Song tính luyến ái

Song tính luyến ái (tiếng Anh: Bisexuality) là mối quan hệ hay chỉ sự hấp dẫn tình cảm và/hoặc tình dục của một người với hai giới tính, namnữ,[1][2][3] hoặc là nhiều hơn một giới hay giới tính.[4] Đây cũng được định nghĩa là sự thu hút tình cảm hay tình dục đối với người của bất kì bản dạng giới hay giới tính nào, cũng được biết đến với tên toàn tính luyến ái.[5][6][7]

Cờ của cộng đồng người Song tính luyến ái.
Song tính luyến ái trong tranh nghệ thuật khiêu dâm thời La Mã, miêu tả cảnh hai người đàn ông và một người phụ nữ đang làm tình; tranh nghệ thuật sơn tường Pompeian vào khoảng năm 79 trước Công Nguyên
Hai tam giác chồng lên nhau, là một trong số biểu tượng của song tính luyến ái

Thuật ngữ Song tính/Song tính luyến ái được sử dụng chính trong trường hợp biểu lộ sự hấp dẫn của con người về tình cảm hay tình dục, hướng đến cả đàn ông và phụ nữ[2][1][8]. Đồng thời khái niệm này là một trong ba phân loại chính của xu hướng tính dục, đi cùng với dị tính/dị tính luyến ái và đồng tính/đồng tính luyến ái, tất cả tồn tại trong phổ dị tính - đồng tính.  Một bản dạng song tính không nhất thiết phải cân bằng sự hấp dẫn tình dục với cả hai giới tính; thường thì, những người có sở thích tình dục nghiêng về một giới tính nhất định hơn giới tính còn lại nhưng lại không độc nhất cũng tự nhận họ là người song tính.[9]

Các nhà khoa học không biết chính xác nguyên nhân vì sao xu hướng tính dục tồn tại, nhưng họ đặt ra giả thuyết rằng nó được hình thành bởi sự tương hỗ phức tạp của ảnh hưởng di truyền, nội tiết tố và môi trường[10][11][12], đồng thời không xem nó như là một sự lựa chọn[11][10][13]. Mặc dù không có một lý thuyết nào cho biết nguyên nhân xu hướng tính dục ngày càng được ủng hộ rộng rãi, các nhà khoa học vẫn ủng hộ những thuyết dựa trên sinh học[10]. Có nhiều bằng chứng ủng hộ các nguyên nhân sinh học và phi xã hội của xu hướng tính dục hơn là những nguyên nhân xã hội, đặc biệt là đối với nam giới.[3][7][14]

Song tính luyến ái đã được thấy trong các xã hội khác nhau[15] và trong thế giới loài vật[16][17][18] thông qua các tài liệu lịch sử. Tuy nhiên, các thuật ngữ bisexual (song tính luyến ái), heterosexual (dị tính luyến ái) và homosexual (đồng tính luyến ái) chỉ mới được sử dụng từ thế kỷ 19.

Các định nghĩaSửa đổi

Xu hướng tính dục, bản dạng tính dục và hành vi tình dụcSửa đổi

Song tính luyến ái là sự bị hấp dẫn bởi người cùng giới và khác giới về tình cảm và/hoặc tình dục. Cũng có thể hiểu song tính luyến ái là sự bị hấp dẫn bởi nam và nữ nhưng định nghĩa này gặp phải nhiều ý kiến trái chiều vì tính nhị nguyên của nó. Hấp dẫn bởi nam và nữ không chỉ đơn thuần là hai xu hướng, còn rất nhiều xu hướng khác ở giữa có đặc điểm trộn lẫn giữa hai xu hướng chính. Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ cho rằng "xu hướng tình dục nằm trong một phổ". Nói cách khác, một người không hoàn toàn là đồng tính hoặc dị tính luyến ái nhưng có thể cảm thấy ở một mức độ nào đó của hai xu hướng này. Xu hướng tính dục phát triển trong suốt cuộc đời của một con người - mỗi người khác nhau có thể nhận ra bản thân là dị tính, song tính hay đồng tính tại những thời điểm khác nhau trong cuộc đời.”[9][19]

