Mở trình đơn chính

Nguyễn Xí

Là một vị tướng, nhà chính trị, công thần khai quốc nhà Lê sơ và là đại thần trải qua 4 đời vua thời Lê sơ

Nguyễn Xí (chữ Hán: 阮熾; 1397-1465[1]) hay Lê Xí, là một vị tướng, nhà chính trị, công thần khai quốc nhà Hậu Lê và là đại thần trải qua 4 đời vua thời Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam.

Nguyễn Xí
阮熾
Annamese general Nguyễn Xí.jpg
Hữu Tướng quốc
Tại vị1460 - 1463
Tiền nhiệmKhai quốc Công thần
Nhiếp chínhNhập nội Kiểm hiệu Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự Á quận hầu
Kế nhiệmĐinh Liệt
Thái sư Cương quốc công
Tại vị14651466
Thông tin chung
Thê thiếpLê Thị Ngọc Lan
Ngô Thị Hoa
Trịnh Thị Hà
Hậu duệ
Tước hiệu
Thân phụNguyễn Hội
Sinh1397
Mất1465

Mục lục

Tiểu sử

Ông nội Nguyễn Xí là Nguyễn Hợp, cha là Nguyễn Hội. Nguyễn Hợp dời nhà đến sống tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Tại đây Nguyễn Hợp đã cùng Nguyễn Hội khai dân lập ấp, mở mang nghề làm muối. Nguyễn Hội sinh hai con trai: Nguyễn Biện và Nguyễn Xí. Cha con Nguyễn Hội và Nguyễn Biện thường chở muối ra bán ở vùng Lương Giang, huyện Thiệu Hoá - Thanh Hoá, do đó rất thân quen với Lê Lợi khi đó là phụ đạo ở Lam Sơn.

Năm lên 9 tuổi (1405), Nguyễn Xí đến gặp Lê Lợi lần đầu. Cùng năm ấy cha ông bị hổ vồ chết tại quê nhà Thượng Xá, ông theo anh đến làm người nhà Lê Lợi. Lớn lên, Nguyễn Xí vũ dũng hơn người, được Lê Lợi yêu như con.

Lê Lợi sai ông nuôi hơn 100 con chó săn, ông dùng tiếng nhạc làm hiệu lệnh, bầy chó nghe theo, lúc đến, lúc đi đều nhau như một. Lê Lợi khen ngợi, cho là có tài làm tướng, cho sai quản đội quân Thiết Đột.[2]

 
Đền thờ Nguyễn Xí tại xã Nghi Hợp.

Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn

Đại phá Vương Thông ở Tốt Động

Năm 1418, mùa xuân, tháng Giêng, ngày Canh Thân, Lê Lợi xưng Bình Định vương phát động khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Xí và anh trai Nguyễn Biện cùng tham gia, lúc đó ông 22 tuổi

Ngày 16, tháng Giêng, tên phản bội Ái, dẫn quân Minh đi theo đường tắt, đánh úp đằng sau, bắt gia thuộc Lê Lợi và nhiều vợ con quân dân. Quân sĩ chán nản bỏ đi, chi có Lê Xí cùng Lê Lễ, Lê Náo, Lê Bí, Lê Đạp theo Lê Lợi nương náu trên núi Chí Linh.

Tháng 8 năm 1426, sau khi làm chủ từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.

 
Đền thờ Nguyễn Xí

Lê Triện tiến đến gần Đông Quan gặp Trần Trí kéo ra, liền đánh bại Trí. Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan (Thăng Long, Hà Nội).

Phạm Văn Xảo phá tan viện binh Vân Nam. Quân Vân Nam chạy về cố thủ ở thành Xương Giang. Vua Minh lại sai Vương Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện. Thông hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lê Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Nguyễn Xí.

