Park Bom

Nữ ca sĩ, cựu thành viên của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc 2NE1
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Park.

Park Bom (Hangul박봄; Hanja朴春; Hán-Việt: Phác Xuân; sinh ngày 24 tháng 3 năm 1984), thường được biết đến với nghệ danh Bom, là một nữ ca sĩ người Hàn Quốc. Cô được biết đến với tư cách là thành viên của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc 2NE1.

Park Bom
Bom Park spring showcase 2.png
Bom vào tháng 3 năm 2019
Tên bản ngữ박봄
SinhPark Bom
24 tháng 3, 1984 (36 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc
Nghề nghiệpCa sĩ
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụThanh nhạc
Năm hoạt động2006–nay
Hãng đĩa
  • YG
  • D-Nation
Hợp tác với
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữBak Bom
McCune–ReischauerPak Pom
Chữ ký
Signature Bom.png

Bom bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của mình vào năm 2006, với nhiều lần hợp tác với đồng nghiệp cùng công ty như Big Bang, Lexy và Masta Wu. Năm 2009, cô ra mắt với tư cách là thành viên của 2NE1 với vai trò là giọng ca chính. Nhóm sau đó trở thành một trong những nhóm nhạc nữ nổi tiếng nhất và bán chạy nhất của Hàn Quốc mọi thời đại.[1][2] Bom đã phát hành 2 bài hát solo, "You and I" và "Don't Cry", đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon, bảng xếp hạng âm nhạc quốc gia của Hàn Quốc.[3] Cô đã được trao giải Bài hát kỹ thuật số xuất sắc nhất tại Mnet Asian Music Awards vào năm 2010.

Tiểu sửSửa đổi

Park Bom được sinh ra tại Seoul, Hàn Quốc vào ngày 24 tháng 3 năm 1984.[4] Chị gái của cô, Park Go-eun, là một nghệ sĩ cello.[5] Vào năm lớp 6, cô rời Hàn Quốc để học tập tại Hoa Kỳ. Sau khi hoàn thành cấp phổ thông ở Maine, cô theo học chuyên ngành tâm lý học tại trường đại học Lesley. Khi còn là học sinh phổ thông, cô có niềm đam mê âm nhạc vì thần tượng Mariah Carey. Cô muốn trở thành ca sĩ nhưng không được sự cho phép từ bố mẹ. Tuy nhiên, dưới sự động viên từ người cô của mình, cô đã bí mật chuyển đến trường cao đẳng âm nhạc Berklee để theo đuổi ước mơ âm nhạc. Khi theo học tại trường trung học cơ sở ở Hoa Kỳ, cô được chẩn đoán mắc chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD).[6]

Sự nghiệpSửa đổi

2006–2013: Khởi nghiệp và đột pháSửa đổi

Bom đã trở lại Hàn Quốc để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc và nhiều lần thử giọng để gia nhập YG Entertainment, nơi cô được nhận vào công ty sau 3 năm thử giọng, theo lời của cựu giám đốc điều hành YG Entertainment và nhà sản xuất thu âm Yang Hyun-suk.[7] Trong thời gian còn là thực tập sinh tại YG Entertainment, Bom đã được chẩn đoán mắc bệnh viêm hạch bạch huyết và phải chịu đựng căn bệnh viêm hạch kể từ đó.[8][9] Năm 2006, cô góp giọng trong 2 bài hát đầu tay của Big Bang, "We Belong Together" và "Forever with U".[10][11] Bom cũng hợp tác với Lexy cho bài hát "Baby Boy" từ mini album thứ ba Rush và Red Roc cho bài hát "Along My Way". Cô cũng xuất hiện trong quảng cáo cho dòng điện thoại di động Samsung Anycall với video âm nhạc cùng tên, cùng với Lee Hyori, G-DragonGummy.

