Đồng tính luyến ái

sự hấp dẫn về mặt lãng mạn hoặc tình dục giữa các cá nhân cùng giới hoặc giới tính

Đồng tính luyến ái là sự hấp dẫn tình dục, sự hấp dẫn lãng mạn hoặc hành vi tình dục giữa những người cùng giới tính hoặc giới tính xã hội.[1][2][3] Là một xu hướng tính dục, đồng tính luyến ái là "một hình thức thu hút lâu dài về cảm xúc, lãng mạn và/hoặc tình dục" dành riêng cho những người cùng giới tính hoặc giới tính xã hội.[4] Nó "cũng đề cập đến ý thức về bản dạng của một người dựa trên những sự thu hút đó, các hành vi liên quan và tư cách thành viên trong một cộng đồng gồm những người khác có chung những sự thu hút đó."[5][6]

Cùng với song tính luyến áidị tính luyến ái, đồng tính luyến ái là một trong ba loại xu hướng tính dục chính trong phổ liên tục giữa dị tính và đồng tính luyến ái.[5] Các nhà khoa học vẫn chưa biết nguyên nhân chính xác dẫn đến xu hướng tính dục nhưng họ đưa ra lý thuyết rằng nó là do sự tác động qua lại phức tạp của các ảnh hưởng về di truyền học, nội tiết tốmôi trường chứ không coi đó là một sự lựa chọn.[7][8][9] Mặc dù chưa có một lý thuyết đơn lẻ nào về nguyên nhân của xu hướng tính dục nhận được sự ủng hộ rộng rãi, nhưng các nhà khoa học ủng hộ các lý thuyết dựa trên cơ sở sinh học.[7][8] Có nhiều bằng chứng ủng hộ các nguyên nhân sinh học, phi xã hội của xu hướng tính dục hơn các nguyên nhân xã hội, đặc biệt là đối với nam giới.[10][11][12] Không có bằng chứng xác đáng nào cho thấy việc nuôi dạy con hoặc trải nghiệm thời thơ ấu đóng vai trò liên quan đến xu hướng tính dục.[13] Trong khi một số người tin rằng hoạt động đồng tính luyến ái là không tự nhiên,[14] nghiên cứu khoa học cho thấy đồng tính luyến ái là một biến thể bình thường và tự nhiên trong hoạt động tính dục ở loài người và bản thân nó không phải là nguồn gốc của những tác động tâm lý tiêu cực.[5][15] Không có đủ bằng chứng ủng hộ việc sử dụng các biện pháp can thiệp tâm lý để thay đổi xu hướng tính dục.[16][17]

Các thuật ngữ phổ biến nhất dành cho người đồng tính là lesbian (đồng tính nữ) dành cho nữ và gay (đồng tính nam) dành cho nam, nhưng thuật ngữ gay cũng thường dùng để chỉ cả đồng tính nữ và nam. Rất khó để các nhà nghiên cứu ước tính một cách đáng tin cậy tỷ lệ người đồng tính nam hoặc đồng tính nữ và tỷ lệ người có quan hệ tình cảm cùng giới hoặc đã từng có trải nghiệm tình dục cùng giới vì nhiều lý do, bao gồm việc nhiều người đồng tính nam và đồng tính nữ không công khai bản dạng của họ do định kiến ​​hoặc phân biệt đối xử như kỳ thị đồng tínhchủ nghĩa dị tính luyến ái.[18] Hành vi đồng tính luyến ái cũng đã được ghi nhận ở nhiều loài động vật không phải con người,[24] mặc dù con người là một trong hai loài duy nhất được biết là có thể hiện xu hướng đồng tính luyến ái (loài còn lại là cừu).[10]

Nhiều người đồng tính nam và đồng tính nữ đang có mối quan hệ cùng giới mang tính gắn kết. Những mối quan hệ này tương đương với các mối quan hệ khác giới ở những khía cạnh tâm lý thiết yếu.[6] Các mối quan hệ và hành vi đồng tính luyến ái đã được ngưỡng mộ cũng như bị lên án trong suốt ghi nhận của lịch sử, tùy thuộc vào hình thức và nền văn hóa nơi chúng diễn ra.[25] Kể từ cuối thế kỷ 20, đã có một phong trào toàn cầu hướng tới tự do và bình đẳng cho người đồng tính, bao gồm việc đưa ra luật chống bắt nạt để bảo vệ trẻ em đồng tính ở trường học, luật đảm bảo không phân biệt đối xử, khả năng bình đẳng để phục vụ trong quân đội, tiếp cận bình đẳng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khả năng bình đẳng trong nhận con nuôilàm cha mẹ, và thiết lập bình đẳng hôn nhân.

Tên gọi

 
Một người phụ nữ đang cầm cờ LGBT

Từ tiếng Anh "homosexual" ("đồng tính luyến ái") là từ lai giữa tiếng Hy Lạp và tiếng La-tinh, với yếu tố đầu tiên bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "ὁμός homos", nghĩa là "giống nhau" (không liên quan đến từ homo trong tiếng Latinh nghĩa là "đàn ông", như trong Homo sapiens), do đó ám chỉ hành vi tình dục và tình cảm giữa những người cùng giới tính, kể cả đồng tính nữ. "Đồng tính luyến ái" là một từ Hán Việt, viết bằng chữ Hán là "同性戀愛", dịch sát nghĩa từng chữ là "yêu người cùng giới tính".[cần dẫn nguồn]

Từ "homosexual" lần đầu tiên xuất hiện dưới dạng in trong một tập sách tiếng Đức in năm 1869 của tiểu thuyết gia người Áo Karl-Maria Kertbeny, được xuất bản ẩn danh, trong đó tác giả đưa ra lập luận chống lại luật chống chế độ thống trị của Phổ. Năm 1886, bác sĩ tâm thần Richard von Krafft-Ebing đã sử dụng thuật ngữ homosexual (đồng tính) và heterosexual (dị tính) trong cuốn sách Psychopathia Sexualis (Chứng thái nhân cách về tình dục) của mình. Cuốn sách của Krafft-Ebing phổ biến đối với cả người thường và giới bác sĩ đến nỗi thuật ngữ heterosexual và homosexual đã trở thành thuật ngữ được chấp nhận rộng rãi nhất cho xu hướng tình dục. Do đó, việc sử dụng thuật ngữ này hiện nay có nguồn gốc từ truyền thống phân loại của thế kỷ 19[26][27]

Nhiều tài liệu hướng dẫn văn phong hiện đại ở Hoa Kỳ khuyến cáo không nên sử dụng "homosexual" (đồng tính luyến ái) như một danh từ, thay vào đó sử dụng từ gay (đồng tính nam) hoặc lesbian (đồng tính nữ). Tương tự, một số nơi khuyến cáo nên tránh hoàn toàn việc sử dụng từ homosexual vì nó thể hiện tiền sử bệnh lý tiêu cực và vì từ này chỉ đề cập đến hành vi tình dục của một người (trái ngược với cảm xúc tình yêu) và do đó nó mang hàm ý tiêu cực. Gay và lesbian là những lựa chọn thay thế phổ biến nhất. Các chữ cái đầu tiên thường được kết hợp để tạo ra từ viết tắt là LGBT (đôi khi được viết là GLBT), trong đó B và T dùng để chỉ những người song tính (bisexual) và chuyển giới (transgender).

Gay dùng để chỉ đồng tính luyến ái nam, nhưng cũng có thể được dùng theo nghĩa rộng hơn để chỉ tất cả những người LGBT. Nếu xét về mặt tính dục, lesbian chỉ đề cập đến đồng tính luyến ái nữ. Từ lesbian có nguồn gốc từ tên của hòn đảo Hy Lạp Lesbos, nơi nữ nhà thơ Sappho đã viết phần lớn về các mối quan hệ tình cảm của cô với những phụ nữ trẻ.

Mặc dù các nhà văn trước đây cũng sử dụng tính từ homosexual để chỉ bất kỳ bối cảnh đơn giới tính nào (chẳng hạn như trường học toàn học sinh nữ hoặc nhà tù dành riêng cho phạm nhân nam), ngày nay thuật ngữ này chỉ được sử dụng để chỉ sự hấp dẫn giới tính, và xu hướng tính dục. Thuật ngữ homosocial hiện được sử dụng để mô tả bối cảnh đơn giới tính nhưng không bao gồm tình dục. Ngoài ra còn có một từ chỉ tình yêu đồng giới là homophilia, từ này thường chỉ được dùng trong các văn bản hàn lâm về tâm lý học.

Một số từ đồng nghĩa với hấp dẫn đồng giới hoặc hoạt động tình dục bao gồm nam quan hệ tình dục với nam hay MSM (được sử dụng trong cộng đồng y học khi thảo luận cụ thể về hoạt động tình dục) và gợi dục đồng tính (đề cập đến các tác phẩm nghệ thuật). Các thuật ngữ mang ý miệt thị trong tiếng Anh bao gồm queer, faggot, fairy, poof và homo. Bắt đầu từ những năm 1990, một số từ trong số này đã được những người đồng tính nam và đồng tính nữ coi là những từ mang ý trung tính, như trong các cụm từ queer học, lý thuyết queer, và thậm chí cả trong chương trình truyền hình nổi tiếng của Mỹ Queer Eye for the Straight Guy. Từ homo xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ khác mà không mang hàm ý miệt thị như trong tiếng Anh. Cũng như những từ ngữ khinh miệt về sắc tộc và chủng tộc, việc sử dụng những thuật ngữ này vẫn có thể gây xúc phạm mạnh. Phạm vi sử dụng được chấp nhận cho các thuật ngữ này tùy thuộc vào ngữ cảnh và người nói. Ngược lại, gay, một từ ban đầu được nam và nữ đồng tính chấp nhận như một thuật ngữ mang tính khẳng định, tích cực (như trong phong trào giải phóng người đồng tính và quyền của người đồng tính), đã được sử dụng rộng rãi với ý miệt thị trong giới trẻ. Tổ chức quyền LGBT của Mỹ GLAAD khuyên giới truyền thông tránh sử dụng thuật ngữ homosexual để mô tả người đồng tính hoặc các mối quan hệ đồng giới vì thuật ngữ này "thường được những người cực đoan chống đồng tính sử dụng để hạ thấp những cá nhân đồng tính, các cặp vợ chồng và các mối quan hệ đồng tính".

Một số từ đồng nghĩa với hấp dẫn đồng giới hoặc hoạt động tình dục bao gồm nam có quan hệ tình dục với nam hay MSM[28][29] Các thuật ngữ mang ý miệt thị trong tiếng Anh bao gồm queer, faggot, fairy, poof[30] và homo.[31][32][33][34][35] Từ homo xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ khác mà không mang hàm ý miệt thị như trong tiếng Anh.[36][37] Ngược lại, "gay", một từ ban đầu được nam và nữ đồng tính chấp nhận như một thuật ngữ thông thường (như trong các phong trào của người đồng tính),[38] đã được sử dụng rộng rãi với ý miệt thị trong giới trẻ.[39]

Trong tiếng Việt người đồng tính luyến ái nam thường được gọi là "người đồng tính nam" hoặc "gay" /ɣaj/ (bắt nguồn từ từ tiếng Anh "gay" /ɡeɪ/), "bê đê" /ɓe ɗe/, "pê đê" /pe ɗe/ (bắt nguồn từ tiếng Pháp "pédérastie"), người đồng tính luyến ái nữ thường được gọi là "người đồng tính nữ" hoặc "lét" /lɛt/ (bắt nguồn từ từ tiếng Anh "lesbian" /ˈlezbiən/, thường được viết phỏng theo tiếng Anh là "les" dù phát âm khác với tiếng Anh).[cần dẫn nguồn]

Thuật ngữ homosocial hiện được sử dụng để mô tả bối cảnh đơn giới tính nhưng không bao gồm tình dục.[40] Ngoài ra còn có một từ chỉ tình yêu đồng giới là homophilia.[41][42]

Không có đặc điểm ngoại hình đặc trưng nào để "nhận dạng" người đồng tính so với những người khác trong xã hội. Từ "bóng" hay "bê đê" (từ mang hàm ý thể hiện sự miệt thị) mà người ta hay dùng để chỉ một người con trai ăn mặc, cư xử và hành động như con gái thực ra là nói đến người chuyển giới nữ nhưng chưa phẫu thuật.

Lịch sử

Bài chi tiết: Dòng thời gian của lịch sử LGBT

Một số học giả cho rằng thuật ngữ "đồng tính luyến ái" không phù hợp khi áp dụng cho các nền văn hóa cổ đại, chẳng hạn như người Hy Lạp hay người La Mã đều không sở hữu bất kỳ từ nào có cùng phạm vi ngữ nghĩa như khái niệm hiện đại về "đồng tính luyến ái". Hơn nữa, có rất nhiều hành vi tình dục đồng tính được thực hiện vì lý do tôn giáo chứ không phải yêu đương.

Thái độ xã hội đối với đồng tính luyến ái thay đổi theo thời gian và nơi chốn bao gồm từ việc chấp nhận cho đến xem như một tội lỗi nhẹ, chịu sự cấm đoán của luật pháp hay thậm chí là tử hình. Trong một cuộc sưu tập các tài liệu lịch sử và dân tộc học của các nền văn hóa thời kỳ Trước Công nghiệp, "có 41% trong số 42 nền văn hóa phản đối mạnh mẽ, 21% chấp nhận hoặc phớt lờ và 12% không có khái niệm. Trong số 70 dân tộc, 59% không có hoặc hiếm có sự xuất hiện của đồng tính luyến ái; tại 41% còn lại đồng tính có xảy ra hoặc không phổ biến."[43]

Trong những nền văn hóa chịu ảnh hưởng của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, luật pháp và nhà thờ quy định kê gian là một tội lỗi chống lại thần thánh hoặc tự nhiên. Tuy nhiên, sự lên án tình dục hậu môn của nam và nam có từ tư tưởng Kitô giáo. Sự lên án này cũng thường thấy ở Hy Lạp cổ đại, cụm từ "không tự nhiên" có thể có từ triết gia Plato.[44] Những cụm từ như đồng tính luyến ái hoặc song tính luyến ái từng được dùng bởi nhiều nhân vật lịch sử như Socrates, Lord Byron, Edward IIHadrian. Vài học giả, chẳng hạn như Michel Foucault, coi đây là sự giải thích sai về mặt niên đại, dựa trên quan niệm tình dục đương đại cho thời đại của những nhân vật này,[45] mặc dù nhiều học giả khác đã không thừa nhận quan điểm của những học giả trên.[46]

Về sự tự nhiên của đồng tính luyến ái và sự biểu hiện trong lịch sử, có hai quan điểm trái ngược nhau đại diện bởi cách tiếp cận kiến tạo luận (constructionist) và bản chất luận (essentialist). Nhìn chung, chủ nghĩa kiến tạo luận xã hội xem xét rằng nhiều đặc tính của một nhóm xã hội nào đó, chứ không phải là bản chất tự nhiên của chính cá nhân, đã dẫn đến "sự kiến tạo xã hội". Trong khi đó, chủ nghĩa bản chất luận bảo vệ sự tồn tại của bản chất thực sự. Bản chất đó xác định biểu hiện của một cá nhân và những thứ học được từ xã hội mang tính thứ yếu. David M. Halperin dành một chương: Đồng tính luyến ái: sự kiến tạo văn hóa trong tác phẩm Một trăm năm đồng tính luyến ái cho chủ đề này.[47] Ngược lại, chủ nghĩa kiến tạo cho rằng những thuật ngữ này là tên của những quá trình xã hội. Halperin nghiêng về lập luận thứ hai vì ông coi tình dục, bao gồm đồng tính, từng được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau một cách cơ bản trong những xã hội khác nhau ngày nay. Tuy nhiên ông, trích dẫn Esteven Epstein,[48] so sánh sự tranh luận giữa bản chất luận và kiến tạo luận với tự nhiên đối chọi nuôi dưỡng (nature versus nurture).[49]

Bởi vì thiên hướng tình dục là phức tạp và đa chiều, một số học giả và các nhà nghiên cứu, đặc biệt là trong các nhà nghiên cứu đồng tính trước đây, đã lập luận rằng đồng tính luyến ái là một kết quả của lịch sử và xã hội. Năm 1976, nhà triết học và sử học Michel Foucault cho rằng đồng tính luyến ái là một thứ rất hiếm khi tồn tại ở châu Âu trong thế kỷ XVIII, khi mà tình dục đồng giới còn là một hành vi tội phạm (xem Kê gian). Ông viết: "Thiên hướng Tình dục về bản chất là một "sáng chế" của các nhà nước hiện đại, cuộc cách mạng công nghiệp, và chủ nghĩa tư bản".[50]

Châu Phi

Ghi chép đầu tiên về một cặp đôi có thể là đồng tính luyến ái trong lịch sử thường được cho là Khnumhotep và Niankhkhnum ở Ai Cập cổ đại, sống vào khoảng năm 2400 trước Công nguyên. Cặp đôi này được khắc hoạ trong tư thế hôn mũi, tư thế thân mật nhất trong nghệ thuật Ai Cập, và có vẻ như được bao quanh bởi những người thừa kế của họ. Các nhà nhân chủng học Stephen Murray và Will Roscoe đã báo cáo rằng phụ nữ ở Lesotho tham gia vào "các mối quan hệ lâu dài, gợi dục" được gọi là motsoalle.

Đông Á

Đông Á, Đồng tính luyến ái ở Trung Quốc, đã được ghi nhận từ khoảng năm 600 trước Công nguyên. Nho giáo, bởi là một hệ tư tưởng về xã hội và chính trị, ít tập trung vào tình dục, cho dù là đồng tính luyến ái hay dị tính luyến ái. Văn học thời nhà Minh, chẳng hạn như Biện Nhi Thoa (弁而釵/弁而钗), miêu tả các mối quan hệ đồng tính giữa nam giới. Sự phản đối đồng tính luyến ái ở Trung Quốc bắt nguồn từ thời nhà Đường (618–907), được cho là do ảnh hưởng ngày càng tăng của các giá trị Thiên chúa giáo và Hồi giáo, nhưng phải đến khi có các nỗ lực Tây hóa vào cuối triều ThanhCộng hòa Trung Hoa thì sự phản đối này mới hình thành rõ rệt.

Đồng tính luyến ái ở Nhật Bản, được biết đến dưới dạng chúng đạo hay nam sắc (những từ bị ảnh hưởng từ văn chương Trung Hoa), được ghi nhận từ hơn một ngàn năm trước. Tại Thái Lan, Kathoey hay "trai nữ" (cô chàng) là một phần trong xã hội trong nhiều thế kỷ và quốc vương Thái Lan cũng có các "cung phi" là nam cũng như nữ. Kathoey có thể nữ tính hoặc là biến trai làng (transvestism). Thái Lan chưa từng có luật cấm đồng tính luyến ái hoặc hành vi đồng tính, nhưng cũng không công nhận quan hệ giữa họ.[cần dẫn nguồn]

Ở Ấn Độ, luật Manu đề cập đến "giới tính thứ ba", các thành viên thuộc giới tính này có thể tham gia vào việc thể hiện giới phi truyền thống và các hoạt động đồng tính luyến ái.

Trong xã hội Melanesia, đặc biệt ở Papua New Guinea, quan hệ cùng giới là một phong tục cho đến giữa thế kỷ trước. Trong truyền thống Melanesia, một cậu bé chưa dậy thì sẽ được bắt cặp với một người thành niên, người này sẽ trở thành tư vấn viên dạy việc quan hệ tình dục cho cậu bé (đường miệng hay hậu môn tùy thuộc vào bộ tộc) trong vài năm vì họ tin rằng làm như vậy sẽ giúp cho cậu bé đó sớm đạt tới tuổi dậy thì và có kiến thức về tình dục mà không cần phải chung đụng với phụ nữ (sẽ dễ dẫn tới mang thai và phải làm cha khi còn quá trẻ). Tuy nhiên, nhiều xã hội Melanesia đã trở nên căm ghét quan hệ cùng giới khi các nhà truyền giáo châu Âu đến truyền giáo.[51]

Trung Đông

Thông tin thêm: LGBT trong Hồi giáoQuyền LGBT ở Israel

Assyria, có ghi nhận về đồng tính luyến ái, điều đó không bị cấm túc, lên án, hay bị xem là hành vi thiếu đạo đức hoặc rối loạn. Một vài văn bản tôn giáo còn bao gồm những lời cầu nguyện thánh thần ban phước lành cho những mối quan hệ đó.[52][53] Cuốn "Almanac of Incantation" ("Niên lịch Thần chú") có những lời cầu nguyện cho sự bình đẳng giữa tình yêu.[54] Tại Trung Đông, nhiều nhà thơ (hầu hết là Sufi) tại các nước Ả RậpBa Tư trong thời Trung cổ đã viết thơ ca tụng những cậu bé đem rượu cho họ trong các quán rượu và ngủ chung giường với họ.[55] Tại Trung Á, trên Đường tơ lụa có người bacchá, thường là người tiếp đãi viên đồng thời làm nghề mại dâm phái nam ăn mặc lộng lẫy và có trang điểm. Những người bachá hát và múa những bài hát khiêu dâm cho khán giả. Họ được huấn luyện từ còn nhỏ và làm việc cho đến khi râu mọc.[56] Đến thế kỷ thứ 7, khi Hồi giáo trở thành tôn giáo chính yếu ở Trung Đông, đồng tính luyến ái chính thức bị xem là tội lỗi. Luật Hồi giáo (Sharia) coi đồng tính luyến ái là một trong những tội nghiêm trọng cần phải trừng phạt nghiêm khắc.