Xu hướng tình dục phát triển xuyên suốt đời sống con người–mỗi người nhận ra ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời họ rằng họ là dị tính, song tính và đồng tính."[20][21][19] Hấp dẫn tình dục, hành vi tình dụcnhận thực tình dục có thể cũng không phù hợp với nhau, cũng như việc hấp dẫn tình dục và hành vi tình dục không nhất thiết đồng nhất với nhận thực tình dục. Vài người xác định mình là dị tính, đồng tính hoặc song tính mà chưa từng có trải nghiệm tình dục. Những người khác từng có trải nghiệm đồng tính nhưng không tự coi họ là đồng tính hoặc song tính. Tương tự như vậy, những người tự nhận là đồng tính có thể thỉnh thoảng có hành vi tình dục với người khác giới tính nhưng không tự nhận định mình là là song tính.[19]Thuật ngữ Queer[22], Đa tính/Đa tính luyến ái, Dị tính linh hoạt, Đồng tính linh hoạt, Nam giới có quan hệ tình dục với nam giới (MSM) và Nữ giới có quan hệ tình dục với nữ giới (WSW) cũng có thể được dùng để miêu tả bản dạng tính dục hoặc xác định hành vi tình dục.

Định nghĩa của song tính luyến ái có sự thay đổi theo thời gian, và hiện nay cũng được biết tới như một thuật ngữ chung bao hàm tất cả các xu hướng tính dục khác chỉ sự hấp dẫn với nhiều hơn một giới như như đa tính luyến ái (thu hút với nhiều giới, tuy không phải tất cả) và toàn tính luyến ái (thu hút với tất cả các giới).[23]

Người có xu hướng tính dục song tính luyến ái có thể bị hấp dẫn về mặt cảm xúc, tình cảm và tình dục với cả người cùng giới và khác giới với mình. Nó cũng chỉ sự công nhận về mặt cá nhân và xã hội đối với những người như vậy. Song tính luyến ái, cùng với đồng tính luyến áidị tính luyến ái là ba xu hướng tính dục chính, còn những người không bị hấp dẫn về mặt tình dục với bất kì một giới hay giới tính nào được gọi là vô tính (asexuality).

Theo nghiên cứu của Alfred Kinsey về tình dục loài người vào giữa thế kỷ 20, nhiều người không chỉ là dị tính luyến ái hoặc đồng tính luyến ái mà nằm giữa hai loại này. Kinsey đánh giá sự hấp dẫn và thể hiện tình dục trên một thang 7 điểm bắt đầu từ 0 (hoàn toàn dị tính luyến ái) đến 6 (hoàn toàn đồng tính luyến ái). Theo nghiên cứu của Kinsey, phần lớn dân số thuộc loại từ 1 đến 5 (giữa dị tính luyến ái và đồng tính luyến ái). Mặc dù phương pháp của Kinsey đã từng bị chỉ trích, thang đo này vẫn được sử dụng rộng rãi để đánh giá sự liên tục của tình dục loài người.

Song tính luyến ái đã được thấy trong các xã hội khác nhau[15] và trong thế giới loài vật[16][17][18] thông qua các tài liệu lịch sử. Tuy nhiên, các thuật ngữ bisexual (song tính luyến ái), heterosexual (dị tính luyến ái) và homosexual (đồng tính luyến ái) chỉ mới được sử dụng từ thế kỷ 19.

Xu hướng tính dụcSửa đổi

Song tính luyến ái là sự bị hấp dẫn bởi người cùng giới và khác giới về tình cảm và/hoặc tình dục. Cũng có thể hiểu song tính luyến ái là sự bị hấp dẫn bởi nam và nữ nhưng cách hiểu này gặp phải nhiều ý kiến trái chiều vì tính nhị nguyên của nó. Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ cho rằng "thiên hướng tình dục nằm trong một dãy liên tục". Nói cách khác, một người không hoàn toàn là đồng tính hoặc dị tính luyến ái nhưng có thể cảm thấy ở một mức độ nào đó của hai thiên hướng này. Thiên hướng tình dục phát triển xuyên suốt đời sống con người–mỗi người nhận ra ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời họ rằng họ là dị tính, song tính và đồng tính."[20][21][19] Hấp dẫn tình dục, hành vi tình dụcnhận thực tình dục có thể cũng không phù hợp với nhau, cũng như việc hấp dẫn tình dục và hành vi tình dục không nhất thiết đồng nhất với nhận thực tình dục. Vài người xác định mình là dị tính, đồng tính hoặc song tính mà chưa từng có trải nghiệm tình dục. Những người khác từng có trải nghiệm đồng tính nhưng không tự coi họ là đồng tính hoặc song tính. Tương tự như vậy, những người tự nhận là đồng tính có thể thỉnh thoảng có hành vi tình dục với người khác giới tính nhưng không tự xác định mình là song tính.[19]