 
Bom tại Mnet Asian Music Awards vào năm 2010

Vào năm 2009, Bom ra mắt với tư cách là thành viên của 2NE1 với vai trò là giọng ca chính, cùng với CL, DaraMinzy. Sau đó, nhóm hợp tác với Big Bang cho bài hát "Lollipop" trước khi chính thức ra mắt trên chương trình âm nhạc The Music Trend của SBS vào ngày 17 tháng 5 năm 2009, nơi nhóm biểu diễn "Fire". Nhóm đã đạt được thành công đáng kể với bài hát "I Don't Care" từ mini album đầu tay 2NE1, mang về cho nhóm giải Bài hát của năm tại Mnet Asian Music Awards vào năm 2009, khiến nhóm trở thành nhóm nhạc tân binh đầu tiên giành giải Daesang trong cùng năm ra mắt. Vào tháng 8 năm 2009, sau khi kết thúc hoạt động quảng bá cho bài hát đầu tay, các thành viên đã nghỉ ngơi để tập trung vào các hoạt động cá nhân. Cô đã phát hành bài hát solo đầu tiên của mình mang tên "You and I", đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon vào tháng 11.[cần dẫn nguồn] Bài hát cuối cùng đã giành được giải Bài hát kỹ thuật số xuất sắc nhất tại Mnet Asian Music Awards vào năm 2010. Vào cuối năm 2011, "You and I" đạt 4,483,364 lượt tải xuống và trở thành một trong những bài hát bán chạy nhất trong lịch sử âm nhạc Hàn Quốc.[cần dẫn nguồn]

Cuối năm 2010, Bom góp giọng trong bài hát "Oh Yeah" của GD & TOP, xuất hiện trong cả 2 phiên bản tiếng Hàn và tiếng Nhật của bài hát cũng như video âm nhạc tiếng Nhật. Bài hát đạt vị trí số 2 trên bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon khi phát hành.[12] Vào ngày 21 tháng 4 năm 2011, cô phát hành bài hát solo thứ hai, "Don't Cry". Bài hát đã thành công và đạt được "perfect all-kill" trên Instiz, đạt vị trí quán quân trên 7 bảng xếp hạng âm nhạc Hàn Quốc.[13] Cùng năm, Bom góp giọng trong bài hát "Having an Affair", do G-Dragon và diễn viên hài Park Myeong-su thể hiện trong một dự án đôi mang tên GG cho Infinite Challenge Music Festival. G-Dragon đã khen ngợi cô, nói rằng "Trong bất kì bài hát nào có giọng hát của cô ấy cất lên, đó là một bản hit. Giọng cô ấy rất hay."[14] Bài hát này cũng là một bản hit khác và là bài hát được tải xuống nhiều thứ hai trong năm 2011.[15] Năm 2013, Bom thành lập một nhóm nhỏ với nữ ca sĩ cùng công ty Lee Hi, được biết đến với cái tên Bom & Hi. Bộ đôi đã phát hành bản cover bài hát "All I Want for Christmas Is You" của Mariah Carey vào ngày 17 tháng 12.[16] Cùng năm, cô góp giọng trong phiên bản tiếng Nhật của bài hát "Black" của G-Dragon.[17]

2014–2017: Gián đoạn sự nghiệpSửa đổi

Vào năm 2014, có thông tin cho rằng Bom đã bị điều tra vì buôn lậu chất cấm (80 viên thuốc chứa amphetamin) thông qua đường bưu điện quốc tế trong quá khứ.[18][19] Một bưu phẩm do thành viên gia đình cư trú tại Hoa Kỳ gửi cho Bom, cư trú tại Hàn Quốc, đã bị chặn lại tại bộ phận hải quan của sân bay quốc tế Incheon. Bom đã bị điều tra nhưng không bị buộc tội.[19] Được biết, Bom vốn lớn lên ở Hoa Kỳ và cô không hề biết rằng thuốc an thần amphetamin được dùng để điều trị một số bệnh về rối loạn tâm lý ở Hoa Kỳ nhưng bị cấm lưu hành ở Hàn Quốc. Trong một thông báo được đưa ra bởi Yang Hyun-suk của YG Entertainment, ông đã lên tiếng bác bỏ những cáo buộc về sự đãi ngộ. Ông giải thích rằng loại thuốc này là bất hợp pháp ở Hàn Quốc nhưng hợp pháp ở Hoa Kỳ. Cô không thể sang Hoa Kỳ du lịch trong thời gian đó do lịch trình bận rộn. Bom đã liên hệ với bác sĩ của cô ở Hoa Kỳ để được kê đơn thuốc. Yang Hyun-suk giải thích thêm rằng Bom đã tìm kiếm sự chăm sóc y tế từ các bác sĩ ở Hàn Quốc và đã trải qua liệu pháp điều trị nhưng không hiệu quả bằng cách điều trị của cô ở Hoa Kỳ. Vào năm 2010, tại thời điểm điều tra, cô đã cung cấp hồ sơ y tế của mình từ bệnh viện ở Hoa Kỳ cho công tố viên để xác nhận các chẩn đoán cũng như kế hoạch điều trị đang diễn ra của cô.[20] Cùng năm đó, Bom tham gia chương trình Roommate của SBS, một chương trình thực tế về 11 người nổi tiếng sống cùng nhau trong một ngôi nhà chung. Cô rút khỏi chương trình ngay sau vụ bê bối và tạm ngừng mọi hoạt động trong làng giải trí.[21]

