Mở trình đơn chính

Ninh Giang là một huyện nằm ở phía nam tỉnh Hải Dương.

Ninh Giang

Huyện
Thi tran ninh giang.jpg
Thị trấn Ninh Giang xưa
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Hồng
TỉnhHải Dương
Huyện lỵthị trấn Ninh Giang
Phân chia hành chính1 thị trấn, 19 xã
Thành lập1996: tái lập
Địa lý
Tọa độ: 20°43′0″B 106°24′0″Đ / 20,71667°B 106,4°Đ / 20.71667; 106.40000Tọa độ: 20°43′0″B 106°24′0″Đ / 20,71667°B 106,4°Đ / 20.71667; 106.40000
Diện tích135,4 km2
Dân số (2018)
Tổng cộng190.077 người
Khác
Websiteninhgiang.haiduong.gov.vn

Địa lýSửa đổi

Vị trí địa lýSửa đổi

Ninh Giang là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương, nằm bên bờ sông Luộc và tiếp giáp với các tỉnh lân cận là Thái Bình, Hải Phòng. Ninh Giang nằm ở đỉnh phía đông nam tỉnh Hải Dương, vị trí ở khoảng 20°43’B,106°24’Đ, có vị trí địa lý:

Ninh Giang cách biển 25 km Thời tiết khí hậu tương tự khí hậu ở Hải PhòngThái Bình.

Dân cưSửa đổi

Thời Pháp thuộc dân số phủ lỵ Ninh Giang có khoảng 7.000 người, gốc gác từ nhiều vùng: Hải Phòng, Bắc Thái,Thái Bình,Hà Nội xong gốc Hà Nam là chủ yếu. Người Hoa cũng đến lập nghiệp ở đây có khoảng 100 hộ Hoa Kiều. Người Hoa thường lập thành hang bang riêng của họ.

Năm 1996 dân số thị trấn Ninh Giang là 8.071 người, dân số huyện Ninh Giang là 146.780 người, có diện tích 135,4 km².

Hành chínhSửa đổi

Huyện Ninh Giang có 20 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm thị trấn Ninh Giang (huyện lỵ) và 19 xã: An Đức, Đồng Tâm, Đông Xuyên, Hiệp Lực, Hồng Đức, Hồng Phong, Hồng Phúc, Hồng Thái, Hưng Long, Kiến Quốc, Nghĩa An, Ninh Hải, Tân Hương, Tân Phong, Tân Quang, Ứng Hòe, Văn Hội, Vạn Phúc, Vĩnh Hòa.

Lịch sửSửa đổi

Vùng đất Ninh Giang xưa đã được nhắc đến trong một số bộ sử. Mỗi thời kỳ với những tên gọi khác nhau, được nhắc tới nhiều nhất là Hồng Châu, Hạ Hồng, Vĩnh Lại.

Năm 40, Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Nhà Hán cử Mã Viện sang đàn áp. Tại vùng Hạ Hồng đã xảy ra cuộc giao tranh giữa 2 bên. Phá vây ở Hạ Hồng, Hai Bà Trưng chạy về Thạch Bàn. Đô Lượng, 1 tướng giỏi của Hai Bà Trưng có cứ quân đóng ở Hiệp Lực (Ngã ba sông Hóa).

Vào thế kỷ thứ X, ở làng Cúc Bồ (nay là xã Kiến Quốc), Khúc Thừa Dụ đã chiêu binh mã nổi dậy chống quân đô hộ phương Bắc.

Vùng đất huyện Ninh Giang ngày nay từ triều Trần về trước thuộc huyện Đồng Lợi.

Mùa xuân năm 1418, Lê Lợi dấy binh ở Thanh Hóa chống quân Minh. Sau đó, năm 1419, tại châu Hạ Hồng, Trịnh Công ChứngLê Hành dấy quân đánh Tống binh Lý Bân của nhà Minh ở vùng Bắc.

Đời vua Lê Thái Tổ, đổi huyện Đồng Lợi thành Đồng Lại.