Nguyễn Xí cùng Đinh Lễ đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động. Nguyễn Xí bắt được thám tử của Vương Thông, ông biết Thông định chia dường, hẹn nhau khi pháo nổ thì quân mặt trước mặt sau cùng đánh úp Lê Triện. Ông và Đinh Lễ bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai phục Tốt Động, rồi đốt pháo giả làm hiệu cho quân Minh tiến vào. Quân Vương Thông thua to, Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.

Vượt ngục Đông Quan

Lê Lợi được tin thắng trận liền tiến đại quân ra bắc, vây thành Đông Quan. Nguyễn Xí được lệnh cùng Đinh Lễ mang quân vây phía nam thành.

Tháng 2 năm 1427, tướng Minh là Phương Chính đánh úp Lê TriệnTừ Liêm, Triện bị tử trận. Tháng 3 Vương Thông đánh trại quân Lam Sơn ở Tây Phù Liệt. Nguyễn Xí cùng Đinh Lễ mang 500 quân thiết đột tiếp viện, đánh đuổi quân Minh đến My Động. Hậu quân Lam Sơn không theo kịp, Vương Thông bèn quay lại đánh, hai tướng cưỡi voi bị sa xuống đầm lầy, bị quân Minh bắt mang về thành. Đinh Lễ không chịu hàng bị giết, còn Nguyễn Xí nhân một đêm mưa gió dùng mưu lừa quân gác ngục trốn thoát trở về. Lê Lợi thấy ông về thì mừng rỡ, nói rằng: "Thực là sống lại"[3].

Sau đó ông lại cầm quân tham gia trận chiến Xương Giang tiếp ứng cho Lê Sát bắt được Hoàng Phúc, Thôi Tụ là đạo viện binh sót lại sau khi Liễu Thăng bị chém. Đó là trận thắng lợi kết thúc khởi nghĩa Lam Sơn.

Công thần 4 đời vua

 
Một họa phẩm được in trong cuốn An Nam lai uy đồ sách: Người bên trái là Long Hổ Tướng quân Nguyễn Xí.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, tức Lê Thái Tổ. Nguyễn Xí được phong chức Long hổ tướng quân Suy trung bảo chính công thần.

Năm 1429, khi khắc biển công thần, Nguyễn Xí được xếp hàng thứ 5, được phong làm Huyện hầu.

Năm 1433, hoàng đế Lê Thái Tổ mất. Thái tử Lê Nguyên Long lên ngôi, tức hoàng đế Lê Thái Tông. Năm 1437, Thái Tông phong ông làm chức quan Chính sự kiêm Tri từ tụng.

Năm 1442, hoàng đế Lê Thái Tông mất ở tuổi 20, ông cùng Trịnh Khả, Lê Thụ nhận di chiếu phò hoàng đế Lê Nhân Tông.

Năm 1445, vua Nhân Tông còn nhỏ, thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính, ông làm Nhập nội Đô đốc, nhận lệnh cùng Lê Thận mang quân đi đánh Chiêm Thành, nhưng chưa đi thì bị quyền thần tố cáo tội lỗi nên bị bãi chức. Năm 1448 Nguyễn Xí được phục hồi chức Thiếu bảo tri quân dân sự.[4]

Tháng 10 năm 1459, anh khác mẹ Nhân Tông là Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân làm binh biến giết thái hậu Nguyễn Thị Anh và hoàng đế Nhân Tông. Nghi Dân lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Thiên Hưng. Các đại thần Đỗ Bí, Lê Thụ, Lê Ngang mưu lật đổ vua Thiên Hưng bị bại lộ đều bị giết. Thái bảo Nguyễn Xí bàn mưu với Lê Lăng (con Lê Triện), Lê Niệm (cháu nội Lê Lai) đảo chính lần nữa nhằm lật đổ Nghi Dân.