Israel được cho là quốc gia nhân nhượng nhất ở Trung Đông và châu Á đối với đồng tính luyến ái, Tel Aviv có biệt danh "thủ đô đồng tính của Trung Đông". Lễ diễu hành hàng năm ủng hộ đồng tính luyến ái cũng diễn ra ở Tel Aviv mà không bị ngăn cấm. Ngược lại, nhiều chính phủ ở Trung Đông thường phớt lờ, phủ nhận sự hiện diện, hoặc hình sự hóa đồng tính luyến ái. Đồng tính luyến ái bị coi là bất hợp pháp ở hầu hết các nước Hồi giáo. Hoạt động tình dục cùng giới chính thức nhận án tử hình ở một vài quốc gia Hồi giáo: Ả Rập Saudi, Iran, Mauritania, bắc Nigeria, Sudan, Afghanistan, và Yemen.

Châu Âu

 
Người đàn ông La mã và một thiếu niên trên giường vào giữa thế kỷ I. Tìm thấy gần Jerusalem.

Trong Kinh Thánh có mô tả về Thành phố Sodome, nơi mà nhiều cư dân nam có hành vi tình dục đồng giới. Thành phố này đã bị thiêu hủy bởi trận mưa lửa từ trên trời do Thượng đế giáng xuống để trừng trị hành vi đồng tính của cư dân nơi đây. Từ Sodome cũng trở thành thông dụng để chỉ việc quan hệ tình dục đồng giới của nam tại phương Tây.

Tài liệu lâu đời nhất ở Tây phương (dưới dạng tác phẩm văn học, nghệ thuật, và thần thoại) có đề cập đến các mối quan hệ đồng tính được bắt nguồn từ Hy Lạp cổ. Theo phong tục chính thống, đó là một mối quan hệ gợi dục nhưng thường bị dằn nén giữa một người đàn ông tự do và một thiếu niên tự do, được ưa chuộng bởi những lợi ích về mặt giáo dục nó mang lại và được xem như một phương tiện để điều chỉnh dân số, nhưng đôi khi cũng bị cho là nguyên do dẫn đến sự mất trật tự. Plato ca ngợi nó trong những văn bản đầu tiên của ông,[57] tuy nhiên ông lại đề xuất việc ngăn cấm nó trong những tác phẩm sau này, vì ông cho rằng mối quan hệ này về lâu dài sẽ làm suy giảm nam tính và sức chiến đấu của quân đội, và gây rối loạn trật tự xã hội.[58]

La Mã cổ đại, thân thể một người nam trẻ tuổi vẫn được coi là tâm điểm tình dục của nam giới, nhưng những mối quan hệ chỉ diễn ra giữa những người đàn ông tự do cùng nô lệ hoặc cùng những thanh niên tự do với vai trò "thụ động" trong tình dục. Vị Hoàng đế ái Hy Lạp tên Hadrian được biết đến với mối quan hệ cùng Antinous. Theo nhà sử học Edward Gibbon, trong 250 năm, Đế quốc La Mã đã thống trị phần lớn châu Âu, văn minh La Mã là tiên tiến bậc nhất thế giới và Quân đội Đế quốc La Mã gần như không có đối thủ. Nhưng đến thế kỷ 2, khi đế chế La Mã đang thịnh vượng, đạo đức xã hội cũng dần bị suy đồi. Mại dâm, múa thoát y diễn ra công khai, đồng tính luyến ái trở nên phổ biến, thậm chí được coi là "mốt thời thượng". Đời sống văn hóa bị suy đồi, vì đời sống phóng đãng và đồng tính luyến ái mà người La Mã đã lơ đãng một nhiệm vụ quan trọng nhất, đó là "duy trì nòi giống". Trong vòng 200 năm, hiện tượng suy giảm nhân khẩu và binh lính La Mã mất nhuệ khí chiến đấu ngày càng nghiêm trọng. Những người La Mã, như Gibbon nói, đã trở thành "ẻo lả như phụ nữ và không muốn sống theo kiểu quân sự". Đây chính là một trong những nguyên nhân đẩy đế chế Tây La Mã đến chỗ diệt vong.

Tại Đông La Mã, Hoàng đế Cơ Đốc giáo Theodosius I đã ra một đạo luật vào ngày 6 tháng 8 năm 390, bắt buộc những người nam đóng vai trò "thụ động" phải bị hỏa thiêu. Mặc dù những quy định như thế đã được ban hành, các nhà chứa với các cậu bé cung cấp dịch vụ tình dục đồng tính vẫn bị đánh thuế cho đến hết triều đại Anastasius I năm 518. Justinianus I, vào cuối thời kì trị vì của mình, đã mở rộng luật cấm đối với cả những người nam đóng vai trò "chủ động" (vào năm 558), và cảnh cáo rằng hành động đó có thể dẫn đến sự hủy diệt do "cơn thịnh nộ của Chúa".

Từ nửa sau của thế kỷ 13, hầu hết mọi nơi trên châu Âu đều xử tử những người đồng tính nam. Các mối quan hệ giữa những nhân vật có tầm ảnh hưởng trong xã hội, như giữa Vua James đệ Nhất và Bá tước xứ Buckingham, đã góp phần làm nổi bật vấn đề, được viết lên cả các tờ rơi khuyết danh trên đường phố: "Thế giới đổi thay, chẳng hiểu vì sao, Để nam Hôn Nhau, chẳng màng Nữ mạo;... Giữa J. đệ Nhất và Buckingham: Ngài, chính thế, hiền Phụ tiều tụy Vòng tay, Ngài theo Ganimede, dại ngây" (Mundus Foppensis, hay The Fop Display'd (Tên Tự phụ bị Phô bày, 1691).

Vị vua Friedrich II Đại Đế, tức "Friedrich Độc đáo", trị vì nước Phổ từ năm 1740 cho đến năm 1786,[59] cũng bị nghi vấn đồng tính luyến ái. Có người đương thời nói ông hoang dâm với các triều thần.[60] Nhiều quan lại trong triều đình Phổ lúc đó hay đem sự loạn dâm đồng tính ra làm chủ đề đùa cợt.[61] Việc xử tử cho hành động kê gian vẫn tiếp diễn ở Hà Lan cho đến năm 1803, và ở Anh cho đến năm 1835, với James Pratt và John Smith là hai người Anh cuối cùng bị treo cổ vì tội trạng đó.

Giữa năm 1864 và 1880, Karl Heinrich Ulrichs đã xuất bản một loạt gồm mười hai truyền đơn mà ông đặt tên chung là "Research on the Riddle of Man-Manly Love" ("Nghiên cứu về Tình yêu Nam tính Bí ẩn của Nam giới"). Vào năm 1867, ông trở thành người đồng tính tự xưng đầu tiên lên tiếng đề nghị bãi bỏ các đạo luật chống đồng tính trên Đại hội Luật gia Đức ở Munich. "Sexual Inversion" ("Tình dục Trái ngược"), viết bởi Havelock Ellis, xuất bản năm 1896, có nội dung bênh vực đồng tính luyến ái. Mặc dù những văn bản y học như trên (được viết bằng tiếng Latinh để giấu đi những chi tiết tình dục) không được nhiều người trong công chúng đọc, những văn bản đó đã dẫn đường cho Ủy ban Khoa học-Nhân đạo của Magnus Hirschfeld vận động bãi bỏ luật chống kê gian ở Đức từ năm 1897 đến 1933, và còn là nền móng cho một phong trào không chính thức, diễn ra trong phạm vi trí thức và tác gia nước Anh, được lãnh đạo bởi những nhân vật như Edward Carpenter và John Addington Symonds. Bắt đầu vào năm 1894 với "Homogenic Love" ("Tình yêu Đồng giới"), nhà hoạt động Xã hội chủ nghĩa kiêm nhà thơ Edward Carpenter đã viết một loạt bài báo và truyền đơn ủng hộ đồng tính, cũng đã "công khai" vào năm 1916 trong cuốn sách "My Days and Dreams" ("Đời và Mộng") của ông. Năm 1990, Elisar von Kupffer cho xuất bản một tuyển tập những tác phẩm văn học đồng tính từ thời cổ đại cho đến thời của ông, tên là "Lieblingminne und Freundesliebe in der Weltliteratur".

Châu Mỹ

Cũng như nhiều nền văn hóa không phải phương Tây khác, rất khó để xác định mức độ mà các quan niệm phương Tây về xu hướng tính dục và bản dạng giới có thể áp dụng đối với các nền văn hóa trước lúc Columbus tìm ra châu Mỹ. Bằng chứng về các hành vi tình dục đồng tính luyến ái và hiện tượng mặc trang phục khác giới đã được tìm thấy ở nhiều nền văn minh trước khi Tây Ban Nha thuộc địa hoá châu MỹMỹ Latinh, chẳng hạn như người Aztec, Maya, Quechua, Moche, Zapotec, Inca và Tupinambá ở Brazil.

Những nhà chinh phục người Tây Ban Nha đã kinh hoàng khi phát hiện ra những người bản địa công khai kê gian với nhau, và cố gắng dẹp bỏ nó bằng cách bắt những người berdache (người hai tâm hồn – cách gọi của người Tây Ban Nha) dưới sự cai trị của mình phải chịu những hình phạt nghiêm khắc, bao gồm hành quyết công khai, thiêu sống và bị chó xé xác. Do ảnh hưởng và quyền lực ngày càng lớn của những kẻ chinh phục, nhiều nền văn hóa bản địa bắt đầu lên án chính các hành vi đồng tính luyến ái.

Ở một số dân tộc bản địa châu Mỹ ở Bắc Mỹ trước khi bị châu Âu thuộc địa hoá, có một hình thức quan hệ tình dục đồng giới xoay quanh hình tượng cá thể Hai Tâm Hồn (bản thân thuật ngữ này chỉ được đặt ra vào năm 1990). Thông thường, cá nhân này được công nhận sớm khi còn nhỏ, được cha mẹ cho lựa chọn đi theo con đường này và, nếu đứa trẻ chấp nhận vai trò đó, được nuôi dạy theo cách thích hợp, học các phong tục của giới tính mà nó đã chọn.[62] Các cá nhân Hai Tâm Hồn thường là những pháp sư và được tôn sùng là có sức mạnh vượt xa những pháp sư thông thường.

Hiện đại

 
Lá cờ cầu vồng, một biểu tượng của cộng đồng LGBT, trong đó có người đồng tính, trong lễ Phục sinh của người đồng tính ở Gemeinde Werneuchen, Đức, tháng 4 năm 2006.

Từ năm 1973, Hiệp hội Tâm thần học Mỹ không còn xem đồng tính luyến ái là một bệnh tâm thần nữa. Trong vài ba thập kỉ nay, tại các nước Tây phương có sự hình thành của một "nền văn hóa đồng tính". Tuy nhiên, cũng có nhiều người đồng tính không tham gia trong cộng đồng đó. Sau khi bị chính quyền Đức quốc xã cố ý tiêu diệt trong Chiến tranh thế giới thứ hai, những người đồng tính đã giành được nhiều quyền, đặc biệt là tại các nước Tây phương.

Phong trào đồng tính luyến ái được cho là bắt đầu từ thập niên 1860 và từ giữa thập niên 1950, sự đòi hỏi công nhận quyền cho người đồng tính và song tính luyến ái ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, chứng ghê sợ đồng tính luyến ái vẫn tồn tại, đặc biệt là nó làm cho nhiều người gặp nhiều khó khăn trong xã hội đôi khi dẫn đến tự tử.[63] Một số quốc gia gần đây đã cho phép người đồng tính có quyền kết hôn cũng như nhận con nuôi. Sự xuất hiện của HIV/AIDS từ giữa thập niên 1980 là một trong những vấn đề mà người đồng tính phải đương đầu trong thời gian gần đây.

Trong lĩnh vực tôn giáo, một số nhóm tôn giáo cũng bắt đầu tỏ ra cởi mở với người đồng tính. Một giáo phái Do Thái giáo đã bắt đầu mở dịch vụ làm lễ kết hôn cho người đồng tính, trong khi nhóm Anh giáo đã nhận một mục sư đồng tính. Một số ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng như Cher, Madonna,Lady Gaga, Christina Aguilera, Cyndi Lauper,... đã đưa chủ đề người đồng tính vào những bài hát, video âm nhạc, những màn biểu diễn của mình để bày tỏ sự ủng hộ của họ với giới đồng tính luyến ái. Chính nhạc disco có nguồn gốc từ sự liên kết ban đầu với lối sống của một bộ phận giới đồng tính luyến ái nam ở Thành phố New York [64][65] và sau đó được phát triển trên nền tảng nhạc đại chúng da đen trong những năm của thập niên 1970.

Ngược lại, cũng có những phong trào phản đối đồng tính luyến ái bởi những lo ngại về hậu quả xấu đối với sự phát triển lành mạnh của trẻ em, khiến luân lý gia đình tan vỡ, góp phần vào nạn già hóa dân số. Cổ vũ quan hệ đồng tính sẽ gián tiếp phá hủy các liên kết xã hội (gia đình, dòng họ, làng xóm), làm suy đồi truyền thống dân tộc và hủy hoại sức mạnh quốc gia. Một số quốc gia còn khẳng định "Phong trào LGBT" chỉ là chiêu bài của phương Tây nhằm ngấm ngầm phá vỡ bản sắc dân tộc, hủy hoại lý tưởng sống lành mạnh của thanh thiếu niên và làm suy yếu đất nước họ. Nhà nghiên cứu Alexander Lapin giải thích lý do tại sao phương Tây tài trợ cho các phong trào ủng hộ đồng tính luyến ái[66]:

Mục đích của những người ủng hộ hành vi biến thái tình dục - đó là làm suy yếu hệ thống miễn dịch của quốc gia... Các phong trào LGBT có sự tiếp sức từ bàn tay của các nhà tài trợ phương Tây. Không phải ngẫu nhiên khi Hillary Clinton cho biết rằng Mỹ sẽ "bảo vệ quyền lợi người đồng tính trên toàn thế giới". Nước Mỹ trong chính sách đối ngoại nói chung rất thích chiêu bài "bảo vệ các nhóm thiểu số" (tôn giáo, dân tộc, chính trị, xã hội và tình dục), qua đó Mỹ ngầm làm giảm đi bản sắc của các dân tộc, chế giễu lịch sử và văn hóa của họ. Và đồng tính luyến ái - được coi là "nét đẹp văn hóa", thay vì sự lệch lạc. Tất cả vì một mục tiêu - làm suy yếu hệ thống miễn dịch của các quốc gia.

Đến năm 2020, một số quốc gia (tiêu biểu là Trung QuốcNga) đã có những biện pháp như cấm báo chí tuyên truyền, cấm làm phim ảnh có nội dung cổ vũ quan hệ đồng tính... nhằm chống lại sự lai căng văn hóa đến từ phương Tây, bảo vệ trẻ em và nền tảng gia đình truyền thống như các giá trị tối cao của đất nước. Năm 2013, nước Nga dưới thời Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ra luật cấm mọi hình thức tuyên truyền về hôn nhân đồng giới. Bộ luật cấm những sự kiện cổ vũ đồng tính, quy định việc cung cấp những thông tin "tuyên truyền việc về đồng tính nữ, lưỡng tính và chuyển giới" cho trẻ vị thành niên là phạm pháp, đồng thời các sự kiện cổ vũ cho quan hệ đồng tính cũng bị cấm. Đây là một nỗ lực mới nhằm cổ vũ những giá trị truyền thống của nước Nga và chống lại chủ nghĩa tự do kiểu phương Tây, mà Chính phủ Nga tin rằng đang làm băng hoại giới trẻ và phá hủy nền tảng luân lý gia đình của nước Nga, khiến nước Nga suy yếu[67]

 
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Nga Vladimir Putin, cả 2 đều ủng hộ chính sách nghiêm cấm tuyên truyền đồng tính luyến ái nhằm ngăn chặn sự hủy hoại truyền thống văn hóa, đạo đức của dân tộc

Chính phủ Trung Quốc cũng cấm tất cả các nội dung về đồng tính luyến ái được xuất hiện trên phim ảnh, phát thanh, truyền hình, như là một phần của chính sách chống lại những nội dung "thô tục, vô đạo đức và không lành mạnh". Cảnh sát Trung Quốc giám sát chặt những hoạt động của các tổ chức phi chính phủ, và họ sẽ giải tán những hoạt động đó nếu phát hiện ra chúng có ý đồ cổ vũ đồng tính luyến ái và hôn nhân đồng tính[68] Trung Quốc cũng kiểm soát chặt các nội dung trên internet, mọi nội dung hiển thị hành vi tình dục, giới tính bất thường, bao gồm loạn luân, đồng tính luyến ái, lạm dụng tình dục, chuyển đổi giới tính đều phải bị gỡ bỏ khỏi Internet. Quy định này đã được ban hành năm 2017, sau khi chính phủ Trung Quốc nhận định sự xuất hiện dày đặc của các bộ phim về đồng tính luyến ái trên Internet đã làm băng hoại giới trẻ Trung Quốc bởi nội dung gây suy đồi đạo đức và văn hóa gia đình[69]. Năm 2021, Trung Quốc ban hành quy định cấm nam nghệ sĩ có ngoại hình "ẻo lả", nữ tính hóa[70] Tối 2/9/2021, Ban tuyên giáo Trung ương Trung Quốc tiếp tục ra chỉ thị dọn dẹp sự hỗn loạn của thị trường ca nhạc và tiếp tục cấm phim có hình ảnh đồng tính luyến ái. Trung Quốc muốn ngăn chặn những hành vi, quan niệm giới tính lệch lạc, làm ảnh hưởng đến sự phát triển thế hệ trẻ.[71]

Cơ sở khoa học

Chưa có sự thống nhất tuyệt đối giữa các nhà khoa học về nguyên nhân tại sao hình thành và phát triển một thiên hướng tình dục đặc biệt ở một người.[5] Nhiều nhà khoa học thống nhất rằng các yếu tố tự nhiên và nuôi dạy, một sự kết hợp của di truyền, nội tiết tố giai đoạn thai nhi và ảnh hưởng từ môi trường xã hội là các yếu tố ảnh hưởng tới việc hình thành thiên hướng tình dục.[5][7][13][72][72][73][74]

Nghiên cứu mới nhất năm 2020 của Đại học Durham (Anh quốc) trên các cặp song sinh cùng trứng cho thấy: nếu có 1 người là đồng tính thì tỷ lệ người kia cũng là đồng tính chỉ là 24%, dù họ có bộ gien giống hệt nhau. Các phân tích từ nghiên cứu này cho thấy: xu hướng tình dục đồng tính luyến ái chỉ có 32% là do yếu tố di truyền bẩm sinh, trong khi 25% là do ảnh hưởng từ môi trường nuôi dạy của gia đình và 43% là do ảnh hưởng từ môi trường văn hóa – xã hội[75]

Tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về đồng tính năm 2014, Alan Sanders, tuyên bố rằng "những đặc điểm phức tạp của khuynh hướng tình dục (bao gồm đồng tính) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ cả di truyền lẫn ảnh hưởng từ môi trường sống."[76] Nhà nghiên cứu McConaghy (năm 2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ xúc cảm đồng tính với hành vi đồng tính luyến ái, dẫn ông đến kết luận rằng ảnh hưởng của thứ tự sinh về mức độ xúc cảm đồng tính không phải do yếu tố sinh học, mà đó là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội.[77]

Năm 2019, một nghiên cứu quy mô lớn được tiến hành dựa trên phân tích gien của gần 500.000 người đã được công bố trên Tạp chí Khoa học Sciene. Nghiên cứu chỉ ra rằng có một số yếu tố di truyền tác động đến việc hình thành đồng tính luyến ái, tuy nhiên chúng chỉ đóng vai trò rất nhỏ (khoảng 8% đến 25%). Ảnh hưởng từ môi trường gia đình, văn hóa - xã hội (phim ảnh, sách báo, tuyên truyền, sự dạy dỗ và bạn bè) mới là nguyên nhân chính. Đây là nghiên cứu khoa học lớn nhất và kỹ lưỡng nhất về nguyên nhân hình thành hành vi tình dục đồng giới, tuy nhiên các tổ chức vận động cho người LGBT (đồng tính, song tính, chuyển giới) đã tỏ ý lo ngại rằng nghiên cứu này sẽ gián tiếp khẳng định rằng đồng tính luyến ái là một sự bất thường do ảnh hưởng từ xã hội[78]

Tâm lý học về đồng tính luyến ái

Đồng tính luyến ái bắt đầu được nghiên cứu từ cuối thế kỷ XIX. Nhà phân tâm học nổi tiếng Sigmund Freud tin rằng con người khi mới sinh ra đều là song tính, nhưng trong quá trình lớn lên, sự tác động từ văn hóa xã hội và các sự kiện trong cuộc đời khiến đa số con người sẽ chỉ yêu người khác giới.[79] Một trong những nguyên nhân của đồng tính, theo Sigmund Freud, chính là việc phải nếm trải những mối tình khác giới đau buồn khiến ham muốn yêu đương chuyển sang đối tượng cùng giới. Một nguyên nhân khác mà ông chủ trương bao gồm chứng tự yêu bản thân, việc yêu người cùng giới tính chính là biểu hiện mở rộng của tâm lý tự yêu chính mình.[80][81]

Tâm lý học là một trong những môn khoa học đầu tiên nghiên cứu một hướng đồng tính luyến ái là một lĩnh vực độc lập. Những nỗ lực đầu tiên để phân loại đồng tính luyến ái là một bệnh đã được thực hiện bởi những nhà tình dục học non trẻ châu Âu trong những năm cuối thế kỷ XIX. Năm 1886, nhà tình dục học Richard von Krafft-Ebing đã xếp chung đồng tính luyến ái cùng với 200 trường hợp nghiên cứu khác của hành vi tình dục lệch lạc. Trong hai thập niên cuối của thế kỷ XIX, một quan điểm khác nhau bắt đầu chiếm ưu thế trong y khoa và tâm thần, đánh giá hành vi như chỉ định của một loại người có khuynh hướng tình dục rõ ràng và tương đối ổn định. Trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, các mô hình bệnh lý của đồng tính luyến ái được coi là tiêu chuẩn.