Đời Quang Thuận (1460 - 1669), huyện Đồng Lại đổi thành huyện Vĩnh Lại, đặt phủ Hạ Hồng và quản 4 huyện: Trường Tân (tức Gia Lộc ngày nay), Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại (tức huyện Ninh Giang và huyện Vĩnh Bảo ngày nay).

Đầu thế kỳ thứ XVI, nhà Lê bước vào thời suy vong Mạc Đăng Dung soán ngôi nhà Lê, trong nước diễn ra nhiều cuộc chiến một bên là Chúa Trịnh (dưới danh nghĩa Phù Lê) và một bên là Mạc. Đây là thờ kỳ nội chiến kéo dài, chiến tranh xảy ra liên miên. Ninh Giang nằm trong vùng chiến trường ác liệt.

Năm 1594, phủ Hạ Hồng có nhiều quân cát cứ chống Trịnh Tùng. Tháng 7 năm ấy Mạc Kính Chương chiếm huyện Thanh Hà và Tứ Kỳ, còn huyện Vĩnh Lại có Lai Quận Công. Những năm ấy xứ Hải Dương mất mùa to, chết đói rất nhiều.

Năm 1595, Trịnh Tùng cử Trịnh Văn Chương về trấn giữ huyện Vĩnh Lại.

Năm 1598 Nguyễn Hoàng lại được cử về xứ Hải Dương dẹp quân chống đối.

Đến năm Cảnh Hưng thứ hai (1741), đổi phủ Hạ Hồng thành đạo Hạ Hồng.

Dưới triều Nguyễn năm Gia Long thứ nhất (1802) gọi là phủ Hạ Hồng.

Lỵ sở Ninh Giang trước đóng ở Gia Lộc (có thuyết nói rằng ở xã Kinh Kiều), năm Gia Long thứ 7 (1808) dời về xã Quý Cao (huyện Tứ Kỳ), đến năm Gia Long thứ 10 (1811) phủ lỵ dời về xã Phù Cựu (thuộc huyện Vĩnh Lại).

Vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi thành phủ Ninh Giang. Lúc ấy, Ninh Giang quản 4 huyện: Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại. Phủ Ninh Giang ngày xưa có thành đất bao quanh. Thành dài 171 trượng (684m) cao 6 thước 2 tấc. 4 mặt thành có hào, 3 cửa ra xã Tranh Xuyên.

Đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830), lỵ sở Ninh Giang dời về tổng Bất Bế (tức Ninh Giang ngày nay).

Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), cắt 5 tổng của Huyện Tứ Kỳ, 3 tổng của huyện Vĩnh Lại để lập ra huyện Vĩnh Bảo. Tên Vĩnh Lại duy trì đến năm 1919.

Năm Tự Đức thứ 4, phủ Ninh Giang quản 4 huyện: Vĩnh Lại, Vĩnh Bảo, Gia Lộc và Tứ Kỳ.

Vào đời Tự Đức (1858), Pháp tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của Pháp vào Việt Nam. Tại Hải Dương nhiều huyện như Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Gia Lộc, thành Hải Dương bị giặc chiếm đóng, triều đình phải huy động quân từ nhiều tỉnh, kể cả Thanh Hóa và Nghệ An, có lúc số quân huy động lên tới 15.000 quân cùng nhiều thuyền tàu và đại bác dẹp giặc.

Năm Thành Thái thứ 9 (1897), Pháp đặt sở đại lý ở Ninh Giang.

Năm 1919, Pháp bỏ cấp phủ - cấp hành chính trung gian - phủ chỉ là tên gọi cho những huyện lớn và quan trọng, không quản các huyện nữa. Vì vậy, sau năm 1919 tên gọi huyện Ninh Giang thay cho tên gọi huyện Vĩnh Lại.

Trong thời kỳ Pháp tạm chiếm, vào năm 1951, Ninh Giang là quận và thuộc tỉnh Vĩnh Ninh. Tỉnh Vĩnh Ninh gồm các quận: Ninh Giang, Hà An, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng và Phụ Dực.