Vào ngày 2 tháng 12 năm 2015, Bom lần đầu xuất hiện sau một thời gian dài, biểu diễn cùng 2NE1 tại Mnet Asian Music Awards vào năm 2015.[22][23] Vào ngày 25 tháng 11 năm 2016, YG Entertainment thông báo về sự tan rã của 2NE1 sau 7 năm hoạt động. Công ty cũng tiết lộ rằng thành viên CLDara đã ký hợp đồng solo, ám chỉ việc Bom sẽ rời công ty.[24] Tuy nhiên, Bom đã tham gia vào bài hát cuối cùng của 2NE1 mang tên "Goodbye", được phát hành vào ngày 21 tháng 1 năm 2017. Vào ngày 30 tháng 4 năm 2017, cô thông báo trên phương tiện truyền thông xã hội rằng cô hiện thuộc công ty con của YG Entertainment, The Black Label và đang chuẩn bị phát hành một album solo.[25] Vào ngày 1 tháng 5 năm 2017, công ty đã phủ nhận thông báo đó và tuyên bố rằng Bom đã không ký bất kỳ hợp đồng mới nào với công ty hoặc bất kỳ công ty con nào của họ kể từ khi họ chấm dứt hợp đồng với cô vào tháng 11 năm 2016.[26] Cô sau đó trả lời người hâm mộ trên phương tiện truyền thông xã hội rằng cô đã ký hợp đồng và cô sẽ sớm trở lại.[27]

2018–nay: Hồi sinh sự nghiệpSửa đổi

Vào ngày 20 tháng 7 năm 2018, Bom được cho là đã ký hợp đồng độc quyền với công ty giải trí mới thành lập D-Nation Entertainment.[28] Theo kế hoạch, cô sẽ phát hành mini album đầu tay bao gồm 5 đến 6 bài hát vào tháng 11, cũng như các hoạt động quảng bá ở nước ngoài.[29] Tuy nhiên, vào ngày 2 tháng 10 năm 2018, có thông báo rằng mini album sẽ được phát hành vào khoảng tháng 1 năm 2019 và Bom sẽ mở một kênh YouTube.[30] Ngày hôm sau, có thông tin cho rằng cô sẽ xuất hiện trên màn ảnh nhỏ lần đầu tiên sau 4 năm thông qua YG Future Strategy Office, có sự tham gia của đồng nghiệp cùng công ty cũ Seungri.[31] Bom đã góp mặt trong tập 3 của bộ phim, "Music Business", được công chiếu vào ngày 5 tháng 10 năm 2018 trên Netflix.

"Spring" được công bố vào ngày 15 tháng 2 năm 2019 như bài hát chủ đề trong album đầu tay cùng tên của cô,[32] được phát hành vào ngày 13 tháng 3 năm 2019 cùng với video âm nhạc.[33] Bài hát được sản xuất bởi Brave Brothers và được mô tả là một "bài hát R&B có nhịp độ trung bình".[34] Ngoài ra, "Spring" có sự góp giọng của Dara, cựu thành viên cùng nhóm của Bom.[35] Bài hát được biểu diễn lần đầu tiên trong sự kiện ra mắt album Spring, được tổ chức cùng ngày phát hành.[36] "Spring" ra mắt ở vị trí số 2 trên bảng xếp hạng World Digital Song Sales của Billboard, trở thành bài hát K-pop bán chạy nhất và bài hát mới có thứ hạng cao nhất trong tuần đó.[37] Spring được phát hành lại dưới dạng mini album mang tên re:Blue Rose vào ngày 2 tháng 5 năm 2019.[38] Bài hát chủ đề "4:44" được sản xuất bởi Brave Brothers và có sự góp giọng của Wheein.[38] Bom đã phát hành "I Do, I Do" cho Perfume như bản nhạc phim đầu tay của cô vào ngày 1 tháng 7 năm 2019.[39] Cô đã tổ chức buổi họp mặt fan hâm mộ đầu tiên mang tên "Spring Again", vào ngày 20 tháng 7 năm 2019.[40]