Năm 1952, khi Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ công bố đầu tiên hệ thống chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DMS), tình dục đồng giới đã được liệt kê như là một rối loạn. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm đã không cũng cấp được bằng chứng để khẳng định rằng đồng tính luyến ái là một rối loạn hay bất thường. Từ kết quả tích lũy từ các nghiên cứu, các chuyên gia cho rằng cần xem xét lại việc phân loại đồng tính luyến ái là một rối loạn tâm thần.[82][83]

Sau một cuộc bỏ phiếu, với 58% phiếu thuận và 42% phiếu chống, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ đã loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh mục các chứng bệnh tâm thần kể từ năm năm 1973.[82] Sau khi xem xét kỹ các dữ liệu khoa học, các Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ đã thông qua các tuyên bố tương tự vào năm 1975. Tất cả các tổ chức y tế lớn trên thế giới hiện nay đều không phân loại đồng tính luyến ái là một bệnh hay rối loạn tâm thần. Năm 1973, Hội đồng Quản trị của Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ (American Psychiatric Association) - tổ chức tâm thần học lớn nhất tại Mỹ đã loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần. Có giai đoạn đồng tính luyến ái từng được coi là kết quả của những tác động, biến cố, khó khăn từ môi trường gia đình, xã hội hay gặp lỗi trong phát triển tâm lý[84][85] Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội cũng đã thông qua một chính sách tương tự. Các chuyên gia sức khỏe tâm thần và các nhà nghiên cứu cho rằng đồng tính luyến ái không gây bất kỳ trở ngại nào để tạo lập một cuộc sống tốt và hiệu quả, và phần lớn những người đồng tính nam và nữ tham gia tốt một cách đầy đủ vào các mối quan hệ cá nhân và đời sống xã hội.[6][13]

Sự đồng thuận lâu dài của nghiên cứu và lâm sàng cho thấy rằng đồng tính, sự hấp dẫn cảm xúc, tình yêu, tình dục và hành vi này là một biến thể của tính dục con người. Hiện nay có một lượng lớn các bằng chứng nghiên cứu chỉ ra rằng việc đồng tính hoặc song tính tương thích với sức khỏe tâm thần bình thường và điều chỉnh xã hội. Tuy vậy, những hành vi phân biệt đối xử trong xã hội và từ chối bởi gia đình bạn bè và những người khác, chẳng hạn như từ người sử dụng lao động, khiến cho nhiều người LGBT trải nghiệm lớn hơn tỷ lệ dự kiến của những khó khăn về sức khỏe tâm thần. Mặc dù đã có yêu sách của các nhóm chính trị bảo thủ ở Mỹ rằng tỷ lệ mắc bệnh cao hơn, những khó khăn về sức khỏe tâm thần cũng như cho rằng đồng tính luyến ái chính nó là một rối loạn tâm thần, thì hiênh không có bằng chứng vững chắc để chứng minh cho những tuyên bố như vậy.[86] Trong "Nghị quyết về Giới tính và tình dục học đa dạng ở trẻ em và thanh thiếu niên học đường" được thông qua tháng 4/2014, Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association) - tổ chức nghiên cứu về tâm lý học lớn nhất nước Mỹ và Hiệp hội quốc gia các nhà tâm lý học (the National Association of School Psychologists) đã khẳng định:[87] Con người có sự thể hiện đa dạng trong thiên hướng tình dục, bản sắc giới tính và biểu hiện giới tính. Đồng tính luyến ái, sự hấp dẫn cảm xúc, tình yêu và tình dục đồng giới là một biến thể bình thường và tích cực của tính dục con người. Đồng thời, lĩnh vực tâm lý có vai trò và nhiệm vụ thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của bản sắc cá nhân, bao gồm: thiên hướng tình dục, biểu hiện giới tính và bản sắc giới tính của tất cả các cá nhân.[6]

Hệ thống tiêu chuẩn phân loại, thống kê quốc tế về bệnh và vấn đề sức khỏe liên quan năm 1977 của Tổ chức Y tế Thế giới (gọi tắt là ICD-9) thì đồng tính luyến ái được liệt kê như là một bệnh tâm thần, nhưng nó đã được gỡ bỏ từ ICD-10, được thông qua bởi Hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 43 vào ngày 17 tháng 5 năm 1990.[88][89][90] Tuy nhiên, cần lưu ý là cho tới nay vẫn có nhiều nhà tâm lý học không đồng ý với việc loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách các bệnh tâm thần[91]

Hiệp hội Tâm thần Trung Quốc thì loại bỏ đồng tính luyến ái trong phân loại rối loạn tâm thần vào năm 2001 sau 5 năm nghiên cứu của hiệp hội. Tuy nhiên, nó vẫn được các nhà tâm thần học Trung Quốc coi là một trong các tác nhân gây ra các chứng bệnh tâm thần khác, và quy trình điều trị đồng tính được Trung Quốc quy định cụ thể (dù các cơ sở điều trị đồng tính rất hiếm ở Trung Quốc).[92]

Tổ chức Y tế thế giới WHO đã loại bỏ đồng tính luyến ái trong danh mục bệnh ICD-10 từ ngày 17 tháng 5 năm 1990. Ngày 17 tháng 5 hàng năm đã được chọn là "Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người đồng tính, song tính và chuyển giới (Tiếng Anh: International Day Against Homophobia and Transphobia, viết tắt: IDAHOT.[93]

Tranh luận về phân loại bệnh tâm thần

Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (American Psychiatric Association) đã loại đồng tính luyến ái khỏi danh sách các bệnh sau một cuộc bỏ phiếu năm 1973, với 58% phiếu thuận và 42% phiếu chống (chưa kể phiếu trắng).[91] Ảnh hưởng bởi các quyết định này, năm 1975, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association) cũng đưa ra kết luận tương tự và đến năm 1990 là Tổ chức y khoa thế giới. Tuy nhiên, đến nay vẫn có những tổ chức và nhà tâm lý học phản đối những quyết định này. Họ cho rằng quyết định đó là do áp lực chính trị dữ dội từ các tổ chức ủng hộ đồng tính chứ không phải vì các bằng chứng khoa học vững chắc[94][95] (xem các tranh luận tại Tâm lý học về đồng tính luyến ái).

Các nhà tâm lý học phản đối quyết định của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ thì cho rằng: không có bất kỳ bằng chứng khoa học hợp lệ nào để coi đồng tính luyến ái không phải là một vấn đề tâm thần, trong khi quyết định này đã "xóa bỏ không chỉ hàng trăm báo cáo nghiên cứu tâm thần và phân tâm học; mà cả một số nghiên cứu toàn diện bởi nhóm các bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học uy tín trong hơn 70 năm trước đó". Việc các biện pháp trị liệu không có tác dụng, sự không lây lan... không thể lấy làm lý do để loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh (ví dụ: Hội chứng Down cũng là không lây và hiện không thể chữa).[96] Thực tế, tài liệu của APA cũng ghi nhận rằng với nhiều người, thiên hướng tình dục không phải là bẩm sinh, bất biến mà còn có sự ảnh hưởng từ môi trường. Nhiều người đã xuất bản sách nói về sự tự từ bỏ thiên hướng đồng tính sau khi trị liệu tâm lý.[97][98][99][100] Truyền thông đại chúng cũng góp sức lan truyền sự thiếu sót về khoa học đó khi không đăng tải những nghiên cứu dạng như vậy, trong khi lại loan tải những thông tin mà các tổ chức ủng hộ đồng tính đưa ra vì dễ bán chạy hơn.[94]

Hiệp hội Tâm thần Trung Quốc thì không xếp đồng tính luyến ái trong phân loại rối loạn tâm thần vào năm 2001 sau 5 năm nghiên cứu, tuy nhiên nó vẫn được các nhà tâm thần học Trung Quốc coi là một trong các tác nhân gây ra các chứng bệnh tâm thần khác, và quy trình điều trị đồng tính được Trung Quốc quy định cụ thể (dù các cơ sở điều trị đồng tính rất hiếm ở Trung Quốc).[92]

Tiến sĩ Stanton L. Jones, giáo sư tâm lý học tại Đại học Wheaton, nói rằng ông có Bảng tổng hợp ý kiến giữa các chuyên gia về điều này: "Tôi sẽ không coi đồng tính luyến ái là một dạng bệnh giống như tâm thần phân liệt hay rối loạn ám ảnh. Nhưng cũng không thể xem nó là một "lối sống bình thường" giống như kiểu sống nội tâm hoặc sống hướng ngoại".[101]

Các yếu tố hình thành

Có nhiều giả thuyết về các yếu tố hình thành nên thiên hướng tình dục đồng tính, trong đó bao gồm:

  • Kiểu gen (bẩm sinh):[102] Nhiều người nghĩ đồng tính là bẩm sinh và do gen quyết định. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Peter Bearman và Hannah Bruckner, từ Đại học ColumbiaĐại học Yale, khi nghiên cứu dữ liệu từ Trung tâm Y tế quốc gia vị thành niên, cho biết xác suất cả hai người trong cặp song sinh đều là đồng tính chỉ là 6,7% với nam và 5,3% với nữ. Họ kết luận: kiểu gen chỉ là một trong những nguồn gốc của đồng tính luyến ái, những nguyên nhân khác như ảnh hưởng từ văn hóa, xã hội và gia đình với trẻ em đóng vai trò quan trọng hơn.[103]
  • Môi trường văn hóa - xã hội và sự dạy dỗ:[102]
    • Sự tương quan với môi trường sống: đồng tính luyến ái có tương quan với sự đô thị hóa của nơi đối tượng ở lúc 14 tuổi (độ tuổi bắt đầu dậy thì và có sự định hình về hấp dẫn giới tính). Sự tương quan ở nam cao hơn ở nữ. Mức độ đô thị hóa càng cao thì tỷ lệ đồng tính càng có xu hướng tăng, nguyên nhân vì ở các thành phố lớn có các chuẩn mực đạo đức lỏng lẻo hơn, lối sống cá nhân cao hơn cũng như có nhiều tác động văn hóa-xã hội khó kiểm soát, khiến vị thành niên tại đó dễ có thiên hướng đồng tính hơn.[104][105][106][107]
    • Yếu tố gia đình: sự thiếu bảo bọc của người cha và sự gắn bó quá mật thiết với người mẹ là nhân tố chính hình thành đồng tính ở nam giới. Đối với nữ, việc có mẹ qua đời ở tuổi vị thành niên, là con út hay con gái duy nhất trong gia đình cũng làm tăng khả năng đồng tính. Những người có cha mẹ ly hôn hoặc mất sớm sẽ có xu hướng đồng tính cao hơn những người có cha mẹ hạnh phúc.[108][109][110]
    • Chấn thương tâm lý: Việc bị chấn thương tâm lý do bị lạm dụng tình dục cũng là một yếu tố. Một nghiên cứu trong Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ phát hiện ra rằng "vị thành niên bị lạm dụng tình dục, đặc biệt là nam giới, có khả năng tự nhận mình là người đồng tính hay song tính cao gấp 7 lần so với những người không bị lạm dụng".[111] Một nghiên cứu khác cho thấy rằng "46% nam đồng tính so với 7% của nam dị tính báo cáo rằng đã bị lạm dụng tình dục. Con số này tương ứng là 20% trong số đồng tính nữ so với 1% ở nữ dị tính".[112]
    • Ảnh hưởng từ văn hóa xã hội: Khuôn mẫu tình dục của mỗi cá nhân là một sản phẩm của văn hóa xã hội. Những xã hội có xu hướng chấp nhận đồng tính thì sẽ có nhiều cá nhân có khuynh hướng đồng tính hơn. Tại Mỹ, đã có sự gia tăng số phụ nữ cảm thấy thu hút đồng tính. Nhà nghiên cứu Binnie Klein cho rằng "rõ ràng là một sự thay đổi trong xu hướng tình dục trong tâm trí nhiều người hơn hơn bao giờ hết, và có nhiều cơ hội hơn - và sự chấp nhận - để vượt qua làn ranh (về giới tính)".[113] Toni Meyer, nhà nghiên cứu cao cấp của Hội đồng Chính sách gia đình bang New Jersey (Mỹ), cho biết: cùng với phong trào ủng hộ đồng tính lên cao, từ năm 1994, số đồng tính nam (ở Mỹ) đã tăng 18%, và số lượng đồng tính nữ còn tăng tới 157%. Điều này cho thấy những yếu tố văn hóa có tác động mạnh mẽ trong việc khuyến khích các hành vi đồng tính, và ít nhất là gián tiếp, làm suy yếu toàn bộ lý thuyết về việc "đồng tính là bẩm sinh".
  • Số lượng anh trai của đối tượng (đối với người đồng tính nam):[114] Theo nhiều nhiên cứu, có thêm một người anh trai sẽ tăng khả năng là đồng tính lên 28%–48%.[115][116][117][118] Hiệu ứng anh trai chiếm khoảng 1/7 trong số người đồng tính nam.[119] Không có sự tương quan giữa số chị gái và sự đồng tính của một người nữ.[120]
  • Hoócmôn trong giai đoạn bào thai:[121][122] Các chuyên gia của Viện Toán và Tổng hợp sinh học quốc gia (Mỹ) cho rằng đồng tính luyến ái có liên hệ với "ngoại tố di truyền học", gọi là epi-mark. Epi-mark về giới tính được sản sinh trong giai đoạn đầu bào thai, nhằm bảo vệ giới tính không bị testosterone ảnh hưởng, ngăn bào thai nữ phát triển theo hướng nam tính và ngược lại. Tuy nhiên trong một số trường hợp, những epi-mark đó được truyền từ cha sang con gái hoặc từ mẹ sang con trai, gây hiệu ứng đảo nghịch về sự hấp dẫn giới tính.[123]
  • Sự lo âu của người mẹ khi mang thai[124][125][126]
  • Tổng hợp của các yếu tố trên

Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics) khẳng định rằng "Thiên hướng tình dục được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu gen, hoocmon và ảnh hưởng môi trường".[127] Nhiều tranh cãi tiếp tục dựa trên các yếu tố sinh học và/hoặc tâm lý như kiểu gen và sự hoạt động của một số hoocmon ở bào thai. Sigmund Freud và các nhà tâm lý học khác xác nhận rằng sự hình thành thiên hướng tình dục do nhiều nhân tố, trong đó có các sự việc quá khứ xảy ra trong thời thơ ấu. Tiến sĩ tâm lý học nổi tiếng người Tây Ban NhaEnrique Rojas thì cho rằng: 95% nguyên nhân dẫn tới đồng tính là do các yếu tố môi trường như sự thiếu vắng quan tâm của người cha, người mẹ hung dữ hoặc bị lạm dụng tình dục trong thời thơ ấu.

Nhà nghiên cứu Lisa Diamond, khi xem xét các nghiên cứu về xác định tình dục đồng tính và song tính của nữ, nói rằng nghiên cứu tìm thấy "sự thay đổi và tính linh động trong tình dục đồng giới, nó mâu thuẫn với mô hình thông thường cho rằng khuynh hướng tình dục là cố định và bẩm sinh".[128] Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các hành vi không phù hợp với giới tính ở trẻ em là chỉ báo lớn nhất của tình dục đồng giới ở tuổi trưởng thành.[10][129] Dary Bem cho thấy rằng một số trẻ em khi chứng kiến hành vi tình dục đồng tính có thể gợi lên kích thích sinh lý, mà sau này sẽ được chuyển thành kích thích tình dục. Peter Bearman cho rằng những phát hiện của ông ủng hộ giả thuyết rằng hành vi giới tính trong thời thơ ấu và thiếu niên sẽ góp phần hình thành quan hệ đồng tính ở tuổi trưởng thành. Ngoài những tác động cá nhân, cấu trúc xã hội và những ảnh hưởng từ văn hóa xã hội cũng góp phần tạo ra sự thu hút đồng tính. Tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về đồng tính năm 2014, Alan Sanders, tuyên bố rằng "những đặc điểm phức tạp của khuynh hướng tình dục (bao gồm đồng tính) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ cả di truyền lẫn ảnh hưởng từ môi trường sống".[76] Nhà nghiên cứu McConaghy (năm 2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ xúc cảm đồng tính với hành vi đồng tính luyến ái, dẫn ông đến kết luận rằng ảnh hưởng của thứ tự sinh về mức độ xúc cảm đồng tính không phải do yếu tố sinh học, mà đó là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội.[77]

Hai nhà nghiên cứu Bearman và Bruckner (năm 2002) đã nghiên cứu 289 cặp song sinh giống hệt nhau (song sinh cùng trứng) và 495 cặp cặp song sinh khác trứng và tìm thấy rằng chỉ có 7,7% cặp song sinh cùng trứng nam và 5,3% cặp song sinh cùng trứng nữ đều là đồng tính, một kết quả giúp họ đưa ra kết luận "không có cơ sở cho thấy ảnh hưởng của di truyền là độc lập với ảnh hưởng từ bối cảnh xã hội (đối với việc hình thành đồng tính luyến ái)".[129]

Năm 2010, nghiên cứu của trường Queen Mary và Viện Nghiên cứu KarolinskaStockholm đã theo dõi 3.826 cặp song sinh cùng trứng và nhận thấy: dù có bộ gen giống hệt nhau, tỷ lệ số cặp song sinh cùng là đồng tính khi trưởng thành là rất thấp. Nghiên cứu kết luận: môi trường sống không chia sẻ là yếu tố đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành đồng tính luyến ái, trong khi yếu tố bẩm sinh chỉ có vai trò nhỏ tới trung bình. Cụ thể, ảnh hưởng từ di truyền chiếm 34-39%, ảnh hưởng từ môi trường sống không chia sẻ lên mỗi cá nhân (đã loại bỏ các yếu tố môi trường chia sẻ) chiếm 61-66% trong việc hình thành đồng tính nam, tỷ lệ tương ứng đối với đồng tính nữ là 18% và 80%.[74]