Ngày 6 tháng Sáu âm lịch năm 1460, Nguyễn Xí phát động binh biến, chém bầy tôi thân cận của Nghi Dân là Phạm Đồn, Phan Ban ở Nghị sự đường, nắm lấy cấm binh, đóng chặt cửa thành, sai Lê Ninh Thuận bắt vây cánh và phế vua Thiên Hưng làm Lệ Đức hầu, rước con út của Thái Tông là Tư Thành lên ngôi, tức là hoàng đế Lê Thánh Tông, mở ra một thời kỳ thịnh trị kéo dài 38 năm.[5]

Tháng 6 năm 1460, Nguyễn Xí được phong làm Khai phủ nghi đồng tam ty, Nhập nội kiểm hiệu thái phó Bình chương quân quốc trọng sự Á quận hầu, giúp việc chính sự. Tháng 10 năm đó ông được phong làm Sái quận công.

Năm 1462, con Nguyễn Xí là Nguyễn Sư Hồi không hợp cánh với một số đại thần nên làm thơ vứt ra đường để vu cho họ làm loạn nhưng việc bị phát giác. Vua Thánh Tông nể công lao của ông nên không trị tội Sư Hồi.[6] Năm đó ông được phong chức Nhập nội hữu tướng quốc. Năm 1463 lại được phong chức Thái úy.

Năm 1465, Nguyễn Xí qua đời, thọ 69 tuổi, được truy tặng làm Thái sư, thụy là Nghĩa Vũ.

 
Đền thờ Nguyễn Xí

Hết tang, năm 1467, vua Lê Thánh Tông lại cho dựng đền thờ theo chế độ quốc tạo, quốc tế và lệnh cho Trạng nguyên Nguyễn Trung Trực viết văn bia phong thần là: "Thượng đẳng phúc thần, Hiển uy chính nghị anh kiệt Trung trinh đại vương".

Năm Hồng Đức thứ 15 (1484), tặng làm Cương quốc công, Sau ban sắc phong thần "Thượng đẳng phúc thần, Hiển uy chính nghị anh kiệt trung trinh Đại vương", dựng đền ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.[7]

Năm 1485 Lê Thánh Tông truy phong cho cha Nguyễn Xí làm Thái bảo Đình Quận công Nguyễn Hội và anh trai Phiêu kỵ Thượng tướng quân, Thái phó Nguyễn Biện.

Theo Đại Việt thông sử, ông có 16 người con trai và 8 người con gái. Con cháu Nguyễn Xí về sau theo giúp nhà Lê trung hưng.[8]

Nhận định

 
Đền thờ Nguyễn Xí

Hậu thế ghi công

Ngày 30 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại Đền thờ Nguyễn Xí, thuộc xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (là một ngôi đền cổ, quy mô, có giá trị kiến trúc, được xây dựng cách ngày nay 546 năm, di sản cấp quốc gia), tổ chức Lễ hội Đền Nguyễn Xí.[1] Tại Cố đô Huế, Nguyễn Xí được các vua Nhà Nguyễn truy phong làm "Hiển uy Chính nghị Anh kiệt Trung trinh Đại vương".

 
Đền thờ Nguyễn Xí

Tên ông được đặt cho một phố ở Hà Nội, phố Nguyễn Xí nối từ phố Đinh Lễ tới phố Tràng Tiền (thời Pháp thuộc là phố Boa-xi-e, rue Boissière). Tên ông cũng được đặt cho một con đường ở phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí là thủy tổ của dòng họ Nguyễn Đình. Dòng họ Nguyễn Đình có tổng cộng 15 chi lớn, nhà thờ chính của họ Nguyễn Đình chính là Đền thờ Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí ở xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An. Đến nay, dòng họ Nguyễn Đình đã phát triển rộng khắp trên địa bàn cả nước, cả ở nước ngoài, nhưng tập trung nhất là ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Họ Nguyễn Đình là một trong những dòng họ vinh hiển trong chế độ phong kiến Việt Nam, đặc biệt thịnh đạt trong lĩnh vực võ nghiệp.

"Hổ tinh" và cái chết oan của cha danh tướng Nguyễn Xí

Nguyễn Xí là đại danh tướng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Nhưng ở đây, chúng tôi xin ghi lại câu chuyện dân gian về cha ông - Nguyễn Hội. Ông cũng là người đã cùng các tướng lĩnh phò tá, đưa Lê Tư Thành lên ngôi Hoàng đế (Lê Thánh Tông) mở ra một giai đoạn phát triển cực thịnh của nhà nước phong kiến Việt Nam dưới triều Lê.

