a b c Nguyễn Thanh Bình (ngày 13 tháng 8 năm 2008). “Nguyễn Thị Rịa – Người khai phá xứ Đàng Trong thế kỷ XVII”. Báo Phú Yên. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  16. ^ Điều 6, Nghị quyết Quốc hội khóa VIII ngày 12 tháng 01 năm 1991.
  17. ^ a b Nguyễn Đình Thống. “Truyền thuyết Bà Rịa và địa danh Bà Rịa”. Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học, Xã hội và Nhân văn. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  18. ^ Nguyễn Đình Thống (ngày 12 tháng 4 năm 2020). “Tìm hiểu thêm về nguồn gốc địa danh Bà Rịa”. Báo Bà Rịa Vũng Tàu. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  19. ^ Trịnh Hoài Đức, trang 27.
  20. ^ Nguyễn Đình Thống. “TRUYỀN THUYẾT BÀ RỊA VÀ ĐỊA DANH BÀ RỊA” (PDF). Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  21. ^ Trần Minh Thương. “Giai thoại về Bà Rịa trong dòng chảy những giai thoại giải thích địa danh ở Nam Bộ”. Bảo tàng Bà Rịa Vũng Tàu. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
  22. ^ Nguyễn Đình Đầu, trang 131.
  23. ^ Đại Nam nhất thống chí, tập V, trang 60.
  24. ^ Trần Mạnh Tiến. “Địa danh Mô Xoài và địa danh Bà Rịa”. Bảo tàng Bà Rịa Vũng Tàu. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.

Thư mụcSửa đổi

  • Đại Nam Nhất thống chí, Quốc sử quán Triều Nguyễn. Nhà xuất bản Thuận Hóa, năm 1992.
  • Đỗ Văn Ninh (2002). Từ điển Chức quan Việt Nam. Nhà xuất bản Thanh niên, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Sử học Việt Nam.
  • Monographie de Bà Rịa, Publ de la SEI, Sài Gòn, 1902.
  • Nguyễn Đình Đầu (2000). Địa bạ Triều Nguyễn, mục Bà Rịa – Vũng Tàu. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Nguyễn Đình Thống (1996). Địa danh Bà Rịa. Tạp chí Xưa và Nay, “Thần và Đất” công trình nghiên cứu của tiến sĩ Đinh Văn Hạnh.
  • Thạch Phong, Nguyễn Trọng Minh (2005). Địa chí Bà Rịa Vũng Tàu. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Sở Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
  • Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí, tập thượng, quyển I và II. Nhà văn hóa phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn 1972.
  • Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo ký Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12 tháng 08 năm 1991 về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Liên kết ngoàiSửa đổi