Khả năng thay đổi của thiên hướng tình dục

Nhiều người cho rằng thiên hướng tình dục là không thể thay đổi giống như màu tóc, vân tay... Nhưng thực ra, thiên hướng tình dục (bao gồm đồng tính, dị tính hoặc song tính) không phải là cố định, nó có thể thay đổi từ dạng này sang dạng khác. Hiệp hội Tâm thần học Mỹ (APA) tuyên bố rằng "một số người tin rằng thiên hướng tình dục là bẩm sinh và cố định; Tuy nhiên, thực tế khuynh hướng tình dục luôn phát triển trong suốt cả một đời người".[130] Trong một tuyên bố phát hành cùng với Tổ chức y tế Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm thần học Mỹ cho rằng "những người khác nhau nhận ra tại các điểm khác nhau trong cuộc đời rằng họ là dị tính, đồng tính nam, đồng tính nữ, hay song tính".[84] Một báo cáo từ Trung tâm Y tế và sức khỏe tâm thần cho biết: "Đối với một số người, thiên hướng tình dục là liên tục và cố định trong suốt cuộc đời họ. Đối với những người khác, thiên hướng tình dục có thể là linh động và thay đổi theo thời gian".[131] Nghiên cứu của Lisa Diamond về "Song tính nữ từ tuổi vị thành niên đến tuổi trưởng thành" cho thấy rằng có "tính lưu động đáng kể trong thiên hướng song tính, hoặc không rõ ràng, và đồng tính nữ tại thời điểm khảo sát, về hành vi và bản sắc".[132][133]

Nhiều nghiên cứu báo cáo rằng: nhiều người đã tự phủ định khuynh hướng đồng tính khi nó manh nha xuất hiện trong tâm trí họ nhằm tránh phải xung đột với các giá trị xã hội và tôn giáo.[134][135][136][137] Sau khi xem xét các nghiên cứu, Judith Glassgold, chủ tịch của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ phụ trách về tâm lý tình dục, cho biết một số người có sự tự phủ định khuynh hướng đồng tính và "không có bằng chứng rõ ràng về tác hại (của sự tự phủ định này)".[138]

Nghiên cứu khác[ai?]Canada năm 2004 cho biết: với những người thuộc nhóm trên 65 tuổi, tỷ lệ tự nhận mình là đồng tính hoặc song tính là 0,37%, thấp hơn gần 6 lần so với tỷ lệ 1,96% ở nhóm 18-34 tuổi.[cần dẫn nguồn] Nghiên cứu 7.500 người ở Úc năm 2003 cho thấy: ở độ tuổi 20-24, tỷ lệ đồng tính nam là 2,8% và đồng tính nữ là 4,6%, nhưng đến độ tuổi 50-54, tỷ lệ tương ứng đã tụt xuống còn 1,9% và 1%.[139] Nghiên cứu về thanh niên trong độ tuổi 21-26 ở New Zealand cho thấy: 1,9% nam giới từ đồng tính trở thành bình thường, trong khi 1% từ bình thường trở thành đồng tính (con số tương ứng ở nữ là 9,5% và 1,3%); hấp dẫn đồng tính là không ổn định ở tuổi dậy thì, đặc biệt là ở nữ; tỷ lệ đồng tính nữ ở New Zealand cao hơn nhiều so với AnhMỹ (2 nước có thái độ xã hội khắt khe với đồng tính hơn so với New Zealand).[cần dẫn nguồn] Những quan sát này, cùng với sự thay đổi về giáo dục, phù hợp với một vai trò tác động to lớn của môi trường xã hội tạo nên người đồng tính.[140]

Tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về đồng tính năm 2014, Alan Sanders, tuyên bố rằng "những đặc điểm phức tạp của khuynh hướng tình dục (bao gồm đồng tính) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ cả di truyền lẫn ảnh hưởng từ môi trường sống."[76] Nhà nghiên cứu McConaghy (năm 2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ xúc cảm đồng tính với hành vi đồng tính luyến ái, dẫn ông đến kết luận rằng ảnh hưởng của thứ tự sinh về mức độ xúc cảm đồng tính không phải do yếu tố sinh học, mà đó là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội.[77]

Nghiên cứu của Dary Bem cho thấy rằng một số trẻ em khi chứng kiến hành vi tình dục đồng tính có thể bị gợi lên kích thích sinh lý, mà sau này sẽ được chuyển thành kích thích tình dục. Peter Bearman cho rằng những phát hiện của ông ủng hộ giả thuyết rằng hành vi giới tính trong thời thơ ấu và thiếu niên sẽ góp phần hình thành quan hệ đồng tính ở tuổi trưởng thành. Ngoài những tác động cá nhân, những ảnh hưởng từ phim ảnh, văn học, văn hóa xã hội cũng góp phần tạo ra sự thu hút đồng tính.[129]

Những nghiên cứu trên cho thấy xu hướng tình dục không phải là bẩm sinh mà nó có thể biến đổi theo thời gian, có thể từ dị tính sang đồng tính hoặc ngược lại. Sự biến đổi diễn ra như thế nào phụ thuộc vào yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường (sự tác động của văn hóa xã hội, tôn giáo, gia đình, bạn bè, phim ảnh, sách báo...)

Các vấn đề tâm lý và lối sống

Trong khi theo quan điểm của nhiều người, những hành vi đồng tính là 'không tự nhiên' và 'không bình thường',[14] tuy nhiên những nghiên cứu chỉ ra rằng đồng tính luyến ái là một ví dụ cho thấy sự biến thể đa dạng của tình dục loài người.[5][15] Từ cuối những năm 1990, nhiều nghiên cứu ngẫu nhiên[ai?] đã buộc các nhà tâm lý trị liệu xác nhận rằng đồng tính và song tính luyến ái đi kèm với tỷ lệ gia tăng của bệnh tâm thần, nhưng họ nhanh chóng cho rằng đó là kết quả của sự phân biệt đối xử và thành kiến[15]

Tuy nhiên, Luật sư Mathew D. Staver, chủ tịch tổ chức chống đồng tính Liberty Counsel,[141] trong sách "Same Sex Marriage: Putting Every Household At Risk" nói rằng có nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây đã lập luận chống lại quan niệm này, và cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy bản chất của người đồng tính và song tính luôn có liên kết với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tâm thần, bất kể dù họ không bị kỳ thị. Ông Mathew D. Staver còn dẫn báo cáo trong Tạp chí sức khỏe tâm thần Havard, cho biết tỷ lệ người đồng tính Hà Lan gặp phải vấn đề tâm lý vẫn cao hơn rất nhiều mức trung bình, dù Hà Lan là nước đặc biệt cởi mở với đồng tính và hôn nhân đồng tính ở đây là hợp pháp.[142]

Theo nghiên cứu công bố năm 1997 của Paul Van de Ven và cộng sự trên 256 người đồng tính cao tuổi (trên 49 tuổi), phần lớn ở ÚcNew Zealand, về số lượng đối tác tình dục cho thấy: 21,6% có từ 100 đến 500 bạn tình, chỉ 2,7% có duy nhất 1 bạn tình, các nhóm khác (gồm 2-10, 11-20, 21-50, 51-100, 501-1.000 và trên 1.000 bạn tình) chiếm tỉ lệ dao động từ 10,2-15,7%. Khoảng 45% đã có quan hệ tình dục với từ 2 tới 10 bạn tình trong vòng 6 tháng gần nhất.[143] Khảo sát năm 1991 ở New York của Meyer-Balburg H. Exner và cộng sự trên 121 nam đồng tính có HIV và 81 nam đồng tính không có HIV cho kết quả: mỗi đồng tính nam có HIV, là nhóm có nhiều hành vi nguy cơ nhất, có trung bình 308 đối tác tình dục trong suốt cuộc đời, trong khi con số này của đồng tính nam không có HIV, nhóm có hành vi nguy cơ ít hơn, là 143.[144] Đối với đồng tính nữ cũng tương tự, nhiều người có quan hệ tình dục với cả nam lẫn nữ. Tỷ lệ đồng tính nữ đã có hơn 50 bạn tình nam giới cao hơn gấp 4 lần so với phụ nữ bình thường.[145]

Khảo sát tại Mỹ cho thấy: 32% người đồng tính nghiện rượu,[146] tỷ lệ lạm dụng thuốc của người đồng tính là khoảng 28-35%, so với tỷ lệ 10-12% trong dân số nói chung.[147] Một nghiên cứu năm 2012 của Trung tâm tiến bộ Hoa Kỳ (tổ chức chuyên nghiên cứu chính sách công cộng) cho biết: 25% người đồng tính và chuyển giới nghiện rượu so với mức 5-10% của toàn nước Mỹ, đồng tính nam có tỷ lệ nghiện thuốc lá cao hơn 2 lần, tỷ lệ dùng chất kích thích gấp 12 lần, dùng cần sa gấp 3,5 lần và heroin gấp 9,5 lần so với nhóm nam giới còn lại.[cần dẫn nguồn] Các nghiên cứu phát hiện ra rằng người đồng tính ở Đan Mạch - nơi rất khoan dung với đồng tính - có tuổi thọ trung bình chỉ là 51 đối với nam và 56 với nữ, trong khi tuổi trung bình của người Đan Mạch là 74 với nam và 78 với nữ. Ở Na Uy, đồng tính có tuổi thọ trung bình thấp hơn 25 tuổi so với trung bình cả nước.[cần dẫn nguồn]

Quan hệ tình cảm

Mỗi người đồng tính có thể thể hiện tình dục của họ bằng cách này hay cách khác, và cũng có thể không có hành vi nào thể hiện ra.[148] Một số chủ yếu quan hệ tình dục với người cùng giới, một số chủ yếu với người khác giới, cả hai giới hoặc kiêng tình dục. Nghiên cứu cho thấy nhiều người đồng tính mong muốn có mối quan hệ bền vững và một phần trong số họ cũng đã thực hiện được. Một kết quả thống kê cho thấy 40% đến 60% đồng tính nam và 45% đến 80% đồng tính nữ hiện đang có một quan hệ tình cảm.[149] Có những nghiên cứu cho thấy các cặp đồng tính và các cặp dị tính là tương đương nhau về mặt toại nguyện và sự gắn kết nhiều hay ít trong quan hệ tình cảm.[150][151] Nghiên cứu cho thấy đặc điểm tuổi tác và giới tính có liên quan nhiều đến sự toại nguyện và sự gắn kết hơn là thiên hướng tình dục; người đồng tính và người dị tính có chung những mong muốn và lý tưởng trong tình cảm.[152]

Tuy nhiên thống kê cũng cho thấy chỉ có 18-28% cặp đồng tính nam và 8-21% cặp đồng tính nữ ở Hoa Kỳ đã sống với nhau được 10 năm trở lên.[153] Khảo sát ở Na UyThụy Điển cho thấy: các cặp đồng tính nam có tỷ lệ ly hôn cao hơn 50%, với đồng tính nữ cao hơn 167% so với các cặp vợ chồng nam-nữ thông thường.[154] Đại học Chicago và nhà xã hội học Edward Laumann lập luận rằng "cư dân đồng tính điển hình trong thành phố dành hầu hết cuộc sống trong các mối quan hệ tình cảm mang tính "giao dịch", hoặc chỉ duy trì được quan hệ ngắn hơn sáu tháng".[155]

Một nghiên cứu về đồng tính namHà Lan được công bố trong tạp chí AIDS phát hiện ra rằng "thời gian có quan hệ ổn định" với mỗi bạn tình chỉ là 1 năm rưỡi, và mỗi đồng tính nam có trung bình 8 đối tác tình dục mỗi năm.[156] Đối với đồng tính nữ, nhiều người có quan hệ tình dục với cả nam giới. Tỷ lệ đồng tính nữ đã có hơn 50 bạn tình nam giới cao hơn gấp 4 lần so với phụ nữ bình thường.[145] Như vậy quan hệ giữa các cặp đồng tính kém bền vững hơn nhiều các cặp dị tính, trong khi số bạn tình lại nhiều hơn hẳn. Lý do được đưa ra là họ ít có ràng buộc, chẳng hạn như không có hôn thú và con cái, bên cạnh đó là do lối sống thích tìm kiếm nhiều bạn tình mới của họ. Trong nghiên cứu của Michael Pollack, ông thấy rằng "ít khi mối quan hệ đồng tính kéo dài hơn hai năm, nhiều đàn ông đồng tính cho biết họ đã có hàng trăm bạn tình".[157]

Các tổ chức ủng hộ đồng tính vẫn tuyên truyền rằng tình yêu đồng tính không có gì khác biệt so với tình yêu nam-nữ, tuy nhiên thực tế lại rất khác. Chính bản thân "văn hóa đồng tính" luôn thôi thúc người đồng tính liên tục tìm kiếm các bạn tình mới, thay vì tôn trọng chế độ một vợ một chồng như các cặp dị tính.[158] Andrew Sullivan, một tác giả nổi tiếng về đồng tính, cho biết các cặp đồng tính có các tiêu chuẩn đạo đức rất khác biệt so với thông thường. Một trong số đó là "sự tồn tại các bạn tình ngoài hôn nhân", họ luôn muốn tìm nhiều bạn tình riêng dù vẫn đang chung sống với nhau. Các cặp đồng tính không xem đó là hành vi ngoại tình mà lại coi đó là điều cần thiết trong lối sống của họ.

Một khảo sát của Tạp chí Nghiên cứu Giới tính cho thấy: chỉ có 2,7% số người đồng tính lớn tuổi là chung thủy với duy nhất 1 bạn tình trong suốt cuộc đời của họ, so với tỷ lệ trên 80% ở những người bình thường.[159] Trong nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Giới tính, Paul Van de Ven khảo sát 2.583 nam đồng tính lớn tuổi và thấy rằng "số lượng bạn tình phổ biến (của nam đồng tính) là 101-500. Ngoài ra, 10,2% đến 15,7% đã có từ 501 đến 1.000 bạn tình. 10,2% đến 15,7% cho biết đã có hơn 1.000 bạn tình.[160]

Nghiên cứu của Sondra E. SolomonEsther D. Rothblum cho biết: khi được hỏi về thái độ đối với việc quan hệ tình dục với người khác ngoài bạn tình, 40,3% nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) đã từng thảo luận và chấp nhận điều đó trong vài hoàn cảnh, so với chỉ 3,5% ở nam giới đã kết hôn với nữ; số nam đồng tính phản đối là 50,4% so với 78,6% ở nam giới kết hôn với nữ. Có 58,3% nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) có quan hệ tình dục ngoài bạn tình, so với 15,2% ở nam kết hôn với nữ.[161]

Nhà nghiên cứu Brad Hayton cung cấp cái nhìn sâu sắc thái độ của nhiều người đồng tính đối với cam kết hôn nhân:

Người đồng tính có niềm tin rằng mối quan hệ hôn nhân chỉ là tạm thời và chủ yếu là vì bản năng tình dục. Quan hệ tình dục giữa họ chủ yếu vì niềm vui chứ không phải vì sự sinh sản. Và họ tin rằng nguyên tắc một vợ một chồng trong hôn nhân không phải là tiêu chuẩn và cũng không cần được khuyến khích.[162]

Khả năng thay đổi

Vài người đồng tính và song tính tìm cách giảm bớt ham muốn, tránh xa quan hệ đồng giới hoặc thay đổi thiên hướng tình dục. Họ thay đổi bằng trị liệu, thực hiện quy tắc tôn giáo hoặc tham gia vào các nhóm ex-gay (như nhóm Exodus International). Các tổ chức này thường có quan hệ mật thiết với các nhóm tôn giáo.[163] Năm 2009, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, sau khi xem xét 83 cuộc nghiên cứu về các liệu pháp chuyển đổi được thực hiện từ năm 1960, đã tuyên bố không có bằng chứng cho thấy nỗ lực thay đổi thiên hướng tình dục sẽ đưa lại kết quả, và cho biết một số nghiên cứu cho thấy các nỗ lực này có thể sẽ gây hại, dẫn đến sầu muộn và các ý tưởng tự tử.[164] Nhiều tổ chức sức khỏe và tâm thần phương Tây tin rằng thiên hướng tình dục luôn tiến triển trong suốt cuộc đời[130] và họ tôn trọng sự tự quyết định của mỗi người.[165] Các tổ chức này khuyến cáo rằng không nên cố gắng thay đổi thiên hướng tình dục vì lo ngại có tác hại nào đó.[166] Hoạt động của các nhóm ex-gay và việc trị liệu trong trường học tại Hoa Kỳ bị tranh cãi nhưng lại được các tòa án Mỹ cho phép.[167] Năm 2012, tiểu bang California ở Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật cấm áp dụng liệu pháp chuyển đổi đối với vị thành niên.[168]

Tuy nhiên, các nhà ủng hộ liệu pháp trị liệu thì cho rằng họ đã đạt thành công trong nhiều trường hợp. Theo báo cáo của Jeffrey Satinover, ông đạt được tỉ lệ 50-70% thành công trong việc thay đổi khuynh hướng tình dục từ đồng tính trở thành bình thường.[169] Các nghiên cứu tương tự đã khiến một số chuyên gia thừa nhận rằng khuynh hướng tình dục không phải là bất biến và việc thay đổi nó là có thể. Nhiều người đồng tính (dù không phải là tất cả) có thể thay đổi khuynh hướng tình dục của mình thông qua một loạt các nỗ lực tâm lý và tư vấn.[170] Báo cáo năm 2009 của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ cũng có đánh giá đột phá về trị liệu đối với khách hàng đồng tính muốn đấu tranh để vẫn trung thành với đức tin tôn giáo và không chấp nhận mình là đồng tính. Chủ tịch của Liên minh Công giáo quốc tế, Alan Chambers, mô tả bản thân mình là một người "đã vượt qua thu hút đồng tính không mong muốn", và ông bày tỏ sự hài lòng với phần này của báo cáo.

Judith Glassgold hi vọng rằng báo cáo 2009 sẽ làm dịu tranh cãi giữa 2 bên ủng hộ và phản đối: "Các nhà tâm lý tôn giáo nên nhìn nhận khía cạnh tích cực của người đồng tính. Các nhà trị liệu thế tục thì phải nhận ra rằng một số người sẽ chọn đức tin của họ thay vì ham muốn tình dục".

Đồng tính luyến ái và rối loạn định dạng giới

Cần phân biệt người có xu hướng tình dục đồng giới khác với ba dạng khác:[171]

  • Trạng thái tự cho bản thân thuộc giới tính khác: những người hoàn toàn bình thường về giải phẫu và sinh học nhưng tự cho bản thân thuộc giới tính khác và tìm cách thực hiện ý định chuyển đổi giới tính bằng các phương pháp phẫu thuật và sinh hóa (tiêm hormone).
  • Trạng thái tự cải trang quần áo để biểu lộ thành giới khác: là những người chỉ thích mặc quần áo khác giới để cảm thấy mình đặc biệt so với người khác.

Những trường hợp này còn gọi là Rối loạn định dạng giới (gender identity disorder). Rối loạn định dạng giới được phân loại như là một chứng rối loạn tâm thần bởi Trung tâm quốc tế về Phân loại bệnh và các vấn đề sức khỏe liên quan, biểu hiện của nó là những hành vi, thái độ chối bỏ giới tính của bản thân mình, gồm 3 tiêu chuẩn chẩn đoán:[172]

  • Muốn được sống và chấp nhận như một người khác giới tính, thường đi kèm với những mong muốn làm cho cơ thể, ngoại hình càng giống người khác giới càng tốt (qua trang phục, đi đứng, cách cư xử, thậm chí qua phẫu thuật chuyển giới), dù các bộ phận giới tính và sinh lý cơ thể của họ hoàn toàn bình thường và không bị dị tật.
  • Tâm lý trên tồn tại liên tục trong ít nhất hai năm.
  • Rối loạn này không phải là một triệu chứng của một chứng rối loạn tâm thần khác hoặc sự bất thường của nhiễm sắc thể.