Sau năm 1954, huyện Ninh Giang trở thành thị xã Ninh Giang thuộc tỉnh Hải Dương.

Tháng 9 năm 1959, thị xã Ninh Giang hạ cấp trở lại thành huyện Ninh Giang. Từ đó, huyện có thị trấn Ninh Giang (huyện lỵ) và 27 xã: An Đức, Đồng Tâm, Đông Xuyên, Hiệp Lực, Hoàng Hanh, Hồng Dụ, Hồng Đức, Hồng Phong, Hồng Phúc, Hồng Thái, Hưng Long, Hưng Thái, Kiến Quốc, Nghĩa An, Ninh Hải, Ninh Hòa, Ninh Thành, Quang Hưng, Quyết Thắng, Tân Hương, Tân Phong, Tân Quang, Ứng Hòe, Văn Giang, Văn Hội, Vạn Phúc, Vĩnh Hòa.

Năm 1968, tỉnh Hải Dương sáp nhập với tỉnh Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, huyện Ninh giang thuộc tỉnh Hải Hưng.

Ngày 1 tháng 4 năm 1979, huyện Ninh Giang sáp nhập với huyện Thanh Miện thành huyện Ninh Thanh.

Đến đầu năm 1996, huyện Ninh Thanh lại được tách ra thành 2 huyện như cũ.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2019-2021; theo đó, sáp nhập xã Hồng Dụ vào xã Hồng Thái, sáp nhập xã Ninh Thành vào xã Tân Hương, sáp nhập xã Hưng Thái vào xã Hưng Long, sáp nhập xã Văn Giang vào xã Văn Hội, sáp nhập các xã Ninh Hòa và Quyết Thắng vào xã Ứng Hòe, sáp nhập các xã Hoàng Hanh và Quang Hưng vào xã Tân Quang.

Sau khi sắp xếp, huyện Ninh Giang có 1 thị trấn và 19 xã như hiện nay.

Danh nhânSửa đổi

Du lịchSửa đổi

Không nổi tiếng về du lịch nhưng Ninh Giang cũng có một vài đền chùa mang đậm dấu ấn lịch sử như: Đền quan tuần Tranh (hay còn gọi là đền Tranh) là một trong những ngôi đền lớn và nổi tiếng ở Ninh Giang, Chùa Chông, Đình Làng Xuyên Hử,... Đình Làng Xuyên Hử là nơi thờ Vị Thành Hoàng của Làng, trong kháng chiến chống Pháp người dân địa phương đã che giấu cán bộ cách mạng tại đây... người dân còn tháo dỡ Đình Làng lấy vật liệu làm cầu Đồng Bình phục vụ kháng chiến. Tháng 3 năm 2006 được sự đồng ý của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương đình làng Xuyên Hử đã được tái tạo lại.

Địa phận xã Tân Phong thuộc huyện Ninh Giang trước đây có rất nhiều các di tích đình, chùa, miếu mạo. Đặc biệt đình Chuông với những cây cột gỗ lim hai người ôm và những phiến đá xanh lát hè nặng hàng chục tấn, Chùa Chuông với rất nhiều tượng phật... Hiện nay đình chùa đã bị phá hết (trong cải cách văn hoá), thời gian gần đây, người dân đã phục dựng lại chùa Chuông ở một vị trí khác nhưng các tượng thì đã không còn (đã bị thiêu hủy trong cải cách văn hoá). Năm 2005 chính quyền địa phương đã tổ chức khai quật tại nơi chôn những pho tượng phật của chùa Chuông cũ và thu giữ được rất nhiều di vật cổ gồm vài chục ngôi tương gỗ không còn nguyên vẹn nhưng những đường nét điêu khắc trên tượng của người xưa được xem là rất tinh tế và đẹp thì vẫn còn gần như nguyên vẹn. Hiện số tượng phật này vẫn được cất giữ tại chùa Chuông mới.