Toàn tính luyến ái (pansexuality) có thể được coi là một dạng của song tính luyến ái hoặc không, khi vài nguồn cho rằng song tính luyến ái bao hàm sự bị hấp dẫn về mặt tình cảm hoặc tình dục từ tất cả các bản dạng giới hoặc sự hấp dẫn về mặt tình cảm hoặc tình dục từ một người bất kể giới tính sinh học hoặc giới của người đó.[24][5][7] Khái niệm toàn tính luyến ái, một cách cân nhắc, bác bỏ khái niệm nhị nguyên giới, khái nhiệm "hai giới tính và, thực chất là, thiên hướng tình dục xác định,"[7] trong khi người toàn tính luyến ái thì cởi mở về mối quan hệ với những người không tự xác định là nam hoặc nữ.[5][7] Thuật ngữ toàn tính luyến ái được dùng không phân biệt với song tính luyến ái và, tương tự như vậy, những người tự nhận là song tính có thể "cảm thấy giới tính, giới tính sinh học và thiên hướng tình dục không nên là điểm trọng yếu trong một mối quan hệ [tình cảm/tình dục]."[7]

Theo Rosario, Schrimshaw, Hunter, Braun (2006):

...Quá trình tự xác định là đồng tính hoặc song tính là một quá trình phức tạp và thường là khó khăn. Không giống như những nhóm thiểu số khác (ví dụ như dân tộc hoặc chủng tộc), hầu hết người đồng tính và song tính không được lớn lên trong một cộng đồng giống như họ nơi mà họ có thể học hỏi về nhận thực của họ và những người người củng cố và hỗ trợ nhận thực đó. Thay vào đó, người đồng tính và song tính thường lớn lên trong cộng đồng phớt lờ và công khai chống đối đồng tính.[20]

Song tính luyến ái ở Việt NamSửa đổi

Tiểu thuyết Nháp của Nguyễn Đình Tú có yếu tố song tính luyến ái.[25]

Người song tính ở Việt Nam thường bị kỳ thị bởi cả chính người thuộc LGBT+. Bởi họ cho rằng những người song tính thường sẽ là những người lăng nhăng, dễ ngoại tình bởi người song tính có phạm vi hấp dẫn lớn hơn những người đồng tính và dị tính. Đồng thời, họ cũng cho rằng bởi áp lực từ xã hội và gia đình, những người song tính sau này sẽ bỏ người yêu cùng giới để kết hôn với người khác giới để làm hài lòng gia đình và xã hội.