Như vậy, Đồng tính luyến ái không phải là rối loạn định dạng giới. Nhưng ngược lại, Rối loạn định dạng giới nếu không được phát hiện và chữa trị thì bệnh nhân sẽ chuyển biến thành Đồng tính luyến ái hoặc sẽ đi tiến hành chuyển đổi giới tính. Một nghiên cứu của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ cũng khẳng định: 75% thiếu niên bị rối loạn định dạng giới sẽ có xu hướng đồng tính khi bước vào tuổi vị thành niên.[173]

Nhân khẩu học

Trong một tổng quan nghiên cứu năm 2016, Bailey và các đồng nghiệp "cho rằng trong tất cả các nền văn hóa ... chỉ một thiểu số các cá nhân có xu hướng tính dục (dù hoàn toàn hay không hoàn toàn) thiên về người cùng giới tính." Họ nói rằng không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy nhân khẩu học xu hướng tính dục biến động theo thời gian hoặc địa điểm.[10] Nam có nhiều khả năng là hoàn toàn đồng tính luyến ái hơn là bị thu hút như nhau bởi cả hai giới, nữ thì ngược lại.[10][11][12]

Theo các cuộc khảo sát ở các nền văn hóa phương Tây, trung bình khoảng 93% nam giới và 87% nữ giới có bản dạng là hoàn toàn dị tính luyến ái, 4% nam và 10% nữ là hầu như dị tính luyến ái, 0,5% nam và 1% nữ là song tính luyến ái đồng đều, 0,5% nam và 0,5% nữ là hầu như đồng tính luyến ái, và 2% nam và 0,5% nữ là hoàn toàn đồng tính luyến ái.[10] Một phân tích 67 nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ quan hệ tình dục trong đời giữa nam giới (bất kể xu hướng tính dục) là 3–5% ở Đông Á, 6–12% ở Nam và Đông Nam Á, 6–15% ở Đông Âu và 6–20% ở châu Mỹ Latinh.[174] Liên minh HIV/AIDS Quốc tế ước tính trên toàn thế giới có từ 3 đến 16% nam giới từng quan hệ tình dục với người đàn ông khác dưới một hình thức nào đó ít nhất một lần trong đời.[175]

Theo các nghiên cứu lớn, 2% đến 11% số người từng có quan hệ tình dục cùng giới dưới một hình thức nào đó trong đời;[176][177][178][179][180] tỷ lệ phần trăm này tăng lên 16–21% khi ghi nhận chỉ có một hoặc cả hai sự hấp dẫn và hành vi cùng giới.[180]

Theo Điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000, có khoảng 601.209 hộ gia đình cùng giới chưa kết hôn.[181] Tại Hoa Kỳ, theo báo cáo của Viện Williams vào tháng 4 năm 2011, 3,5% hoặc khoảng 9 triệu người trưởng thành có bản dạng là đồng tính nữ, đồng tính nam hoặc song tính.[182] Một nghiên cứu năm 2013 của CDC, trong đó hơn 34.000 người Mỹ được phỏng vấn, đưa ra tỷ lệ 1,6% tự nhận dạng mình là người đồng tính nam và nữ, và 0,7% là song tính.[183]

Vào tháng 10 năm 2012, Gallup bắt đầu thực hiện các cuộc khảo sát hàng năm để nghiên cứu nhân khẩu học của người LGBT, xác định rằng 3,4% (±1%) người trưởng thành có bản dạng là LGBT ở Hoa Kỳ.[184] Đây là cuộc thăm dò lớn nhất toàn quốc về đề tài này vào thời điểm đó.[185][186] Vào năm 2017, tỷ lệ này được ước tính tăng lên 4,5% ở người trưởng thành, chủ yếu là do thế hệ Millennials. Cuộc thăm dò cho rằng tỷ lệ tăng lên là do những người trẻ tuổi sẵn sàng hơn trong việc tiết lộ bản dạng tính dục.[187]

Một cuộc khảo sát của Văn phòng Thống kê Quốc gia Vương quốc Anh (ONS) năm 2010 cho thấy 95% người Anh có bản dạng là dị tính luyến ái, 1,5% người Anh tự nhận dạng mình là đồng tính luyến ái hoặc song tính luyến ái, và 3,5% còn lại đưa ra những câu trả lời mơ hồ hơn như "không biết", "khác" hoặc không trả lời câu hỏi.[188]

Dữ liệu đáng tin cậy về quy mô dân số đồng tính nam và đồng tính nữ có giá trị trong việc cung cấp thông tin về chính sách công.[189] Ví dụ, nhân khẩu học giúp tính toán chi phí và lợi ích của các lợi ích đối tác chung nhà, về tác động của sự hợp pháp hóa việc đồng tính nhận con nuôi và tác động của chính sách Không hỏi, không nói trước đây của quân đội Hoa Kỳ.[189] Hơn nữa, kiến ​​thức về quy mô của "nhóm người đồng tính nam và đồng tính nữ hứa hẹn sẽ giúp các nhà khoa học xã hội hiểu được một loạt các câu hỏi quan trọng—các câu hỏi về bản chất chung của các lựa chọn trên thị trường lao động, tích lũy vốn nhân lực, chuyên môn hóa trong các hộ gia đình, sự phân biệt đối xử và các quyết định về vị trí địa lý."[189]

Việc đo lường mức độ phổ biến của đồng tính luyến ái gặp nhiều khó khăn. Cần phải xem xét các tiêu chí đo lường được sử dụng, điểm tới hạn và khoảng thời gian cần thiết để xác định xu hướng tính dục.[18] Mặc dù nhiều người có hấp dẫn cùng giới, nhưng có thể do dự khi nhận dạng mình là người đồng tính hoặc song tính. Nghiên cứu phải đo lường một số đặc điểm có thể có tính xác định hoặc không xác định xu hướng tính dục. Số người có ham muốn cùng giới có thể lớn hơn số người hành động theo những ham muốn đó, mà số người hành động lại có thể lớn hơn số người tự nhận dạng là đồng tính nam, đồng tính nữ hoặc song tính.[189]

Sức khỏe

Để giảm nguy cơ lây nhiễm, nam quan hệ với nam được khuyến cáo nên
  • Tìm hiểu về tình dục an toàn.
  • Nếu người đồng tính nam có quan hệ tình dục với người nam khác thì thuộc nhóm hành vi nam có quan hệ tình dục với nam nên các vấn đề về sức khỏe tương tự như nhóm hành vi này. Nam quan hệ với nam không chỉ bao gồm người đồng tính luyến ái nam, song tính luyến ái nam mà bao gồm tất cả người nam có quan hệ tình dục với nam với mọi mục đích. Tương tự, đọc nữ có quan hệ tình dục với nữ để biết thêm chi tiết.

    Theo báo cáo tiến độ phòng, chống HIV/AIDS năm 2012, tỉ lệ nhiễm HIV trong những người nam quan hệ tình dục với nam ở Thành phố Hồ Chí Minh là 16%, tỷ lệ chỉ đứng sau nhóm tiêm chích ma túy. Tại đây, cứ 5 nam quan hệ đồng giới thì có một người nhiễm ít nhất một trong các nhiễm khuẩn giang mai, lậu sinh dục, lậu trực tràng, chlamydia sinh dục hoặc chlamydia trực tràng.[192] Nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ lây nhiễm HIV/AIDS cao do nhiều đồng tính nam có quan hệ tình dục bừa bãi (một nam đồng tính 25 tuổi ở Hà Nội cho biết anh ta có hơn 100 bạn tình). Họ thường giới thiệu bạn tình cho nhau và cùng quan hệ tình dục tập thể, chỉ cần 1 người nhiễm HIV thì sẽ nhanh chóng lây lan cho các đối tượng khác. Bên cạnh đó, các đồng tính nam ít khi sử dụng các biện pháp phòng tránh khi quan hệ tình dục như một khảo sát của Ban quản lý dự án phòng chống HIV/AIDS (Việt Nam) trên 300 đồng tính nam cho thấy một số chỉ sử dụng bao cao su với bạn tình mới quen lần đầu, khi thân rồi họ không đề phòng nữa.[193]

    Theo báo cáo năm 2011, tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm đồng tính nam ở Đồng Nai cao gấp 20 lần so với đối tượng ma túymại dâm[194] Tại TP HCM, năm 2014, nhóm nam có quan hệ tình dục đồng giới nhiễm HIV đang có chiều hướng gia tăng nhanh so với năm 2012, từ 7,33% lên 14,75%[195]

    Năm 2010, một báo cáo của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ (CDC) cho biết trong số các ca nhiễm HIV mới ở Hoa Kỳ thì số ca thuộc cộng đồng nam thanh niên đồng tính trẻ tuổi cao hơn rất nhiều so với mức chung, có nhiều nguyên nhân cho việc này:

    • Tỷ lệ bị nhiễm HIV trong cộng đồng đồng tính luyến ái nam vốn cao, làm tăng khả năng lây nhiễm trong cộng đồng so với dân số thông thường.[196]
    • Các yếu tố xã hội và thiếu khả năng tiếp cận hệ thống y tế đối với cộng đồng này.
    • Nam giới trẻ có quan hệ đồng giới thường có các hành vi nguy cơ cao (như quan hệ tình dục với nhiều hơn 4 bạn tình, tiêm chích ma túy).

    Thống kê của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ năm 2011 cho biết: nam đồng tính có khả năng nhiễm HIV cao gấp 44 tới 86 lần so với nam giới bình thường, và cao gấp 40 tới 77 lần so với nữ giới.[197] Năm 2009, thống kê cho biết có 61% số ca nhiễm HIV mới ở Mỹ là đồng tính hoặc song tính, dù nhóm này chỉ chiếm khoảng 2% dân số Mỹ.[198] Theo Cơ quan bảo vệ sức khỏe Anh (HPA), cứ trong 20 người đàn ông có quan hệ tình dục đồng tính ở Anh thì có một người bị nhiễm HIV, riêng tại Luân Đôn tỉ lệ này là 1/12.[199].

    Trên thế giới, năm 2014, tỷ lệ nhiễm HIV ở các cặp đồng tính luyến ái được ước tính trong khoảng 2-5%. Tỷ lệ lây nhiễm HIV của nhóm người quan hệ tình dục đồng tính được ước tính là cao gấp 18 lần so với những người chỉ quan hệ tình dục khác giới.[200]

    Tại Thái Lan, nhóm nam quan hệ đồng giới có tỷ lệ nhiễm HIV là 7.1%, trong khi nhóm nam giới bán dâm là 12,2%. Quanh vùng khu vực Bangkok - nơi tập trung những người đồng tính - theo báo cáo năm 2010 có 31% nhiễm HIV. Tỷ lệ người nhiễm giang mai đã phát hiện và đang điều trị là 24,4%. Trung bình cứ 3 người Thái đồng tính nam ở Bangkok thì có một người nhiễm HIV, cứ 4 người là có một người nhiễm giang mai[201].

    Hoa Kỳ hiện đang cấm nhóm đối tượng nam quan hệ tình dục với nam đi hiến máu "vì họ là một nhóm có nguy cơ cao bị nhiễm HIV, viêm gan B và một số bệnh nhiễm trùng khác có thể được lây truyền qua truyền máu" Vương quốc Anh và nhiều nước châu Âu đã cấm tương tự.[202][203]

    Luật pháp

     
    Luật pháp trên thế giới về đồng tính luyến ái

    Mặc dù đồng tính luyến ái đã không còn bị coi là phạm pháp tại nhiều nơi ở phương Tây, chẳng hạn như[204][205] Ba Lan 1932, Đan Mạch 1933, Thụy Điển 1944 và Anh 1967, cộng đồng đồng tính vẫn chưa có quyền hợp pháp dẫu chỉ là hạn chế cho đến giữa những năm 70. Một bước ngoặt quan trọng là vào năm 1973, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ đưa đồng tính luyến ái ra khỏi Danh sách các rối loạn tâm thần.[206][207] Năm 1977, Québec tại Canada đã trở thành bang đầu tiên cấm kỳ thị dựa trên thiên hướng tình dục. Những năm 80 và 90, nhiều nước phát triển đã hợp pháp hóa đồng tính luyến ái và cấm kỳ thị người đồng tính trong công việc, cư trú và dịch vụ. Tính tới cuối năm 2013, trong tổng số 207 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, có 16 quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, 17 nước chấp nhận hình thức đăng ký sống chung. Ngược lại, có khoảng 80 nước coi hành vi đồng tính là tội phạm với các mức án phạt khác nhau (có 8 nước có mức án tử hình).

    Tính đến năm 2024, Thái LanĐài Loan là hai quốc gia châu Á duy nhất lần lượt thông qua dự luật và công nhận hôn nhân đồng tính hoặc đăng ký sống chung.[208][209] Tại Thái Lan có cộng đồng LGBT sôi nổi, nhưng điều này chỉ có ở ngành kinh doanh giải trí thu lợi nhuận vốn tách biệt với nền chính trị và xã hội Thái bảo thủ.[210] Ở những quốc gia Hồi giáo như Indonesia đã ban hành luật cấm nghiêm khắc chống lại người đồng tính. Quan hệ tình dục đồng tính có thể bị phạt 20 năm tù và bị đánh roi ở Malaysia. Ở Singapore, quan hệ tình dục đồng tính nam là bất hợp pháp tuy nhiên luật này thường không được thực thi. Ở Nhật Bản, văn hóa và những tôn giáo lớn không có thái độ thù ghét những cá nhân đồng tính, nước này không có luật nào chống lại đồng tính luyến ái nhưng hôn nhân đồng tính thì không được công nhận.[211]

    Ở khu vực Trung Đông vốn tập trung nhiều nước đạo Hồi, đồng tính luyến ái bị pháp luật cấm nghiêm khắc. Duy nhất ở Israel, quyền của người đồng tính được pháp luật hỗ trợ.[212] Israel là nước có tỉ lệ ủng hộ hôn nhân đồng giới cao nhất thế giới với 61% người dân ủng hộ.[213] Israel là nước châu Á đầu tiên và duy nhất cho đến nay công nhận sự chung sống không đăng ký của cặp đôi đồng giới. Mặc dù chưa công nhận hôn nhân đồng giới, Israel là quốc gia Trung Đông đầu tiên và duy nhất cho đến nay công nhận hôn nhân đồng giới ở nước khác. Kỳ thị dựa trên thiên hướng tình dục bị cấm vào năm 1992. Theo một quyết định năm 2008, các cặp đồng giới cũng được quyền nhận con nuôi. Ở đây, người đồng tính được quyền công khai tham gia quân ngũ.[214][215][216][217][218][219][220][221]

    Hôn nhân đồng giới

    Việc công nhận hôn nhân đồng tính hay không là chủ đề tranh cãi tại nhiều nơi trên thế giới. Những người ủng hộ cho rằng việc công nhận hôn nhân đồng tính là thể hiện sự bình đẳng giữa con người, rằng pháp luật không nên ngăn cản việc kết hôn của con người nếu họ thực sự muốn vậy. Ngược lại, nhiều người phản đối hôn nhân đồng tính bởi lo ngại những hệ lụy mà nó gây ra cho xã hội, đặc biệt là với trẻ em.

    Từ đầu thế kỷ XXI, một số nước Tây phương bắt đầu công nhận hôn nhân đồng tính. Tính đến cuối năm 2013 đã có 16 quốc gia trên thế giới công nhận, bao gồm: Anh, Argentina, Bỉ, Bồ Đào Nha, Brasil, Canada, Đan Mạch, Iceland, Hà Lan, Na Uy, Nam Phi, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, và Uruguay; thêm vào đó nhiều địa phương cấp thấp hơn (bang, thành phố) ở MéxicoHoa Kỳ cũng công nhận. Tại nhiều nước phương Tây, các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy ngày càng có nhiều người ủng hộ hôn nhân đồng tính.[222] Mặt khác, tại các nước Hồi giáo và các nước đang phát triển ở châu Áchâu Phi, các cuộc thăm dò ý kiến vẫn cho thấy người dân kịch liệt phản đối người đồng tính cũng như hôn nhân đồng tính.[223]

    Các tổ chức khoa học ủng hộ hôn nhân đồng tính gồm có: Hội Tâm lý học Hoa Kỳ,[224] Hội Tâm lý học Canada,[225] Đoàn Bác sĩ Tâm lý Hoàng gia,[226] Hội Xã hội học Hoa Kỳ,[227] Hội Y khoa Hoa Kỳ,[228] Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ,[229] Hội Nhân loại học Hoa Kỳ.[230]

    Các tổ chức phản đối hôn nhân đồng tính bao gồm chủ yếu là các tổ chức bảo vệ giá trị gia đình (ví dụ như Hiệp hội gia đình Hoa Kỳ, Tổ chức Tầm nhìn nước Mỹ, Hội đồng Nghiên cứu gia đình, Viện Nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ, Tổ chức Quốc gia về hôn nhân...).[231] Các tổ chức này tuyên bố: việc họ phản đối hôn nhân đồng tính là nhằm bảo vệ các giá trị gia đình truyền thống, bảo vệ trẻ em trước các tác động tiêu cực của hôn nhân đồng tính.[232][233] Các tổ chức này cho rằng hôn nhân đồng giới sẽ làm xói mòn định nghĩa, giá trị truyền thống về hôn nhân giữa nam và nữ từ lâu nay, khiến việc sinh con ngoài giá thú phổ biến hơn, mục đích cơ bản nhất của hôn nhân (sinh sản và chăm sóc trẻ em) sẽ bị coi thường, tước đi quyền có được cả cha lẫn mẹ của trẻ em và điều này sẽ khiến trẻ em chịu nhiều ảnh hưởng về tâm lý và lối sống, các vấn đề này sẽ dẫn đến nhiều tác động tiêu cực cho tương lai của xã hội.[234]

    Thomas Peters, giám đốc văn hóa tại Cơ quan Hôn Nhân Quốc gia Hoa Kỳ, cho rằng công nhận hôn nhân đồng tính sẽ làm hôn nhân suy yếu. Sau khi hôn nhân đồng tính được hợp pháp hóa ở Tây Ban Nha năm 2005, tỷ lệ hôn nhân giảm sút thê thảm. Điều này cũng xảy ra cho Hà Lan. Tái định nghĩa hôn nhân sẽ làm lu mờ ý nghĩa và mục đích cơ bản của nó, do đó, khuyến khích mọi người coi thường nó. Thứ hai, điều ấy cũng ảnh hưởng tới việc giáo dục và bổn phận làm cha mẹ. Sau khi hôn nhân đồng tính được hợp pháp hóa ở Canada, Hội đồng Học Đường Toronto đã cho thi hành một học trình để cổ vũ đồng tính luyến ái và xuất bản các bích chương tuyên truyền rằng đồng tính và dị tính đều như nhau. Bất chấp các chống đối của phụ huynh, Hội đồng vẫn quy định rằng họ không có quyền di chuyển con em họ ra khỏi các lớp dạy những chuyện vừa kể. Sự kiện đó và các sự kiện tương tự cho thấy điều này: khi hôn nhân bị tái định nghĩa, định nghĩa mới sẽ được áp đặt lên trẻ em, bất chấp ý muốn của phụ huynh các em:

    "Một khi bạn đã cắt lìa định chế hôn nhân khỏi gốc rễ sinh học của nó, thì chẳng còn bao nhiêu lý lẽ để chặn đứng việc tái định nghĩa nó cho phù hợp với đòi hỏi của các nhóm quyền lợi khác nhau. Đó không phải chỉ là chuyện dọa nạt mơ hồ hay một thứ giả thuyết khiến người ta sợ sệt. Các hậu quả phụ này đã xuất hiện tại nhiều quốc gia đã hợp pháp hôn nhân đồng tính. Thí dụ, tại BrasilHà Lan, các quan hệ tay ba (một chồng hai vợ) gần đây đã được coi là hôn nhân đầy đủ. Sau khi hôn nhân bị tái định nghĩa ở Canada, một người đàn ông đa thê đã phát động một chiến dịch đòi luật pháp thừa nhận chế độ quần hôn. Ngay ở Mỹ, bang California cũng đã thông qua một dự luật để hợp pháp hóa các gia đình gồm tới ba hay bốn cha mẹ. Sinh sản là lý do chính đòi hôn nhân dân sự phải được giới hạn giữa hai người. Khi tình yêu tính dục thay thế cho trẻ em làm mục đích chính của hôn nhân, thì các giới hạn hôn nhân đâu còn nghĩa lý gì với thế hệ tương lai của loài người nữa"[235]

    Theo tiến sĩ Richard Kay: Chúng ta có thể thấy hệ quả của hôn nhân đồng tính ở các nước Bắc Âu. Ở Na Uy, đã hợp pháp hôn nhân đồng tính kể từ đầu thập niên 1990. Thống kê năm 2000 tại Nordland, quận tự do nhất của Na Uy cho thấy: tỷ lệ con ngoài giá thú (không rõ tên cha) đã tăng vọt tới 80% trong số những phụ nữ sinh con lần đầu tiên, tổng cộng khoảng 70% trẻ em là con ngoài giá thú! Trên toàn Na Uy, số trẻ em ngoài giá thú đã tăng khoảng 50% trong thập kỷ đầu tiên của hôn nhân đồng tính.[236][237][238] Nhà nghiên cứu Dana Mack dẫn lời Bronisław Malinowski, nhà nhân chủng học vĩ đại nhất thế kỷ XX, rằng lợi ích chủ chốt trong hôn nhân là sự sắp xếp tương lai cho trẻ em, cho phép hôn nhân đồng tính sẽ làm chuyển đổi mục đích của hôn nhân: từ nghĩa vụ sinh đẻ và nuôi dưỡng trẻ em trở thành một dạng hợp đồng hôn nhân thể hiện ham muốn ích kỷ của người lớn.[239]

    Tiến sĩ tâm lý học Trayce Hansen cho rằng: "Tất cả các nghiên cứu từ bốn quốc gia khác nhau, với mẫu thống kê lớn, cho thấy rằng hành vi tình dục đồng giới không phải là cố định về mặt di truyền. Thay vào đó, các dữ liệu cho thấy rằng hành vi tình dục của con người là dễ biến đổi, và môi trường xã hội có thể tác động vào nó... Chuẩn mực văn hóa và xã hội, cũng như các quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến hành vi của con người bao gồm cả hành vi tình dục. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên, khi Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác trở nên ngày càng ủng hộ người đồng tính - cả về xã hội, chính trị, và luật pháp; thì họ lại gặp phải xu hướng ngày càng tăng về số lượng của các cá nhân tham gia vào hành vi đồng tính. Xu hướng này sẽ tiếp tục nếu chúng ta khoan dung quá mức đối với đồng tính và chính thức tôn vinh nó bằng cách hợp thức hóa hôn nhân đồng tính..." Trayce Hansen khẳng định: hôn nhân đồng giới thực sự không tốt cho trẻ em. Nhà tâm lý học đã viện dẫn các luận chứng, luận cứ chứng minh rằng môi trường lý tưởng nhất cho sự phát triển của trẻ em là một gia đình có cha và mẹ theo đúng nghĩa. Ông nói:

    "Hai người phụ nữ có thể là người mẹ tốt nhưng không ai có thể là một người cha hoàn hảo. Cha và mẹ, mỗi người một giới tính sẽ giúp cho trẻ em có cái nhìn toàn diện hơn về giới tính của bản thân, từ đó có suy nghĩ và hành động lành mạnh và cân bằng trong các mối quan hệ sau này, đó là điều được nhân loại đúc rút qua 5.000 năm. Hôn nhân đồng tính sẽ làm cho trẻ em bối rối về biểu hiện giới tính và vô tình khuyến khích những hành vi không đúng về giới tính ở trẻ vị thành niên. Mặc dù đồng cảm với những người đồng tính nhưng không nên vì sự đồng cảm đó mà biến trẻ em thành "chuột bạch" để rồi gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội. Nếu so sánh giữa được và mất, giữa nhu cầu của người đồng tính và trẻ em thì chúng ta không thể để trẻ em là người chịu thiệt thòi. Điều này có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội về lâu dài".[240] (xem chi tiết tại Phản đối hôn nhân đồng tính).