Bom đã tham gia cuộc thi truyền hình thực tế Queendom của Mnet, được phát sóng lần đầu vào ngày 29 tháng 8 năm 2019.[41] Cô đã phát hành tổng cộng 3 bài hát trong suốt quá trình tham gia cuộc thi, bao gồm bản cover bài hát "Hann (Alone)" của đối thủ cạnh tranh (G)I-dle và "Eyes, Nose, Lips" của đồng nghiệp cùng công ty cũ Taeyang,[42][43] và một bài hát mới của cô mang tên "Wanna Go Back",[44] trong đó có sự góp giọng của Cheetah.[42] Bom sau đó góp giọng trong "Chanel" của MC Mong, được phát hành vào ngày 29 tháng 10 năm 2019.[45] Cô tái hợp với Dara cho bài hát "First Snow", được phát hành vào ngày 10 tháng 12 năm 2019.[46]

Vào ngày 21 tháng 12 năm 2020, Bom trở lại sau 1 năm gián đoạn với "Red Light", hợp tác với Sai Sai Kham Leng.[47]

Danh sách phimSửa đổi

Phim điện ảnhSửa đổi

Năm Tên Vai Ghi chú
2009 Girlfriends Khách tại bữa tiệc của câu lạc bộ Khách mời

Phim truyền hìnhSửa đổi

Năm Tên Ghi chú
2014 Roommate Khách mời cố định, 13 tập
2018 YG Future Strategy Office Khách mời
2019 Queendom Thí sinh

Danh sách đĩa nhạcSửa đổi

Album đĩa đơnSửa đổi

Tên Chi tiết Vị trí cao nhất Doanh số
KOR
[48]
Spring
  • Phát hành: 13 tháng 3 năm 2019
  • Tái phát hành: 2 tháng 5 năm 2019 (re:Blue Rose)
  • Hãng đĩa: D-Nation
  • Định dạng: CD, tải nhạc kỹ thuật số
2

Đĩa đơnSửa đổi

Như nghệ sĩ chínhSửa đổi

Tên Năm Vị trí cao nhất Doanh số Album
KOR Gaon
[51]
KOR Hot
[52]
NZ Hot
[53]
US World
[54]
"You and I" 2009 36 To Anyone
"Don't Cry" 2011 1 2NE1
"Spring" (봄)
(hợp tác với Dara)
2019 3 4 39 2 Spring
"4:44" (4시 44분)
(hợp tác với Wheein)
84 78 Không có re:Blue Rose
"First Snow" (첫눈)
(hợp tác với Dara)
168 19 Đĩa đơn không có trong album
"—" biểu thị các bản phát hành không có trong bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở khu vực đó.

Như nghệ sĩ hợp tácSửa đổi

Tên Năm Vị trí cao nhất Doanh số Album
KOR
[58]
"We Belong Together" (Big Bang hợp tác với Park Bom) 2006 * Không có Big Bang
"Anystar" (Lee Hyori hợp tác với Lee Joon-gi và Park Bom) Đĩa đơn không có trong album
"Forever with U" (Big Bang hợp tác với Park Bom) Big Bang 03
"Along My Way" (Red Roc hợp tác với Park Bom) 2007 Đĩa đơn không có trong album
"Baby Boy" (Lexy hợp tác với Park Bom) Rush
"Oh Yeah" (GD & TOP hợp tác với Park Bom) 2010 2 GD & TOP
"Having an Affair" (G-Dragon và Park Myeong-su hợp tác với Park Bom) 2011 1 Infinite Challenge
"Up" (Epik High hợp tác với Park Bom) 2012 6 99
"Black" (phiên bản tiếng nhật) (G-Dragon hợp tác với Park Bom) 2013 Không có Coup d'etat
"Chanel" (MC Mong hợp tác với Park Bom) 2019 6 Channel 8
"Red Light" (Sai Sai Kham Leng hợp tác với Park Bom) 2020 CTB Đĩa đơn không có trong album
"—" biểu thị các bản phát hành không có trong bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở khu vực đó.