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă “Sexual orientation, homosexuality and bisexuality”. American Psychological Association. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014.
  2. ^ a ă “Sexual Orientation”. American Psychiatric Association. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2012.
  3. ^ a ă Bailey, J. Michael; Vasey, Paul; Diamond, Lisa; Breedlove, S. Marc; Vilain, Eric; Epprecht, Marc (2016). "Sexual Orientation, Controversy, and Science". Psychological Science in the Public Interest. doi:10.1177/1529100616637616. PMID 27113562.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  4. ^ “Understanding Bisexuality”. American Psychological Association. 2019. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.
  5. ^ a ă â Soble, Alan (2006). “Bisexuality”. Sex from Plato to Paglia: a philosophical encyclopedia. 1. Greenwood Publishing Group. tr. 115. ISBN 978-0-313-32686-8. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011.
  6. ^ Carroll JL (2015). Sexuality Now: Embracing Diversity. Cengage Learning. tr. 322. ISBN 978-1305446038. Pansexuality is also sometimes included under the definition of bisexuality, since pansexuality rejects the gender binary and encompasses romantic or sexual attractions to all gender identities.
  7. ^ a ă â b c d Rice, Kim (2009). “Pansexuality”. Trong Marshall Cavendish Corporation (biên tập). Sex and Society. 2. Marshall Cavendish. tr. 593. ISBN 978-0-7614-7905-5. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012. In some contexts, the term pansexuality is used interchangeably with bisexuality, which refers to attraction to individuals of both sexes... Those who identify as bisexual feel that gender, biological sex, and sexual orientation should not be a focal point in potential relationships.
  8. ^ LeVay, Simon (2017). “Gay, Straight, and the Reason Why: The Science of Sexual Orientation”. ISBN 9780199752966.
  9. ^ a ă Rosario, M. Journal of Sex Research. "Sexual identity development among lesbian, gay, and bisexual youths: Consistency and change over time". doi:10.1080/00224490609552298. PMC 3215279. PMID 16817067.
  10. ^ a ă â Frankowski BL; American Academy of Pediatrics Committee on Adolescence (June 2004). "Sexual orientation and adolescents". 113 (6): 1827–32.: Pediatrics. PMID 15173519.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) Quản lý CS1: địa điểm (liên kết)
  11. ^ a ă Lamanna, Mary Ann; Riedmann, Agnes; Stewart, Susan D (2014). Marriages, Families, and Relationships: Making Choices in a Diverse Society. Cengage Learning. tr. 82. ISBN 978-1-305-17689-8. .“Lí do tại sao một bản dạng tính dục đồng tính được hình thành trên một số người chưa được giải thích cụ thể - cũng như chúng ta vẫn chưa hiểu được sự phát triển của dị tính luyến ái. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) cho rằng có nhiều yếu tố tác động tới tính dục của một người. Văn bản gần đây nhất của APA cho rằng xu hướng tính dục rất có khả năng hình thành từ sự tương tác phức tạp của các yếu tố môi trường, nhận thức và sinh học... được hình thành từ khi còn nhỏ...[và chứng cứ chỉ ra rằng] yếu tố sinh học, bao gồm di truyền hoặc hoóc môn bẩm sinh, đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành tính dục của một người (Hiệp hội Tâm Lý học Hoa Kỳ 2010).”Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  12. ^ Gail Wiscarz Stuart (2014). Principles and Practice of Psychiatric Nursing. Elsevier Health Sciences. Elsevier Health Sciences. tr. 502. ISBN 978-0-323-29412-6. “Vẫn chưa có một bằng chứng mang tính kết luận nào có thể chỉ ra được một nguyên nhân cụ thể dẫn đến đồng tính luyến ái; tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng các yếu tố sinh học cũng như xã hội có tác động đến sự phát triển của xu hướng tính dục.”
  13. ^ Gloria Kersey-Matusiak (2012). (10 tháng 2 năm 2016). Delivering Culturally Competent Nursing Care. Springer Publishing Company. tr. 196. ISBN 978-0-8261-9381-0. “Hầu hết các tổ chức y tế và sức khỏe tâm thần đều nhận định rằng xu hướng tính dục không phải là một lựa chọn.”
  14. ^ Balthazart, Jacques (2012). The Biology of Homosexuality. Oxford University Press. ISBN 9780199838820.
  15. ^ a ă Crompton, Louis (2003). Homosexuality and Civilization. Cambridge, Massachusetts: Belknap Press. ISBN 0-674-01197-X.
  16. ^ a ă Bagemihl, Bruce (1999). Biological Exuberance: Animal Homosexuality and Natural Diversity. London: Profile Books, Ltd. ISBN 1-86197-182-6.
  17. ^ a ă Roughgarden, Joan (2004). Evolution's Rainbow: Diversity, Gender, and Sexuality in Nature and People. Berkeley, CA: University of California Press. ISBN 0-520-24073-1. Đã bỏ qua tham số không rõ |month= (trợ giúp)
  18. ^ a ă Driscoll, Emily V. (tháng 7 năm 2008). “Bisexual Species: Unorthodox Sex in the Animal Kingdom”. Scientific American.
  19. ^ a ă â b c “Appropriate Therapeutic Responses to Sexual Orientation” (PDF): 63, 86, . Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2011. sexual orientation identity—not sexual orientation—appears to change via psychotherapy, support groups, and life events Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)Quản lý CS1: dấu chấm câu dư (liên kết)
  20. ^ a ă â Rosario, M., Schrimshaw, E., Hunter, J., & Braun, L. (February 2006). Sexual identity development among lesbian, gay, and bisexual youths: Consistency and change over time. Journal of Sex Research, 43(1), 46–58. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2009.
  21. ^ a ă http://www.aapa.org/clinissues/2007C03.pdf
  22. ^ Firestein, Beth A. (2007) (3 tháng 10 năm 2012). “Becoming Visible: Counseling Bisexuals Across the Lifespan. Columbia University Press”. Columbia University Press. tr. 9-12. ISBN 978-0231137249.
  23. ^ “The Bi Umbrella”. American Institute of Bisexuality. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2020.
  24. ^ “What is Bisexuality?”. The Bisexual Index. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011.
  25. ^ “Nếu nhà văn là người đồng tính...”. Sức khỏe đời sống. ngày 5 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2009.

Liên kết ngoàiSửa đổi