    Người đồng tính nuôi dạy trẻ em

     
    Một cặp đồng tính nam và con nuôi

    Giáo sư Judith Stacey thuộc Đại học New York cho biết: "Hiếm khi nào có nhiều sự đồng thuận trong bất kỳ lĩnh vực khoa học xã hội như vấn đề nuội dạy con cái của cha mẹ đồng tính, đó là lý do Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ và tất cả các tổ chức nghề nghiệp lớn có chuyên môn liên quan tới phúc lợi xã hội về trẻ em đã ban hành báo cáo và nghị quyết ủng hộ quyền làm cha mẹ của người đồng tính nam và đồng tính nữ".[241]

    Tất cả các hội ngành nghề nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp lớn và uy tín nhất thế giới về tâm thần học, tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học, trẻ em học, lao động học... của Hoa Kỳ, CanadaAustralia như: Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, Hiệp hội xã hội học Hoa Kỳ, Hiệp hội nhân chủng học Hoa Kỳ, Hiệp hội y khoa Hoa Kỳ, Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Học viện trẻ vị thành niên và tâm thần học Hoa Kỳ, Hiệp hội bác sĩ gia đình Hoa Kỳ, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu Hoa Kỳ, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội Hoa Kỳ, Hiệp hội phân tâm học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý học Canada, Hiệp hội tâm lý - xã hội học Úc, Đại học tâm lý học hoàng gia Anh... đều đồng thuận rằng:[225][229][242][243][243][244][245][245][246][247][248][249][250][251][252][253]

    • Không có sự liên quan giữa thiên hướng tình dục của cha mẹ với sự phát triển của trẻ em. Sự thành công của trẻ em phụ thuộc vào chất lượng gia đình (mối quan hệ hạnh phúc của cặp cha mẹ, mối quan hệ đối xử và nuôi dạy của cha mẹ với con cái, sự hỗ trợ của xã hội với họ...), không phụ thuộc vào khuynh hướng tình dục của cha mẹ.
    • Các cặp cha mẹ đồng tính namđồng tính nữ đều có khả năng nuôi dạy con cái tốt như các cha mẹ dị tính.
    • Trẻ em nuôi dạy bởi các cặp cha mẹ đồng tính nam và đồng tính nữ có sự phát triển bình thường và lành mạnh về tâm sinh lý, thể chất, giới tính và hành vi xã hội.
    • Bác bỏ quan điểm của các cá nhân, tổ chức chống đối hôn nhân đồng tính rằng trẻ em nuôi bởi các cha mẹ đồng tính dễ trở thành đồng tính hơn hay thể hiện sự phát triển tâm lý lệch lạc. Các quan điểm này không được hỗ trợ bởi khoa học hoặc dựa vào số ít các nghiên cứu có sai sót nghiêm trọng về phương pháp luận đã bị bác bỏ. Không có bất kỳ bằng chứng thuyết phục nào hỗ trợ cho quan điểm con cái nuôi bởi các cha mẹ đồng tính là không tốt bằng hay có bất cứ nguy cơ nào so với con cái của các cha mẹ khác giới.

    Nhiều người đồng tính, song tính có thể trở thành cha hoặc mẹ bằng nhiều cách như xin con nuôi, thụ tinh nhân tạo hoặc nhận đỡ đầu hoặc có khi có con riêng của một người với vợ hoặc chồng cũ là dị tính luyến ái, hoặc nhờ sinh con hộ.[254][255][256][257] Theo điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000, 33% cặp đồng giới nữ và 22% cặp đồng giới nam đang sống với ít nhất một người con dưới 18 tuổi.[84] Vài trẻ không biết rằng cha/mẹ của chúng là người đồng tính/song tính. Tình trạng công khai thiên hướng tình dục cũng khác nhau và vài người không bao giờ công khai với con mình.[258][259]

    Người LGBT làm cha mẹ nói chung và nhận con nuôi nói riêng là vấn đề gây tranh cãi ở nhiều nước phương Tây và thường được xem là cuộc chiến văn hóa giữa quan niệm bảo thủ và tự do. Tháng 1 năm 2008, Tòa án châu Âu về quyền con người tuyên bố các cặp cùng giới có quyền nhận con nuôi.[260][261] Ở Hoa Kỳ, người đồng tính/song tính có thể nhận con nuôi một cách hợp pháp ở tất cả các tiểu bang trừ Florida.[262]

    Một vấn đề quan tâm là khi con cái được nuôi bởi những người đồng tính có khả năng trở thành đồng tính khi lớn lên hay bị rối loạn về giới tính hay không. Các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học như Kirk Patrick, Susan Golombok, Ann Spencer, Michael Rutter, Richard Green... cho biết: Khi nghiên cứu các cặp sinh đôi và con nuôi của các cặp đồng tính nữ, bằng chứng cho thấy thiên hướng tình dục là kết quả tác động phức tạp từ cả yếu tố sinh học và yếu tố môi trường và sự nuôi dạy. Các nghiên cứu này đã tìm thấy sự liên hệ về việc phát triển thiên hướng tình dục của trẻ em theo chiều hướng tương tự như cha mẹ nuôi của chúng, có nghĩa là nếu cha mẹ nuôi là người đồng tính thì khả năng đứa trẻ có hành vi đồng tính sẽ tăng lên (để biết thêm chi tiết, xin mời đọc Yếu tố môi trường trong thiên hướng tình dục).[263][264][265]

    Một nghiên cứu mới vào năm 2012 của Mark Regnerus, giáo sư tại Đại học Texas được đăng trên Tạp chí nghiên cứu xã hội Hoa Kỳ đã cung cấp thêm nhiều thông tin về vấn đề này. Nghiên cứu khảo sát 15.000 thanh niên, khảo sát kỹ 3.000 thanh niên trong đó 175 được nuôi lớn bởi người đồng tính nữ và 73 bởi người đồng tính nam. Kết quả cho thấy: trong ngắn hạn, các cặp đồng tính có thể nuôi con tốt như vợ chồng thông thường; nhưng về dài hạn, sự khiếm khuyết về giới tính (thiếu vắng cha hoặc mẹ để nuôi dạy đứa trẻ) là không thể khắc phục được, và con nuôi của họ khi bước vào tuổi thành niên sẽ gặp phải nhiều vấn đề hơn hẳn so với con cái của những gia đình thông thường, cụ thể:[266]

     
    Áp phích của Phong trào Bảo vệ trẻ em của chúng ta tại Mỹ

    Vấn đề gặp phải Con nuôi cặp đồng tính nữ Con nuôi cặp đồng tính nam Gia đình thông thường​
    Thất nghiệp 28% 20% 15%​
    Có ý định tự tử 12% 24% 9%​
    Phải điều trị tâm lý gần đây 19% 19% 9%​
    Có quan hệ đồng tính 7% 12% 2%​
    Bị cưỡng ép quan hệ tình dục 31% 25% 11%​

    Mark Regnerus tin rằng còn quá sớm đưa ra các kết luận sâu rộng về ảnh hưởng đối với con cái của các cặp đồng tính, và hiện không có bằng chứng thuyết phục rằng con cái của cặp đồng tính khác biệt so với những đứa trẻ có đủ cha mẹ. Trước khi có nhiều bằng chứng hơn, Nhà nước nên thận trọng và nên quy định hôn nhân trong phạm vi truyền thống (1 nam và 1 nữ), Regnerus tin rằng đó là điều tốt nhất dành cho trẻ em.[267]

    Nghiên cứu trên của Mark Regnerus nhận được sự ủng hộ của Trường Cao đẳng nhi khoa Hoa Kỳ, một tổ chức quốc gia của các bác sĩ nhi khoa và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và giáo dục dành cho trẻ em. Hội đồng Nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ đã có bài phân tích ủng hộ nghiên cứu và cho biết: nhờ mẫu thống kê lớn nên nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng cho biết về tình trạng của trẻ em trong gia đình đồng tính về dài hạn, cũng như bản chất "bất ổn định" của cặp đồng tính. Nghiên cứu này đã xóa tan những ngộ nhận về việc "cha mẹ đồng tính không khác cha mẹ thường". Kết quả của nó tương đồng với nghiên cứu của các chuyên gia nghiên cứu chính sách gia đình, và không có gì đáng ngạc nhiên khi nghiên cứu này bị tấn công quyết liệt bởi các nhà hoạt động ủng hộ đồng tính.[268]

    Tiến sĩ Stanton L. Jones, giáo sư tâm lý học tại Đại học Wheaton, nói rằng ông có Bảng tổng hợp ý kiến giữa các chuyên gia về điều này: "Tôi sẽ không coi đồng tính luyến ái là một dạng bệnh giống như tâm thần phân liệt hay rối loạn ám ảnh. Nhưng cũng không thể xem nó là một "lối sống bình thường" giống như kiểu sống nội tâm hoặc sống hướng ngoại".[101]

    Mặt khác, trong cuốn sách "Lớn lên trong một gia đình đồng tính nữ: Tác động với sự phát triển trẻ em", 2 tiến sĩ Fiona TaskerSusan Golombok, quan sát thấy rằng 25% những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính cũng đã tham gia vào một mối quan hệ đồng tính, so với xấp xỉ 0% ở những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ bình thường.[269]

    Tiến sĩ Trayce Hansen cho biết: "Nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội, mặc dù không dứt khoát, cho thấy rằng trẻ em nuôi bởi các cặp đồng tính có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi đồng tính hơn so với các trẻ em khác. Các nghiên cứu cho đến nay cho thấy khoảng 8% đến 21% con nuôi của các cặp đồng tính cuối cùng cũng sẽ trở thành đồng tính. Để so sánh, tạm cho khoảng 2% dân số nói chung là đồng tính. Do đó, nếu các tỷ lệ này được xác minh kĩ, con nuôi của các cặp đồng tính có khả năng phát triển thành đồng tính cao hơn 4 đến 10 lần so với những đứa trẻ khác."

    Phân tích tổng hợp của Stacy và Biblarz (năm 2001) cho thấy rằng: các bà mẹ nuôi là đồng tính nữ có ảnh hưởng lớn, khiến con trai nuôi của họ trở nên nữ tính trong khi con gái nuôi thì lại trở nên nam tính. Họ báo cáo: "...các cô gái vị thành niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính sẽ có tỷ lệ cao hơn về tình dục bừa bãi... nói cách khác, trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái) được nuôi bởi nữ đồng tính có xu hướng đả phá các quan niệm giới tính truyền thống, trong khi trẻ em được nuôi bởi các bà mẹ thông thường sẽ có biểu hiện phù hợp với giới tính của mình". Một nghiên cứu năm 1996 bởi một nhà xã hội học Úc cho thấy: những đứa trẻ của các cặp vợ chồng bình thường là giỏi nhất, trong khi con nuôi của các cặp vợ chồng đồng tính lại học hành kém nhất, điều này đúng tại 9 trên 13 trường học được khảo sát.[270]

    Xã hội và xã hội học

    Quan điểm công chúng

     
    Cuộc Thăm dò Nghiên cứu Toàn cầu của Pew 2019: Đồng tính luyến ái có nên được chấp nhận trong xã hội? Tỷ lệ người trả lời đã trả lời chấp nhận:
      0–10%
      11–20%
      21–30%
      31–40%
      41–50%
      51–60%
      61–70%
      71–80%
      81–90%
      91–100%
      No data

    Sự chấp nhận của xã hội đối với các xu hướng không dị tính như đồng tính luyến ái thấp nhất ở các nước châu Á, châu Phi và Đông Âu,[271][272] và cao nhất ở Tây Âu, Úc và châu Mỹ. Xã hội phương Tây ngày càng chấp nhận đồng tính từ những năm 1990. Năm 2017, Giáo sư Amy Adamczyk cho rằng những khác biệt xuyên quốc gia trong việc chấp nhận này có thể được giải thích phần lớn bởi ba yếu tố: sức mạnh tương đối của các thể chế dân chủ, mức độ phát triển kinh tế và bối cảnh tôn giáo của nơi người dân sinh sống.[273]

    Những niềm tin khuôn mẫu của nhiều người đối với cộng đồng LGBTQ+ đã gây nên hành vi không chấp thuận và phân biệt đối xử đối với cộng đồng này. Nhiều nghiên cứu khác nhau chỉ ra rằng những người LGBTQ+, ở các xã hội không công nhận đồng tính luyến ái là bản dạng tính dục của họ, cảm thấy bất an, áp lực tâm lý và bị cô lập khỏi xã hội.[274][275][276][277] Kameel Ahmady, một nhà nhân chủng họcnhà nghiên cứu xã hội đã cùng nhóm của ông thực hiện một nghiên cứu thực địa ở Iran với mục đích tìm hiểu thái độ của cộng đồng LGBTQ+ Iran đối với địa vị của họ trong xã hội Iran, tin rằng cấu trúc xã hội ở khía cạnh tôn giáo và truyền thống, cùng với những trở ngại và hạn chế về mặt pháp lý khiến nhóm này không thể thể hiện bản thân và thường xuyên kìm nén bản dạng giới của mình.[278][279][280][281][282][283] Những hạn chế pháp lý như bỏ tù, sợ bị hành quyết, không được phép làm việc trong các công việc của chính phủ, cùng với những hạn chế không chính thức như bị lạm dụng tình dục trong xã hội, bị loại khỏi gia đình và các nhóm xã hội, bị sỉ nhục công khai bằng lời nói..., đều khiến cuộc sống của nhóm LGBTQ+ trở nên khó khăn.[279][284][285][286]

    Mối quan hệ

    Năm 2006, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm thần học Hoa KỳHiệp hội Nhân viên Xã hội Quốc gia đã tuyên bố trong bản tóm tắt "bạn của tòa" trình lên Tòa án Tối cao California: "Những người đồng tính nam và đồng tính nữ hình thành các mối quan hệ ổn định, có tính cam kết tương đương với các mối quan hệ khác giới ở những khía cạnh cơ bản. Thể chế hôn nhân mang lại những lợi ích về mặt xã hội, tâm lý và sức khỏe mà các cặp cùng giới bị từ chối. Bằng cách phủ nhận quyền kết hôn của các cặp cùng giới, tiểu bang đã củng cố và duy trì sự kỳ thị gắn liền với đồng tính luyến ái trong lịch sử. Đồng tính luyến ái vẫn bị kỳ thị, và sự kỳ thị này gây ra những hậu quả tiêu cực. Việc bang California cấm kết hôn đối với các cặp cùng giới phản ánh và củng cố sự kỳ thị này". Họ kết luận: "Không có cơ sở khoa học để phân biệt giữa các cặp cùng giới và các cặp dị tính về quyền, nghĩa vụ, lợi ích và gánh nặng pháp lý mà hôn nhân dân sự mang lại".[6]

    Tôn giáo

    Mặc dù mối quan hệ giữa đồng tính luyến ái và tôn giáo rất phức tạp, các cơ quan nhiều quyền lực hiện nay và các học thuyết của các tôn giáo lớn nhất thế giới nhìn nhận hành vi đồng tính một cách tiêu cực.[cần dẫn nguồn] Điều này có thể bao gồm từ việc âm thầm ngăn cản hoạt động đồng tính, đến nghiêm cấm rõ ràng các hành vi tình dục cùng giới giữa các tín đồ và tích cực phản đối sự chấp nhận của xã hội đối với đồng tính luyến ái. Một số tôn giáo dạy rằng ham muốn đồng tính là tội lỗi,[287] một số khác thì cho rằng chỉ khi thực hiện hành vi đồng tính mới bị coi là tội lỗi,[288] trong khi một số khác nữa thì hoàn toàn chấp nhận đồng tính nam và đồng tính nữ.[289] Một số tôn giáo cho rằng ham muốn đồng tính có thể được khắc phục nhờ vào đức tin và thực hành tôn giáo. Mặt khác, tồn tại nhiều ý kiến trong nhiều tôn giáo nhìn nhận đồng tính một cách tích cực hơn và các giáo phái tôn giáo tự do có thể ban phước lành cho hôn nhân cùng giới. Một số tôn giáo cho rằng tình yêu và tình dục cùng giới là thiêng liêng, và chuyện thần thoại về tình yêu cùng giới có thể được tìm thấy trên khắp thế giới.[290]

    Phân biệt đối xử

     
    Các nhà hoạt động LGBT tại Cologne Pride năm 2015 mang theo biểu ngữ có cờ của 70 quốc gia nơi đồng tính luyến ái là bất hợp pháp

    Bắt nạt người LGBT

    Người công kích có thể có hành vi bạo hành bằng lời nói hoặc thể chất đối với một người mà họ cho là đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính, chuyển giới hoặc nói chung là queer, trong đó có cả những người thật ra là dị tính hoặc có xu hướng tính dục không rõ ràng hay chưa được biết. Ở Mỹ, học sinh tuổi teen nghe những lời xúc phạm chống người đồng tính như "homo", "faggot" và "sissy" trung bình khoảng 26 lần một ngày hoặc cứ 14 phút một lần, theo một nghiên cứu năm 1998 của Sức khỏe Tâm thần Mỹ (trước đây là Hiệp hội Sức khỏe Tâm thần Quốc gia).[291]

    Chủ nghĩa dị tính và chứng sợ đồng tính

     
    Cuộc biểu tình phản đối Dự luật chống đồng tính luyến ái của Uganda ở thành phố New York

    Trong nhiều nền văn hóa, người đồng tính thường xuyên phải chịu định kiến ​​và phân biệt đối xử. Một nghiên cứu của Hà Lan năm 2011 kết luận rằng 49% thanh niên Hà Lan và 58% thanh niên nước ngoài đến nước này không công nhận đồng tính luyến ái.[292] Tương tự như các nhóm thiểu số khác, họ có thể bị nhìn nhận một cách khuôn mẫu. Những thái độ này thường đến từ các hình thức kỳ thị người đồng tính và chủ nghĩa dị tính (thái độ, thiên kiến tiêu cực và phân biệt đối xử nhằm mục đích ưu ái cho các mối quan hệ và tình dục khác giới). Chủ nghĩa dị tính có thể bao gồm giả định rằng mọi người đều là người dị tính hoặc sự thu hút và các mối quan hệ khác giới là chuẩn mực và do đó cao cấp hơn. Hội chứng sợ đồng tính luyến ái là nỗi sợ hãi, ác cảm hoặc phân biệt đối xử với người đồng tính. Nó biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó một số hình thức đã được đưa ra, như chứng sợ đồng tính của chính mình, chứng sợ đồng tính xã hội, chứng sợ đồng tính về mặt cảm xúc, chứng sợ đồng tính được hợp lý hóa và những loại khác.[293] Tương tự là chứng sợ đồng tính nữchứng sợ song tính. Khi những thái độ như vậy biểu hiện thành tội phạm, chúng thường được gọi là tội ác do thù hậnhành hạ người đồng tính.