Nhạc phimSửa đổi

Tên Năm Vị trí cao nhất Album
KOR US World
[54]
"I Do, I Do" 2019 Perfume OST, Part 8
"Break Up with Her" (그녀와의 이별) Immortal Songs: Singing the Legend (2019 Summer Special, Part 1: So Chan-whee & Kim Hyun-jung)
"Hann (Alone)" (hợp tác với Cheetah) 13 Queendom <Cover Contest>, Part 1
"Eyes, Nose, Lips" Queendom <Box of Fan-dora>, Part 2
"Wanna Go Back" (되돌릴 수 없는 돌아갈 수 없는 돌아갈 곳 없는) 18 Queendom <Final Comeback>
"—" biểu thị các bản phát hành không có trong bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở khu vực đó.

Bài hát khácSửa đổi

Tên Năm Vị trí cao nhất Doanh số Album
KOR
[51]
US World
[54]
"My Lover" 2019 125 5 Spring
"Shameful" 149 4

Giải thưởng và đề cửSửa đổi

Năm Giải thưởng Hạng mục Đề cử Kết quả Nguồn
2010
Mnet Asian Music Awards Bài hát kỹ thuật số xuất sắc nhất
"You and I"
Đoạt giải
[62]
2019
Soribada Best K-Music Awards Giải thưởng nghệ sĩ R&B Không có Đoạt giải
[63]
Mnet Asian Music Awards Bài hát của năm
"Spring"
Đề cử
[64]
Màn biểu diễn giọng hát solo xuất sắc nhất Đề cử
Lựa chọn của người hâm mộ toàn cầu Không có Đề cử
Melon Music Awards R&B/Soul xuất sắc nhất
"Spring"
Đề cử
[65]
2020
Gaon Chart Music Awards Bài hát của năm (tháng 3) Đề cử
[66]
Seoul Music Awards Giải thưởng Bonsang Không có Đề cử
[67][68]
Giải thưởng Hallyu đặc biệt Đề cử
Giải thưởng phổ biến Đề cử
Giải thưởng nghệ sĩ K-pop được yêu thích nhất của QQ Music Đề cử
Giải thưởng R&B/Hip Hop
"Spring"
Đề cử