 
Phần mộ Nguyễn Hội và Nguyễn Xí.

Chuyện kể rằng: Ông nội của Nguyễn Xí tên là Nguyễn Hợp, làm nghề nấu muối tại làng Cương Giản, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Vợ chồng ông có hai người con: Con trai cả là Nguyễn Khai và con trai thứ là Nguyễn Hội. Vào khoảng thế kỷ 14, để anh con trai cả ở lại quê cha đất tổ, cụ Hợp đưa vợ chồng con trái thứ là Nguyễn Hội (vợ là Vũ Thị Hạch) đến làng Hải Tân, xã Thượng Xá (nay là xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An) mở thêm 1 lò nấu muối để mở mang nghề nghiệp.

Tại vùng quê mới, vợ chồng ông Nguyễn Hội - Vũ Thị Hạch cũng sinh hạ được 2 người con trai là Nguyễn Biện (1394) và Nguyễn Xí (1397). Tương truyền, thủa đó nghề nấu muối của vợ chồng ông rất phát đạt. Muối của ông Hội bán khắp mọi nơi, lên đến vùng thượng du của tỉnh Thanh Hóa. Nhờ hàng ngày mang sản phẩm của mình đi bán khắp nơi nên ông Nguyễn Hội đã kết tình thân giao với cụ Lê Khoáng (cụ thân sinh ra vua Lê Thái Tổ) ở Lam Sơn, huyện Lương Sơn (nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa), một hào trưởng của địa phương, có tới hàng nghìn nông nô.

Theo truyền thuyết còn lưu giữ tại địa phương thì làng Thượng Xá hồi cuối thế kỷ 14 còn là một vùng đất rất hoang vu, ruộng đất canh tác còn rất ít ỏi, dân cư thưa thớt. Ông Nguyễn Hội vừa làm nghề nấu muối vừa canh giữ chùa Kim Tự, còn gọi là chùa Vàng (một ngôi chùa cổ tại làng Thượng Xá). Thường ngày, tầm canh tư, ông Nguyễn Hội thức dậy đi vào chùa điểm chuông chùa. Tiếng chuông chùa Kim Tự, trở thành tiếng chuông báo thức cho bàn dân trong vùng tỉnh giấc chuẩn bị cho một ngày làm việc mới.

Một đêm nọ, ông Hội nằm mộng thấy một người phụ nữ quỳ gối trước mặt mình và cầu xin rằng: "Sáng ngày mai, xin ngài gia ân, đừng điểm chuông chùa! Nếu ngài vẫn điểm chuông thì mẹ con nhà thiếp sẽ bị họ giết oan!". Ông Nguyễn Hội sực tỉnh thì hóa ra đó là một giấc chiêm bao. Thế nhưng giấc mộng kỳ lạ ấy đã làm ông thao thức mãi không ngủ được. Mờ sáng hôm đó ông quyết định không vào chùa điểm chuông thì ông gặp ngay sự cố: Mới mở mắt ông hàng thịt ở cạnh nhà chạy sang trách: "Ông làm tôi lỡ việc rồi! Sáng nay, không nghe tiếng chuông chùa nên tôi không dậy làm thịt lợn để đưa ra chợ bán được. Khốn khổ là con lợn tôi mua về thả trong chuồng chiều qua, sáng nay bỗng sinh ra một đàn lợn con. Không tin ông sang mà xem!".