    Những khuôn mẫu ​​​​tiêu cực cho người LGB là kém ổn định về mặt tình cảm lãng mạn và có nhiều khả năng lạm dụng trẻ em hơn, nhưng không có cơ sở khoa học nào cho những khẳng định như vậy. Những người đồng tính nam và đồng tính nữ hình thành những mối quan hệ ổn định, có tính cam kết tương đương với các mối quan hệ khác giới ở những khía cạnh cơ bản.[6] Xu hướng tính dục không ảnh hưởng tới khả năng một người lạm dụng trẻ em.[294][295][296] Những lập luận cho rằng có bằng chứng khoa học cho mối liên hệ giữa việc đồng tính và ấu dâm đã dựa trên việc sử dụng sai các thuật ngữ này và trình bày sai các bằng chứng thực sự.[295]

    Bạo lực với người đồng tính

    Tại Hoa Kỳ, FBI báo cáo rằng 20,4% tội ác do thù hận được báo cho cơ quan thực thi pháp luật vào năm 2011 có nguồn gốc từ thành kiến ​​đối với xu hướng tính dục. 56,7% tội ác này do thành kiến ​​đối với người đồng tính nam. 11,1% do thành kiến ​​đối với người phụ nữ. 29,6% do thành kiến ​​chống đồng tính mà không nêu rõ giới tính.[297] Vụ sát hại sinh viên đồng tính Matthew Shepard năm 1998 là một vụ việc tai tiếng như vậy ở Hoa Kỳ. Người LGBT, đặc biệt là đồng tính nữ, có thể trở thành nạn nhân của "hiếp dâm chữa trị", một tội ác bạo lực với mục đích khiến họ trở thành người dị tính. Ở một số nơi trên thế giới, người LGBT cũng có nguy cơ bị gia đình hoặc người thân "giết người vì danh dự".[298][299][300]

    Maroc, một quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến theo luật Hồi giáo, hành vi đồng tính có thể bị trừng phạt. Với dân số thù địch với người LGBT, quốc gia này đã chứng kiến ​​​​các cuộc biểu tình công khai chống người đồng tính, tố cáo công khai những người bị nghi ngờ là đồng tính, cũng như các vụ xâm phạm bạo lực vào nhà riêng. Cộng đồng LGBT ở nước này phải đối mặt với nguy cơ cao hơn về thành kiến, sự chối bỏ của xã hội và bạo lực, với khả năng cao không được bảo vệ, kể cả sự bảo vệ từ cảnh sát.[301]

    Hành vi đồng tính ở các động vật khác

     
    Roy và Silo, hai con chim cánh cụt đực ở vườn thú Trung tâm, New York, tương tự như trong hình, đã nổi tiếng trên thế giới khi chúng cặp đôi và được cho một trứng để ấp và nuôi con. Chúng đã thành công.[302]

    Hành vi đồng tính cũng có ở nhiều loài động vật.[23] Các biểu hiện về hành vi đồng tính thật sự có ở một số loài trong thế giới động vật, đặc biệt trong các loài chim biển, động vật có vú, khỉ và các loài linh trưởng lớn. Đã có 1500 trường hợp được quan sát, trong đó có khoảng 500 trường hợp được miêu tả khá cụ thể.[303][304]

    Có những đôi chim cánh cụt đực coi nhau như những người bạn đời. Chúng xây tổ cùng nhau, lấy một hòn đá thay trứng để ấp. Năm 2004, ở Central Park Zoo, Mỹ, người ta đã thay một hòn đá của đôi chim cánh cụt đực bằng một quả trứng thật, kết quả là đôi chim đó đã chăm sóc quả trứng này cũng như con non nở ra như chính con của chúng. Hiện tượng này cũng được báo cáo bởi một số vườn thú khác.[305][306] Jannet Mann, giáo sư của Đại học Georgetown cho rằng, các biểu hiện đồng tính ở động vật, ít nhất là ở cá heo, là một giải pháp về tiến hóa để giảm thiểu sự xâm chiếm lãnh thổ, đặc biệt là giữa những con đực.[cần dẫn nguồn]

    Tuy vậy, theo nhà di truyền học Simon Levay vào năm 1996 thì: "Mặc dù hành vi tình dục đồng giới là khá phổ biến trong thế giới động vật, nhưng có vẻ là rất hiếm khi các loài vật có khuynh hướng lâu dài để tham gia vào các hành vi như vậy trong khi lại từ chối các hoạt động tình dục khác giới tính. Thiên hướng tình dục đồng tính (thuật ngữ được dùng với loài người), nếu chúng ta có thể nói về điều đó ở động vật, có vẻ là rất hiếm". Chỉ có một loài động vật (trừ loài người) được ghi nhận là có những cá thể đực chỉ giao phối đồng tính trong khi từ chối giao phối với những con cái, đó là cừu Ovis.[307][308]

    Xem thêm

    Chú thích

    1. ^ “Definitions Related to Sexual Orientation and Gender Diversity in APA Documents” (PDF). American Psychological Association. 2015. tr. 6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2020. Sexual orientation refers to the sex of those to whom one is sexually and romantically attracted. ... [It is] one's enduring sexual attraction to male partners, female partners, or both. Sexual orientation may be heterosexual, samesex (gay or lesbian), or bisexual. ... A person may be attracted to men, women, both, neither, or to people who are genderqueer, androgynous, or have other gender identities. Individuals may identify as lesbian, gay, heterosexual, bisexual, queer, pansexual, or asexual, among others. ... Categories of sexual orientation typically have included attraction to members of one's own sex (gay men or lesbians), attraction to members of the other sex (heterosexuals), and attraction to members of both sexes (bisexuals). While these categories continue to be widely used, research has suggested that sexual orientation does not always appear in such definable categories and instead occurs on a continuum .... Some people identify as pansexual or queer in terms of their sexual orientation, which means they define their sexual orientation outside of the gender binary of 'male' and 'female' only.
    2. ^ Eric B. Shiraev; David A. Levy (2016). Cross-Cultural Psychology: Critical Thinking and Contemporary Applications, Sixth Edition. Taylor & Francis. tr. 216. ISBN 978-1134871315. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2021. Sexual orientation refers to romantic or sexual attraction to people of a specific sex or gender. ... Heterosexuality, along with bisexuality and homosexuality are at least three main categories of the continuum of sexual orientation. ... Homosexuality is a romantic or sexual attraction between persons of the same sex or gender.
    3. ^ James R. Lehman; Kristine Diaz; Henry Ng; Elizabeth M. Petty; Meena Thatikunta; Kristen Eckstrand biên tập (2019). The Equal Curriculum: The Student and Educator Guide to LGBTQ Health. Springer Nature. tr. 5. ISBN 978-3030240257. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2021. Homosexual, literally meaning "same sex", is used as an adjective to describe same-sex or same-gender attraction. ... The term introduces ambiguity because is often applied as an identity label to a person or group based on their behaviors, not because of self-identified sexual orientation or sexual desires. ... in addition to having potentially negative connotations, homosexual is unclear as to what group of people it describes...
    4. ^ “General Definitions”. LGBT Resource Center (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2023.
    5. ^ a b c d e f “Sexual orientation, homosexuality and bisexuality”. American Psychological Association. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2013.
    6. ^ a b c d e f “Case No. S147999 in the Supreme Court of the State of California, In re Marriage Cases Judicial Council Coordination Proceeding No. 4365... – APA California Amicus Brief — As Filed” (PDF). tr. 30. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010.
    7. ^ a b c Frankowski BL; American Academy of Pediatrics Committee on Adolescence (tháng 6 năm 2004). “Sexual orientation and adolescents”. Pediatrics. 113 (6): 1827–32. doi:10.1542/peds.113.6.1827. PMID 15173519. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2012.
    8. ^ a b Bogaert, Anthony F.; Skorska, Malvina N. (1 tháng 3 năm 2020). “A short review of biological research on the development of sexual orientation”. Hormones and Behavior. 119: 104659. doi:10.1016/j.yhbeh.2019.104659. ISSN 0018-506X.
    9. ^ Gloria Kersey-Matusiak (2012). Delivering Culturally Competent Nursing Care. Springer Publishing Company. tr. 169. ISBN 978-0826193810. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016. Most health and mental health organizations do not view sexual orientation as a 'choice.'
    10. ^ a b c d e f Bailey JM, Vasey PL, Diamond LM, Breedlove SM, Vilain E, Epprecht M (2016). “Sexual Orientation, Controversy, and Science”. Psychological Science in the Public Interest. 17 (21): 45–101. doi:10.1177/1529100616637616. PMID 27113562.
    11. ^ a b LeVay, Simon (2017). Gay, Straight, and the Reason Why: The Science of Sexual Orientation. Oxford University Press. ISBN 9780199752966. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2019.
    12. ^ a b Balthazart, Jacques (2012). The Biology of Homosexuality. Oxford University Press. ISBN 9780199838820. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2019.
    13. ^ a b c “Submission to the Church of England's Listening Exercise on Human Sexuality”. The Royal College of Psychiatrists. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013.
    14. ^ a b Robinson, B. A. (2010). “Divergent beliefs about the nature of homosexuality”. Religious Tolerance.org. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011.
    15. ^ a b c 'Therapies' to change sexual orientation lack medical justification and threaten health”. Pan American Health Organization. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2012.
    16. ^ “Resolution on Appropriate Affirmative Responses to Sexual Orientation Distress and Change Efforts”. American Psychological Association. 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2022.
    17. ^ “Psychological practices that attempt to change sexual orientation: Position statement”. Australian Psychological Society. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2020.
    18. ^ a b LeVay, Simon (1996). Queer Science: The Use and Abuse of Research into Homosexuality Lưu trữ 13 tháng 12 2017 tại Wayback Machine. Cambridge: The MIT Press ISBN 0-262-12199-9
    19. ^ “Same-sex Behavior Seen in Nearly All Animals, Review Finds”. ScienceDaily. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
    20. ^ 1,500 animal species practice homosexuality. The Medical News, 23 October 2006”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2011.
    21. ^ Sommer, Volker & Paul L. Vasey (2006), Homosexual Behaviour in Animals, An Evolutionary Perspective. Cambridge University Press, Cambridge. ISBN 0-521-86446-1
    22. ^ (Bagemihl 1999)
    23. ^ a b Harrold, Max (ngày 16 tháng 2 năm 1999). “Biological Exuberance: Animal Homosexuality and Natural Diversity”. The Advocate, reprinted in Highbeam Encyclopedia. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2007.
    24. ^ [19][20][21][22][23]
    25. ^ Sexual Orientation Lưu trữ 26 tháng 7 2011 tại Wayback Machine. American Psychiatric Association.
    26. ^ “Krafft-Ebing, Richard von (1840–1902)”. glbtq.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2012.
    27. ^ “Psychopathia Sexualis”. Kino.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2007.
    28. ^ “UNAIDS: Men who have sex with men” (PDF). UNAIDS. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2012.
    29. ^ Younger, John G. (2005). Sex in the ancient world from A to Z (ấn bản 1). London: Routledge. tr. 38. ISBN 0-415-24252-5.
    30. ^ 'I don't want a poofter to play me in a film': Sir Stirling Moss is embroiled in homophobia row after 'offensive' comments”. The Independent. 14 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2022.
    31. ^ The American Heritage Dictionary of the English Language, Fourth Edition. Houghton Mifflin. 2000. ISBN 0-618-70172-9.
    32. ^ Spears, Richard A. (2007). “Fag”. Dictionary of American Slang and Colloquial Expressions. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2012.
    33. ^ Dalzell, Tom biên tập (25 tháng 7 năm 2008). The Routledge Dictionary of Modern American Slang and Unconventional English. Routledge. tr. 1104. doi:10.4324/9780203895139. ISBN 978-0-203-89513-9.
    34. ^ “Dictionary of Sexual Terms”. Sex-lexis.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2012.
    35. ^ Taylor, Marvin J. “Queer Things from Old Closets: Libraries Gay and Lesbian Studies – Queer Theory” (PDF). Association of College and Research Libraries. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2012.
    36. ^ eds, Marc Wolinsky (1993). Gays and the military: Joseph Steffan versus the United States . Princeton, NJ: Princeton University Press. tr. 49–55. ISBN 0691033072. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2021.
    37. ^ eds, Marc Wolinsky ... (1993). Gays and the military: Joseph Steffan versus the United States . Princeton, NJ: Princeton University Press. tr. 40–48. ISBN 0691033072. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2021.
    38. ^ Murray, Stephen O. (2000). Homosexualities. Chicago: University of Chicago Press. tr. 394. ISBN 9780226551944. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2021.
    39. ^ Denise Winterman (18 tháng 3 năm 2008). “How 'gay' became children's insult of choice”. BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2012.
    40. ^ Hammarén, Nils; Johansson, Thomas (1 tháng 1 năm 2014). “Homosociality: In Between Power and Intimacy”. SAGE Open (bằng tiếng Anh). 4 (1): 2158244013518057. doi:10.1177/2158244013518057. ISSN 2158-2440. In the literature, this concept is mainly used as a tool to understand and dissect male friendships and men's collective attempts to uphold and maintain power and hegemony....The overall picture from the research, however, promotes the notion that homosociality clearly is a part and extension of hegemony, thus serving to always reconstruct and safeguard male interests and power.
    41. ^ Clayton Whisnant (2012). Male Homosexuality in West Germany — Between Persecution and Freedom, 1945–69 (bằng tiếng Anh). Palgrave Macmillan. doi:10.1057/9781137028341. ISBN 978-1-349-34681-3. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2021.
    42. ^ MD, Reidar Kjær (25 tháng 2 năm 2003). “Look to Norway? Gay Issues and Mental Health Across the Atlantic Ocean”. Journal of Gay & Lesbian Psychotherapy. 7 (1–2): 55–73. doi:10.1300/J236v07n01_05. ISSN 0891-7140. S2CID 142840589.
    43. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên John Bancroft p.1622
    44. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên THE LAWS p.8412
    45. ^ (Foucault 1986)
    46. ^ Hubbard Thomas K (ngày 22 tháng 9 năm 2003). “Review of David M. Halperin, How to Do the History of Homosexuality.”. Bryn Mawr Classical Review.
    47. ^ David M. Halperin, One Hundred Years of Homosexuality, Rouledge, 1990, ISBN 978-0-415-90097-3
    48. ^ Epstein, Esteven, Gay Politics, Ethnic Identity: The Limits of Social Constructionism, Socialist Review, 1987 nos. 93/94 = 17.3-4:9-54
    49. ^ Xem Queer theory.
    50. ^ Chinese Femininities, Chinese Masculinities: A Reader Lưu trữ 2015-04-02 tại Wayback Machine, by Susan Brownell & Jeffrey N. Wasserstrom (Univ. of Calif. Press, 2002 (ISBN 0520221168, ISBN 978-0-520-22116-1)).
    51. ^ Herdt, Gilbert H. (1984), Ritualized Homosexuality in Melanesia, University of California Press, tr. 128–136, ISBN 0520080963
    52. ^ Gay Rights Or Wrongs: A Christian's Guide to Homosexual Issues and Ministry, by Mike Mazzalonga, 1996, p.11
    53. ^ The Nature Of Homosexuality, Erik Holland, page 334, 2004
    54. ^ Pritchard, p. 181.
    55. ^ The Sufis by Idries Shah (1964).
    56. ^ “Nima Kiann's Forum of Persian and Middle Eastern Dance”. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2016.
    57. ^ Plato, Phaedrus in the Symposium
    58. ^ Plato, Laws, 636D & 835E
    59. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947 Lưu trữ 2012-01-17 tại Wayback Machine, Harvard University Press, 2006, ISBN 0-674-02385-4. Trang 183.
    60. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 187
    61. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 188
    62. ^ Gilley, Brian Joseph (2006). Becoming Two-Spirit: Gay Identity and Social Acceptance in Indian Country. ISBN 0-8032-7126-3.
    63. ^ Gordon, Kathyrn H. and Yezzennya Castro. "The assessment, diagnosis, and treatment of psychiatric disorders in lesbian, gay, and bisexual clients," in Julia D. Buckner, Yezzennya Castro, Jill M Holm-Denoma, and Thomas E Joiner Jr. (eds), Mental Health Care for People of Diverse Backgrounds. Radcliffe Publishing, 2007, p. 52. ISBN 1-84619-094-0.
    64. ^ (1995) "Out in Culture: Gay, Lesbian and Queer Essays on Popular Culture", ISBN 0-304-33488-X, 9780304334889, p.439: "Although the disco pulse was born in the small gay black clubs of New York, disco music only began to gain commercial attention when it was exposed to the dance floor public of large, predominantly white gay discos."
    65. ^ (1998) "The Cambridge History of American Music", ISBN 0-521-45429-8, 9780521454292, p.372: "Initially, disco musicians and audiences alike belonged to marginalized communities: women, gay, black, and Latinos"
    66. ^ “Александр Лапин: Почему необходимо запретить пропаганду гомосексуализма”. 24 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2021.
    67. ^ “Nga xem xét luật chống người đồng tính”. Tuổi Trẻ Online. 22 tháng 1 năm 2013. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018.
    68. ^ “Chinese Government Shuts Down LGBT Event, Detains Attendees”. www.logotv.com.
    69. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2022.
    70. ^ “The timing of Xi Jinping's crackdown on 'effeminate' men, gamers and private tutoring cannot be ignored”. ABC News. 2 tháng 9, 2021 – qua www.abc.net.au.
    71. ^ “Trung Quốc cấm nam nghệ sĩ 'ẻo lả', 'xóa sổ' dòng phim đam mỹ”. Báo Vietnamnet. 3 Tháng 9 2021. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
    72. ^ a b doi:10.1007/s10508-008-9386-1
      Hoàn thành chú thích này
    73. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sciencedaily.com
    74. ^ a b Långström N, Rahman Q, Carlström E, Lichtenstein P (tháng 2 năm 2010). “Genetic and environmental effects on same-sex sexual behavior: a population study of twins in Sweden”. Arch Sex Behav. 39 (1): 75–80. doi:10.1007/s10508-008-9386-1. PMID 18536986.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết). Trích: Biometric modeling revealed that, in men, genetic effects explained.34–.39 of the variance [of sexual orientation], the shared environment.00, and the individual-specific environment.61–.66 of the variance. Corresponding estimates among women were.18–.19 for genetic factors,.16–.17 for shared environmental, and.64–.66 for unique environmental factors. Although wide confidence intervals suggest cautious interpretation, the results are consistent with minor to moderate, primarily genetic, familial effects, and moderate to large effects of the nonshared environment (social and biological) on same-sex sexual behavior
    75. ^ Cook, Christopher C. H. (2021). “The causes of human sexual orientation”. Theology & Sexuality. Durham University, Durham, UK. 27: 1–19. doi:10.1080/13558358.2020.1818541. S2CID 225189040. Truy cập 22 tháng 2 năm 2021.
    76. ^ a b c Coghlan, Andy (ngày 17 tháng 11 năm 2014). “Largest study of gay brothers homes in on 'gay genes'. Psychological Medicine. doi:10.1017/S0033291714002451. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014.
    77. ^ a b c McConaghy N, Hadzi-Pavlovic D, Stevens C, Manicavasagar V, Buhrich N, Vollmer-Conna U (2006). “Fraternal birth order and ratio of heterosexual/homosexual feelings in women and men”. J Homosex. 51 (4): 161–74. doi:10.1300/J082v51n04_09. PMID 17135133.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
    78. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên nature
    79. ^ Ruse 1988, tr. 22.
    80. ^ Ruitenbeek, H.M. (1963). The problem of Homosexuality in modern society. New York: Dutton.
    81. ^ Freud 1905, tr. 48.
    82. ^ a b “LGBT-Sexual Orientation”. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2015.
    83. ^ Staff report (ngày 12 tháng 8 năm 1998). Gay Is Okay With APA—Forum Honors Landmark 1973 Events. Lưu trữ 2013-05-03 tại Wayback Machine JAMA. 1998;280(6):497–499. doi:10.1001/jama.280.6.497
    84. ^ a b c “Just the Facts About Sexual Orientation & Youth: A Primer for Principals, Educators and School Personnel”. American Academy of Pediatrics, American Counseling Association, American Association of School Administrators, American Federation of Teachers, American Psychological Association, American School Health Association, The Interfaith Alliance, National Association of School Psychologists, National Association of Social Workers. 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007. Đã định rõ hơn một tham số trong |tiêu đề=|title= (trợ giúp)
    85. ^ “APA Policy Statements on Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender Concerns”. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2015.
    86. ^ Royal College of Psychiatrists: “Royal College of Psychiatrists response to comments on Nolan Show regarding homosexuality as a mental disorder”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009.
    87. ^ Nghị quyết về giới tính và tình dục định hướng đa dạng ở trẻ em và thanh thiếu niên trong trường học
    88. ^ “Stop discrimination against homosexual men and women”. World Health Organisation — Europe. ngày 17 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012.
    89. ^ “The decision of the World Health Organisation 15 years ago constitutes a historic date and powerful symbol for members of the LGBT community”. ILGA. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010.
    90. ^ Shoffman, Marc (ngày 17 tháng 5 năm 2006), “Homophobic stigma – A community cause”, PinkNews.co.uk, Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2007, truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2007
    91. ^ a b Staff report (ngày 12 tháng 8 năm 1998). Gay Is Okay With APA—Forum Honors Landmark 1973 Events. Lưu trữ 2013-05-03 tại Wayback Machine JAMA. 1998;280(6):497-499. doi:10.1001/jama.280.6.497.
    92. ^ a b The New York Times: Homosexuality Not an Illness, Chinese Say Lưu trữ 2015-01-09 tại Wayback Machine
    93. ^ International Day Against Homophobia and Transphobia Lưu trữ 2015-04-04 tại Wayback Machine)
    94. ^ a b The Long Road to Freedom, ed. by Mark Thompson. St Martin Press 1995. ISBN 0-3121-3114-3. P 97.
    95. ^ Love Undetectable, by Andrew Sullivan, 1998, p. 107.
    96. ^ UserTweets:0. “America homosexuality”. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
    97. ^ Darlene Bogle, "Healing from Lesbianism," in Yamamoto, 15.
    98. ^ Bob Davies, "The Exodus Story: The Growth of Ex-gay Ministry," in Yamamoto, 47-59. Also, see Kent Philpott, The Gay Theology (Plainfield, NJ: Logos International, 1977), 20-37.
    99. ^ Andrew Comiskey, Pursuing Sexual Wholeness: How Jesus Heals the Homosexual (Lake Mary, FL: Creation House, 1989).
    100. ^ Joanne Highley, L.I.F.E. Ministries, P.O. Box 353, New York, NY 10185.
    101. ^ a b Stanton L. Jones, "Homosexuality According to Science," in J. Isamu Yamamoto, ed., The Crisis of Homosexuality (Wheaton, IL: Victor Books, 1990), p. 107
    102. ^ a b American Psychological Association Lưu trữ 2015-05-31 tại Wayback Machine Answers to Your Questions For a Better Understanding of Sexual Orientation & Homosexuality -

      There is no consensus among scientists about the exact reasons that an individual develops a heterosexual, bisexual, gay, or lesbian orientation. Although much research has examined the possible genetic, hormonal, developmental, social, and cultural influences on sexual orientation, no findings have emerged that permit scientists to conclude that sexual orientation is determined by any particular factor or factors. Many think that nature and nurture both play complex roles; most people experience little or no sense of choice about their sexual orientation.