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Ten best selling girl groups of all time”. ITV News (bằng tiếng Anh). 9 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
  2. ^ “2NE1 on Breaking Chart Records, Turning 5 (Exclusive Video Interview)”. Billboard. 27 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
  3. ^ “Park Bom number one on Gaon chart with Don't Cry”. Goan Music Chart (bằng tiếng Anh). Gaon. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
  4. ^ Park, Mi-ae (22 tháng 5 năm 2009). “[2NE1 21문21답②]박봄, "가수 꿈 위해 유학도 포기했어요~". 이데일리 (bằng tiếng Hàn). EDaily. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2019. 생년월일? 1984년 3월24일. 태어난 곳? [Date of birth? March 24, 1984. Where were you born? Seoul.]
  5. ^ Tse, Tiffany (11 tháng 6 năm 2016). “2NE1's Park Bom makes an appearance at her older sister's cello recital!”. KMusic. officiallykmusic.com. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
  6. ^ Jeong, Ha-eun (26 tháng 4 năm 2018). "마약 NO…질환 앓아 치료제 필요했다" 박봄, 해명으로 논란 불식할까”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2019.
  7. ^ http://www.joynews24.com/view/239577
  8. ^ Park, Bom. “2NE1_TV_Season 2_E02-2_2NE1's filming new MVs”. YouTube (bằng tiếng Hàn). 9:17–9:26: 2NE1. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2019. (임파선염으로 - 고생하는 박봄) 지금 임파선이요 아... 갑사기 부어가지고 여기서 많이 부으면 안 가라앉거든요Quản lý CS1: địa điểm (liên kết)
  9. ^ Park, Bom. “2NE1_TV_Season 2_E03-2 2NE1 wins No.1”. YouTube (bằng tiếng Hàn). 8:15–9:26: 2NE1. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2019. 임파선이요... 연습생 때 있었던 일인데. 열심히 연습을 밤새고 했어요. 근데 아침에 일어났는데 귀가 막 여기까지 당겨지면서, 여기까지 다 부은 거예요. 병원에 갔어요. 그런데 (병명이) 임파선 이래요. 그래서 링거를 맞으면 가라않을 줄 알았더니, 한 몇 달 둥안 안 기라 앉는 거에요. 빵빵하게... 지금 너무 걱정이에ㅔ요 피곤하고 막 그래서Quản lý CS1: địa điểm (liên kết)
  10. ^ “Big Bang – First Single”. YG Entertainment (bằng tiếng Hàn). YG Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010.
  11. ^ “Big Bang – Third Single”. YG Entertainment (bằng tiếng Hàn). YG Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010.
  12. ^ “2011년 01주차 Digital Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014.
  13. ^ Kim, Sunny (20 tháng 4 năm 2011). “Park Bom's "Don't Cry" Achieves An All-Kill!”. MTVK. Viacom Inc. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2011.
  14. ^ WeLoveBom (10 tháng 6 năm 2011). “Featuring Park Bom, GD's request? ("Bom has a good singing voice" – G-Dragon)”. welovebom.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017.
  15. ^ “Gaon reveals Top 100 Digital Single chart for 2011 - allkpop.com”. allkpop.com. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017.
  16. ^ “Park Bom and Lee Hi form a new unit”. asiatoday.co.kr. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017.
  17. ^ “Ygladies.com”.
  18. ^ “[단독] 걸그룹 '2NE1' 박봄 마약 밀수 '봐주기'. NAVER. World Times. 30 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2016.
  19. ^ a ă Song, Myung - Hoon (1 tháng 7 năm 2014). “박봄 '마약밀수 혐의' 입건유예…뒤늦게 논란”. KBS. Korean Broadcasting System. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2016.
  20. ^ “양현석 해명 "박봄, 하루 아침에 마약 밀수자가…" [전문]”. SBS CNBC. NBC Universal. 1 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2016.
  21. ^ “2NE1 Park Bom's Career Drowns with Drug Scandal; Cover-up by the Media to Divert Attention from Sewol Ferry Tragedy?”. Venture Capital Post. 15 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2016.
  22. ^ “2NE1's Surprise Reunion: K-Pop Group Reforms at Awards Show”. Fuse. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2016.
  23. ^ “2NE1 Make Surprise Comeback Live at 2015 Mnet Asian Music Awards”. PopCrush. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2016.
  24. ^ “YG "2NE1, 7년만 공식 해체…박봄 재계약 NO"(공식입장 전문)”. naver.com. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017.
  25. ^ “Park Bom hints at comeback with YG again”. IB Times. 29 tháng 4 năm 2017.
  26. ^ “Former 2NE1 member Park Bom NO contract with YG Entertainment's sub-label”. ASZ News. tháng 5 năm 2017.
  27. ^ “Is Park Bom planning to release a solo album under YG Entertainment?”. ASZ News. 28 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017.
  28. ^ “[단독] 박봄, '디네이션'과 손잡고 가수인생 2막 연다…하반기 앨범 발매”. Naver. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2018.
  29. ^ “[연예뉴스 HOT5] 박봄, 신생 기획사 디네이션과 계약”. Naver. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2018.
  30. ^ “박봄, 유튜브 채널·솔로 컴백 준비… 재기 성공할까” (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018.
  31. ^ “[단독] 박봄, 시트콤 'YG전자' 특별출연…넷플릭스 "촬영 마쳤다" (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018.
  32. ^ “[단독] 산다라박, 박봄 3월 컴백곡 피처링…2NE1 의리”. entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2019.