Ông Nguyễn Hội lật đật sang nhà anh hàng thịt thì quả đúng con lợn nái trong chuồng đã sinh ra một đàn lợn con thật. Hai người bỗng phát hiện ra một chú lợn con trông lạ hoắc: Vừa giống lợn, vừa giống hổ. Ông hàng thịt phát hoảng liền nói với vợ đem giết nó đi. Ông Nguyễn Hội đã một mực xin tha mạng cho nó và bảo ông hàng thịt nuôi nó thêm một thời gian rồi để cho ông mang nó về nhà nuôi. Sau khi con vật rời mẹ, về nhà ông Nguyễn Hội, được chăm sóc chu đáo nên nó lớn nhanh như thổi. Chỉ một thời gian sau nó trở thành một con hổ thực sự vạm vỡ.

Hàng ngày ông Hội dắt nó bên mình và dạy cho hổ cách canh đó (dụng cụ đánh bắt tôm, cá) và canh lò nấu muối mỗi khi ông đi vắng. Vào ngày 23 tháng 3 năm Ất Dậu (1405), trong một lần ông được bạn mời sang dự đám tiệc ở làng bên. Trước khi ra đi, ông Hội dắt hổ ra nơi ông đang đặt đó đơm tôm cá, rồi vỗ vào lưng hổ và âu yếm dặn: "Con ở nhà canh đó và lò muối cẩn thận cho ta nhé!". Bữa tiệc hôm ấy kéo dài đến tận khuya mới tàn, khi trở về làng trong tình trạng rượu đã ngà ngà say, ông nảy ra ý định ra thử kiểm tra xem chú hổ mà ông yêu quý có vâng lời mình hay không.

Đêm đó trời tối, trời vần vũ chuyển mưa, khi ông đang lầm lũi vào nơi đặt đó thì con hổ đang canh chừng ở đó phát hiện ra. Tưởng có kẻ gian đang ăn trộm cá của chủ mình, hổ liền lao thẳng vào vồ khiến ông Hội chết ngay tại chỗ. Sau khi vồ chết người, con hổ mới nhận ra đó là ông chủ của mình. Nó liền vác cụ lên lưng cõng vào khu Đồng Lầm, thuộc làng Mượu Nậy (nay là xóm 3, xã Nghi Hợp) rồi bới đất để an táng cho chủ.

Sáng hôm sau, không thấy ông Hội trở về, cũng chẳng thấy con hổ đâu. Bà Hạch cùng gia nhân và bà con làng xóm bủa đi tìm thì tìm thấy xác cụ đã được hổ chôn lấp một các sơ sài ngay tại Đồng Lầm. Con hổ nằm canh giữ bên cạnh mộ. Dân làng và vợ con ông Hội vào đưa xác ông về chôn thì con hổ nhe răng và gầm gừ nhất quyết không cho mang xác chủ đi… Gia đình tìm cách đưa thi hài cụ đến nơi khác an táng, nhưng ban đêm hổ lại mang xác cụ về vùi lấp ở chỗ cũ. Thế là gia đình đành phải để nguyên ông lại đó. Điều kỳ lạ là nơi ông Hội được hổ vùi, đất cứ nổi dần lên thành một nấm mộ lớn. Sau khi ông Hội chết được 100 ngày thì con hổ bỏ đi vào núi Riềng, thuộc xã Nghi Thiết ngày nay.

Thương chồng, buồn phiền, bà Võ Thị Hạch lâm bệnh nặng rồi đột ngột qua đời sau đó 45 ngày để lại 2 người con trai côi cút: Nguyễn Biện lúc đó mới 11 tuổi, Nguyễn Xí mới 8 tuổi. Ông Nguyễn Hợp tuổi đã già, thương con, đưa 2 cháu nội là Nguyễn Biện và Nguyễn Xí ra trại Lam Sơn nhờ Hào trưởng Lê Khoáng cưu mang rồi quay trở về quê cũ…

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ a ă “Đền Nguyễn Xí khai hội”. 
  2. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhà xuất bản giáo dục, 2006.
  3. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 179
  4. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản Kỷ, quyển X, Khoa học Xã hội - Hà Nội, năm 1993.
  5. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr. 180.
  6. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr. 181.
  7. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006.
  8. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr. 185.
  9. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhà xuất bản giáo dục, 2006.

Tham khảo