Đình La Khê thuộc Xã Ninh Thành Huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương. khi xưa gọi là Làng Vào thuộc xã La Khê (社 欏 溪) Tổng Đông Bối (總 東 貝) phủ Ninh Giang (府 寧 江) tỉnh Hải Dương (省 海 陽)
Tương truyền Đình La Khê được nhân dân xây dựng từ rất sớm ở khu đất cao ở giữa làng, thờ Tượng Vị Tướng Quân HỒ ĐẠI LIỆU. Đình đã được tu sửa nhiều lần. Đến năm Duy Tân thứ 8 (1914) ngôi Đình được trùng tu và mở rộng.Kiến trúc kiểu chữ đinh (丁) Gồm 5 gian Tiền tế và 3 gian Hậu cung. Đình còn giữ nguyên các hoa văn, phù điêu mang nét văn hoá thời Nguyễn và các hiện vật như: Ngai thờ, Mũ đồng, Khám chỉ, Bát biểu, Xà mâu v.v.và 3 pho tượng: Tượng Vị Tướng Quân Hồ Đại Liệu Phò Bà Trưng, Giữ chức: Điện Tiền đô chỉ huy Sứ Tướng Quân .Tượng Mẫu Hậu Huệ Nương (Mẹ của Tướng Quân Hồ Đại Liệu). thờ Tượng Ngài Hà Quý Công -tự Bút Hoa Đỗ Thám hoa đời Trần. Đình La Khê suy tôn Vị Tướng Quân Hồ Đại Liệu Là Thành hoàng làng Có nhiều sắc phong Qua¸các Triều Đại Hiện Được Lưu giũ tại Sở văn Hoá Tỉnh Hải Dương và Viện thông tin khoa học xã hội i: (TT – TS FQ 4018 I X,44 F2). Không những vậy Đình La Khê trong 9 năm kháng chiến chống Pháp cũng là nơi sơ tán của Trường Đại học Bắc Sơn được đón Tôn Đức Thắng về thăm và nói chuyện và cũng là trụ sở hội họp của Mặt trận cứu Quốc Huỵện Ninh Giang. Năm 1949 Đình La Khê là Bệnh viện dã chiến của Quân khu Tả Ngạn. Năm 1952 Pháp càn quét đốt phá phần Hậu cung hỏng hoàn toàn. Tượng, đồ thờ đã được nhân dân cất giữ tại chùa làng .Năm gian tiền tế không được trùng tu đã mai một xuống cấp theo thời gian. Đến tháng 10 – 1997 đình đã được tu tạo lại khang trang.

ĐỀN KHÚC THỪA DỤ Công trình có tổng diện tích hơn 57.000m2, gồm 5 hạng mục chính, được khởi công xây dựng năm 2005, với tổng vốn đầu tư 38.3 tỷ đồng. ba loại vật liệu quý để làm đền thờ là đá xanh, gỗ lim và đồng.

Đền thờ Anh hùng Dân tộc Khúc Thừa Dụ nằm giáp đê sông Luộc, mặt đền quay theo hướng Nam. Từ ngoài vào trong đền qua chiếc cầu đá, đến sân hội, với hai bức phù điêu ghép bằng các tảng đá lớn. Các họa tiết được chạm khắc công phu, mô tả quang cảnh nhân dân tụ nghĩa theo Tiên Chúa Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ và cuộc sống thái bình, an cư lạc nghiệp.

Giao thôngSửa đổi

Theo đường bộ, huyện Ninh Giang cách thành phố Hải Dương 29 km, Hà Nội 87 km.

Về đường bộ tiếp giáp và có các con đường chạy qua 37A, 37B, 217.

  • Đi thành phố Hải Dương và huyện Vĩnh Bảo bằng đường 37A
  • Đi Quý Cao và Hải Phòng bằng đường 37B
  • Đi Quỳnh Phụ (Thái Bình) bằng đường 217
  • Đi Hưng Yên bằng tuyến sông Luộc.

Tham khảoSửa đổi