  33. ^ “박봄, 3월 13일 컴백 확정…홀로서기 후 첫 신보 [공식입장]”. www.xportsnews.com (bằng tiếng Hàn). 27 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.
  34. ^ “[단독] 용감한형제 "박봄 새 앨범 프로듀싱, 역대급 작품 나왔다" (인터뷰)”. www.xportsnews.com (bằng tiếng Hàn). 15 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2019.
  35. ^ “YG 측 "산다라박, 박봄 신곡 피처링 참여 맞다"(공식입장)”. entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.
  36. ^ “박봄 "산다라박, 러브콜에 흔쾌히 피처링 참여..의리녀다". entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2019.
  37. ^ Benjamin, Jeff (21 tháng 5 năm 2019). “Park Bom Takes Over Top 5 of World Digital Song Sales Chart With Long-Awaited Comeback”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2019.
  38. ^ a ă Herman, Tamar (2 tháng 5 năm 2019). “Park Bom Teams Up with Mamamoo's Wheein for Soulful '4:44': Watch”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2019.
  39. ^ “박봄, '퍼퓸'으로 생애 첫 OST 참여…'I Do I Do' 공개 - 스타투데이”. mk.co.kr (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2019.
  40. ^ 기자, 이종선 (21 tháng 6 năm 2019). '다시 봄' 박봄은 다음 달 20일 오후...”. 인사이트코리아 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2019.
  41. ^ 박, 소영 (30 tháng 8 năm 2019). “첫방 '퀸덤' 박봄, 투애니원 지우고 국보급 솔로로..후배들 기립박수 [핫TV]”. OSEN. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2019.
  42. ^ a ă Queendom <Cover Contest> Pt. 1 - Single by MAMAMOO, AOA & Park Bom (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2019
  43. ^ Queendom <Box of Pandora>, Pt. 2 - Single by OH MY GIRL, Lovelyz & Park Bom (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2019
  44. ^ Queendom <FINAL Comeback> - EP by Various Artists (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2019
  45. ^ “2NE1 출신의 가수 박봄이 피처링을 '샤넬'. 당진신문 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2019.
  46. ^ “[공식] 박봄X산다라박, 10일 새 듀엣곡 '첫눈' 전격 발매..끈끈한 의리”. entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2019.
  47. ^ “Sai Sai Kham Leng collaborates with K-Pop star Park Bom”. The Myanmar Times. 14 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  48. ^ “Spring – Week 12, 2019”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2019.
  49. ^ Cumulative sales for Spring (Korea): “2019 Monthly Album Chart – March”. Gaon Chart. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2019.
  50. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!”. Gaon Chart. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2019.
  51. ^ a ă “Digital Chart” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019.
  52. ^ “Park Bom Chart History: Billboard Korean K-Pop 100”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2020.
  53. ^ NZ Hot Singles Chart:
  54. ^ a ă â “Park Bom Chart History: World Digital Song Sales”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2020.
  55. ^ Download Chart – 2010년. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2019.
  56. ^ 2011년 Download Chart [2011 Download Chart]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2019.
  57. ^ a ă â b Benjamin, Jeff (22 tháng 3 năm 2019). “Park Bom Takes Over Top 5 of World Digital Song Sales Chart With Long-Awaited Comeback”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2019.
  58. ^ “Gaon Digital Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2017.
  59. ^ “Gaon Download Chart - 2011”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2016.
  60. ^ "2011년 Download Chart". Gaon Chart (in korean)”. Gaon Chart. Korea Music Content Industry Association. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  61. ^ Cumulative sales for "Up":
  62. ^ "2010 M.net Korean Music Festival Winners list" Lưu trữ tháng 3 30, 2015 tại Wayback Machine. MAMA. Retrieved December 14, 2014.
  63. ^ "미나야, 상 3개나 받았다!"…트와이스, '올해의 뮤직상'까지 3관왕 영예 [2019 소리바다 어워즈](종합)”. entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). 22 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2019.
  64. ^ Gaea Katreena Cabico (25 tháng 10 năm 2019). “LIST: Official nominees for 2019 MAMA”. philstar.com. Manila. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.
  65. ^ “Melon Music Awards 2019 Announces Nominees For Category Awards + Voting Begins”. Soompi (bằng tiếng Anh). 14 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.[nguồn không đáng tin?]
  66. ^ “9th Gaon Chart Music Awards Announces Award Categories And 1st Set Of Nominees”. Soompi (bằng tiếng Anh). 1 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.[nguồn không đáng tin?]
  67. ^ Ilin Mathew (9 tháng 12 năm 2019). “Seoul Music Awards 2020 nomination list, live streaming details and more”. International Business Times, Singapore Edition (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2020.
  68. ^ “第29届SMA-QQ音乐最受欢迎K-POP ARTIST奖”. QQ Music (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2020.

Liên kết ngoàiSửa đổi