    103. ^ "Opposite-Sex Twins and Adolescent Same-Sex Attraction," American Journal of Sociology Vol. 107, No. 5, (March 2002). The University of Chicago. P. 1179-1205” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013.
    104. ^ Edward O. Laumann & John H. Gagnon, Robert T. Michael, Stuart Michaels (1994). The Social Organization of Sexuality: Sexual Practices in the United States. tr. 308. ISBN 978-0-22646957-7. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2013. line feed character trong |title= tại ký tự số 4 (trợ giúp)Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
    105. ^ Edward Laumann; Michael, Robert; Kolata, Gina (ngày 1 tháng 9 năm 1995). Sex in America: A Definitive Survey. Grand Central Publishing. ISBN 978-0446671835. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2013.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
    106. ^ Edward O. Laumann & John H. Gagnon, Robert T. Michael, Stuart Michaels (1994). The Social Organization of Sexuality: Sexual Practices in the United States. tr. 308. ISBN 0-226-46957-3. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2014.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
    107. ^ Edward Laumann; Michael, Robert; Kolata, Gina (ngày 1 tháng 9 năm 1995). Sex in America: A Definitive Survey. Grand Central Publishing. ISBN 978-0-446-67183-5. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2013.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
    108. ^ Lung, F.W. (2007). “Father-son attachment and sexual partner orientation in Taiwan”. Comprehensive Psychiatry. 48: 20–6. doi:10.1016/j.comppsych.2006.08.001. |ngày truy cập= cần |url= (trợ giúp)
    109. ^ Isay, Richard A. (1990). Being homosexual: Gay men and their development. HarperCollins. ISBN 0-380-71022-6.
    110. ^ Isay, Richard A. (1996). Becoming gay: The journey to self-acceptance. New York, Pantheon. ISBN 0-679-42159-9.
    111. ^ Holmes, William C. (ngày 2 tháng 12 năm 1998). “Sexual Abuse of Boys”. The Journal of the American Medical Association. 280 (21). |ngày truy cập= cần |url= (trợ giúp)
    112. ^ M.E. Tomeo & Templer D.L. (2001). “Comparative data of childhood adolescence molestation in heterosexual and homosexual persons”. Archives of Sexual Behavior. 30: 535–541.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
    113. ^ “Why women are leaving men for other women”. CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2013.
    114. ^ Blanchard, R., Cantor, J. M., Bogaert, A. F., Breedlove, S. M., & Ellis, L. (2006). "Interaction of fraternal birth order and handedness in the development of male homosexuality." Lưu trữ 2020-11-29 tại Wayback Machine Hormones and Behavior, 49, 405–414.
    115. ^ Blanchard, R., Zucker, K.J., Siegelman, M., Dickey, R. & Klassen, P. (1998). The relation of birth order to sexual orientation in men and women. Journal of Biosocial Science, 30, 511-­519.
    116. ^ Ellis, L. & Blanchard, R. (2001). Birth order, sibling sex ratio, and maternal miscarriages in homosexual and heterosexual men and women. Personality and Individual Differences, 30, 543-552.
    117. ^ Blanchard, R. (2001). Fraternal birth order and the maternal immune hypothesis of male homosexuality. Hormones and Behavior, 40, 105-114.
    118. ^ Puts, D. A., Jordan, C. L., Breedlove, M. (2006). O brother, where art thou? The fraternal birth-order effect on male sexual orientation. Proceedings of the National Academy of Sciences USA, 103, 10531-10532.
    119. ^ Cantor, J. M., Blanchard, R., Paterson, A. D., & Bogaert, A. F. (2002). How many gay men owe their sexual orientation to fraternal birth order. Archives of Sexual Behavior, 31, 63-71.
    120. ^ Bogaert, A. F. (2005) Sibling sex ratio and sexual orientation in men and women: New tests in two national probability samples. Archives of Sexual Behavior, 34, 111-116.
    121. ^ Dörner, G., Rohde, W., Stahl, F., Krell, L., & Masius, W.-G. (1975). A neuroendocrine predisposition for homosexuality in men. Archives of Sexual Behavior, 4, 1–8.
    122. ^ Ellis & Ames (1987). Neurohormonal functioning and sexual orientation: A theory of homosexuality-heterosexuality. Psychological Bulletin, 101, 233–258.
    123. ^ “Tại sao người ta đồng tính ?”. Thanh Niên Online. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
    124. ^ Dörner, G., Geier, T., Ahrens, L., Krell, L., Münx, G., Sieler, H., Kittner, E., & Müller, H. (1980). Prenatal stress as possible aetiogenetic factor of homosexuality in human males. Endokrinologie, 75, 365–368.
    125. ^ Dörner, G., Schenk, B., Schmiedel, B., & Ahrens, L. (1983). Stressful events in prenatal life and bi- and homosexual men. Experimental and Clinical Endocrinology, 31, 83–87.
    126. ^ Ellis, L., & Cole-Harding, S. (2001). The effects of prenatal stress, and of prenatal alcohol and nicotine exposure, on human sexual orientation. Physiology and Behavior, 74, 213–226.
    127. ^ Sexual Orientation and Adolescents Lưu trữ 2006-05-29 tại Wayback Machine, American Academy of Pediatrics Clinical Report. Truy cập 2007-02-23.
    128. ^ Diamond, Lisa (2003). “Was it a phase? Young women's relinquishment of lesbian/bisexual identities over a 5-year period” (PDF). Journal of Personality and Social Psychology. 84 (2): 352–364. doi:10.1037/0022-3514.84.2.352. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015.
    129. ^ a b c This work was published in the American Journal of Sociology (Bearman, P. S. & Bruckner, H. (2002) Opposite-sex twins and adolescent same-sex attraction. American Journal of Sociology 107, 1179–1205.) and is available only to subscribers. However, a final draft of the paper is available here Lưu trữ 2011-07-19 tại Wayback Machine – there are no significant differences on the points cited between the final draft and the published version.
    130. ^ a b American Psychiatric Association (2000). “Gay, Lesbian and Bisexual Issues - AGLP Fact Sheets”. Association of Gay and Lesbian Psychiatrics. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009.
    131. ^ “ARQ2: Question A2 – Sexual Orientation”. CAMH. Centre for Addiction and Mental Health. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007.
    132. ^ Diamond, Lisa M. (2008). “Female bisexuality from adolescence to adulthood: Results from a 10-year longitudinal study” (PDF). 44 (1). Developmental Psychology: 5–14. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2013. Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
    133. ^ “Bisexual women – new research findings”. Women's Health News. ngày 17 tháng 1 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2013.
    134. ^ Ponticelli, C. M. (1999). Crafting stories of sexual identity reconstruction. Social Psychology Quarterly, 62, 157–172.
    135. ^ Erzen, T. (2006). Straight to Jesus: Sexual and Christian conversions in the ex-gay movement. Los Angeles: University of California Press.
    136. ^ Thumma, S. (1991). Negotiating a religious identity: The case of the gay evangelical. Sociological Analysis, 52, 333–347.
    137. ^ Kerr, R. A. (1997). The experience of integrating gay identity with evangelical Christian faith. Dissertation Abstracts International, 58(09), 5124B. (UMI No. 9810055).
    138. ^ Simon, Stephanie (7 tháng 8 năm 2009). “A New Therapy on Faith and Sexual Identity”. Wall Street Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2013.
    139. ^ Jorm, AF, Dear, KB, Rogers, B, Christensen, H. Cohort difference in sexual orientation: results from a large age-stratified population sample. Gerontology. 2003 Nov-Dec; 49(6)392-5.
    140. ^ Same -sex attraction in a birth cohort: prevalence and ersistence in early adulthood. Nigel Dickson, Charlotte Paul, Peter HerbisonSocial. Science & Medicine 56 (2003), p 1607–1615. Trích: Between age 21 and 26, slightly more men moved away from an exclusive heterosexual attraction (1.9% of all men) than moved towards it (1.0%). These findings show that much same-sex attraction is not exclusive and is unstable in early adulthood, especially among women. The proportion of women reporting some same -sex attraction in New Zealand is high compared both to men, and to women in the UK and US. These observations, along with the variation with education, are consistent with alarge role for the social environment".
    141. ^ “Liberty Counsel: Scouts Need to be Protected from 'Homosexual Pressures and Predators' | ThinkProgress”. ThinkProgress. ThinkProgress. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2013. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
    142. ^ Same Sex Marriage: Putting Every Household At Risk. Mathew D. Staver. B&H Group Publishing 2004. ISBN 978-0-8054-3196-4. P. 12.
    143. ^ Paul Van de Ven, Pamela Rodden, June Crawford, Susan Kippax. A Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men Lưu trữ 2021-12-25 tại Wayback Machine. The Journal of Sex Research, Vol. 34, No. 4, 1997, tr. 349-360.
    144. ^ Meyer-Balburg H. Exner, T.,Lorenz G., Gruen, R., Gorman, J, Ehrhardt, A (1991) Sexual Risk Behavior, Sexual Functioning and HIV-Disease Progression in Gay Men Journal of Sex Research. 28, 1: 3-27.
    145. ^ a b Fethers K et al. Sexually transmitted infections and risk behaviours in women who have sex with women. Sexually Transmitted Infections 2000; 76: 345-9.
    146. ^ L. Fifield, J. Latham and C. Phillips, "Alcoholism in the Gay Community: The Price of Alienation, Isolation, and Oppression," A Project of the Gay Community Service Center, Los Angeles.
    147. ^ J. H. Lowinson, et al., Substance Abuse: A Comprehensive Textbook, 3d ed. (Baltimore, MD: Williams & Wilkins, 1997).[cần số trang]
    148. ^ “APA Help Center - Health & Emotional Wellness - "Sexual Orientation and Homosexuality". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2009.
    149. ^ “What is Nature”. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009.
    150. ^ “Equal level of commitment and relationship satisfaction found among gay and heterosexual couples”. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2009.
    151. ^ S.M/ Duffy & C.E. Rusbult (1985). “Satisfaction and commitment in homosexual and heterosexual relationships”. Journal of Homosexuality. 12 (2): 1–23. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
    152. ^ Baccman Charlotte & Per Folkesson, Torsten Norlander (1999). “Expectations of romantic relationships: A comparison between homosexual and heterosexual men with regard to Baxter's criteria”. Social Behavior and Personality. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
    153. ^ “APA - What is Nature”. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009.
    154. ^ Gunnar Andersson, "Divorce-Risk Patterns in Same-Sex Marriages in Norway and Sweden"2004.
    155. ^ Adrian Brune, "City Gays Skip Long-term Relationships: Study Says," Washington Blade (February 27, 04): 12.
    156. ^ The Contribution of Steady and Casual Partnerships to the Incidence of HIV Infection among Homosexual Men in Amsterdam," AIDS 17 (2003): 1031.
    157. ^ [M. Pollak, "Male Homosexuality," in Western Sexuality: Practice and Precept in Past and Present Times, ed. P. Aries and A. Bejin, translated by Anthony Forster (New York, NY: B. Blackwell, 1985): 40-61 http://www.frc.org/get.cfm?i=IS04C02 Lưu trữ 2013-12-03 tại Wayback Machine]
    158. ^ Ryan Lee, "Gay Couples Likely to Try Non-monogamy, Study Shows," Washington Blade (ngày 22 tháng 8 năm 2003): 18.
    159. ^ A Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men," Journal of Sex Research 34 (1997): 354.
    160. ^ Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men," Journal of Sex Research 34, 1997. P 354.
    161. ^ Solomon, Sondra E.; Rothblum, Esther D.; Balsam, Kimberly F. (2005). “Money, Housework, Sex, and Conflict: Same-Sex Couples in Civil Unions, Those Not in Civil Unions, and Heterosexual Married Siblings” (PDF). Sex Roles. 52 (9–10): 561–575. doi:10.1007/s11199-005-3725-7. S2CID 35217891. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013.
    162. ^ “HOMOSEXUAL PARENTING: PLACING CHILDREN AT RISK (Part II of III)”. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013.
    163. ^ “Just the Facts about Sexual Orientation & Youth: A Primer for Principals, Educators & School Personnel”. American Psychological Association. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013.
    164. ^ “Psychologists Reject Gay 'Therapy'. The New York Times. Associated Press. ngày 5 tháng 8 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013.
    165. ^ “What about therapy intended to change sexual orientation from gay to straight?”. American Psychological Association. 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009.
    166. ^ American Psychiatric Association (2008). “JUST THE FACTS ABOUT Sexual Orientation and Youth” (PDF). The Just the Facts Coalition. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009.
    167. ^ “Flier About 'Ex-Gays' Ignites Firestorm At School”. NBC. ngày 11 tháng 11 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009.
    168. ^ Josh Levs (ngày 2 tháng 10 năm 2012). “California governor OKs ban on gay conversion therapy, calling it 'quackery'. CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2013.
    169. ^ Jeffrey Satinover, M.D. Homosexuality and the Politics of Truth, Baker Books, Grand Rapids, Michigan, 1996. ISBN 978-1-4412-1293-1. P. 186.
    170. ^ Warren Throckmorton, "Initial Empirical and Clinical Findings Concerning the Change Process for Ex-gays;" Psychotherapy: Theory/Research/Practice/Training, Vol. 39, No. 1, p. 66-75.
    171. ^ “Gender Dysphoria”. Psychology Today. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2021. Truy cập 5 tháng 2 năm 2018.
    172. ^ “Gender identity disorder in adolescence and adulthood”. ICD10Data.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011.
    173. ^ The American Psychiatric Publishing textbook of psychiatry. Robert Ernest Hales, Stuart C. Yudofsky, Glen O. Gabbard. American Psychiatric Publishing 2008. ISBN 978-1-58562-257-3. P 1475
    174. ^ Caceres, C.; Konda, K.; Pecheny, M.; Chatterjee, A.; Lyerla, R. (2006). “Estimating the number of men who have sex with men in low and middle income countries”. Sexually Transmitted Infections. 82 (Suppl. III): iii3–iii9. doi:10.1136/sti.2005.019489. PMC 2576725. PMID 16735290.
    175. ^ International HIV/AIDS Alliance (2003). Between Men: HIV/STI Prevention For Men Who Have Sex With Men (PDF). OCLC 896761012. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2020.
    176. ^ Billy JO, Tanfer K, Grady WR, Klepinger DH (1993). “The sexual behavior of men in the United States”. Family Planning Perspectives. 25 (2): 52–60. doi:10.2307/2136206. JSTOR 2136206. PMID 8491287.
    177. ^ Bogaert AF (tháng 9 năm 2004). “The prevalence of male homosexuality: the effect of fraternal birth order and variations in family size”. Journal of Theoretical Biology. 230 (1): 33–7. Bibcode:2004JThBi.230...33B. doi:10.1016/j.jtbi.2004.04.035. PMID 15275997. Bogaert lập luận rằng: "Tỷ lệ đồng tính luyến ái nam đang được tranh luận. Một ước tính ban đầu được báo cáo rộng rãi là 10% (ví dụ, Marmor, 1980; Voeller, 1990). Một số dữ liệu gần đây hỗ trợ cho ước tính này (Bagley và Tremblay, 1998), nhưng các mẫu quốc gia lớn gần đây gợi ý rằng tỷ lệ đồng tính luyến ái nam ở các xã hội phương Tây hiện đại, bao gồm cả Hoa Kỳ, thấp hơn so với ước tính ban đầu này (ví dụ: 1–2% theo Billy và các đồng nghiệp, 1993; 2–3% theo Laumann và các đồng nghiệp, 1994; 6% theo Sell và các đồng nghiệp, 1995; 1–3% theo Wellings và các đồng nghiệp, 1994). Tuy nhiên, điều cần lưu ý là đồng tính luyến ái được định nghĩa theo những cách khác nhau trong các nghiên cứu này. Ví dụ, một số sử dụng hành vi cùng giới chứ không phải sự thu hút cùng giới làm định nghĩa hoạt động về đồng tính luyến ái (ví dụ, Billy và các đồng nghiệp, 1993); nhiều nhà nghiên cứu về tình dục (ví dụ, Bailey và các đồng nghiệp, 2000; Bogaert, 2003; Money, 1988; Zucker và Bradley, 1995) hiện nhấn mạnh sự hấp dẫn hơn hành vi công khai trong việc khái niệm hóa xu hướng tính dục." (tr.33) Ngoài ra: "...tỷ lệ đồng tính luyến ái nam (đặc biệt là sự hấp dẫn cùng giới) thay đổi theo thời gian và giữa các xã hội (và do đó là "mục tiêu di động") một phần vì hai tác động: (1) sự thay đổi về tỷ lệ sinh hoặc quy mô gia đình và (2) ảnh hưởng của thứ tự sinh con. Do đó, ngay cả khi được đo chính xác ở một quốc gia tại một thời điểm, tỷ lệ đồng tính luyến ái nam có thể thay đổi và không thể khái quát hóa cho mọi thời gian hoặc mọi xã hội." (tr.33)
    178. ^ Fay RE, Turner CF, Klassen AD, Gagnon JH (tháng 1 năm 1989). “Prevalence and patterns of same-gender sexual contact among men”. Science. 243 (4889): 338–48. Bibcode:1989Sci...243..338F. doi:10.1126/science.2911744. PMID 2911744.
    179. ^ Sell RL, Wells JA, Wypij D (tháng 6 năm 1995). “The prevalence of homosexual behavior and attraction in the United States, the United Kingdom and France: results of national population-based samples”. Archives of Sexual Behavior. 24 (3): 235–48. doi:10.1007/BF01541598. PMID 7611844. S2CID 12929812.
    180. ^ a b Hope, Debra A biên tập (2009). Contemporary Perspectives on Lesbian, Gay, and Bisexual Identities. Nebraska Symposium on Motivation. 54. doi:10.1007/978-0-387-09556-1. ISBN 978-0-387-09555-4.
    181. ^ Smith, David M.; Gates, Gary J. (22 tháng 8 năm 2001). “Gay and Lesbian Families in the United States: Same-Sex Unmarried Partner Households” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011.
    182. ^ Gary Gates (tháng 4 năm 2011). “How Many People are Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender?”. The Williams Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2014.
    183. ^ "Sexual Orientation and Health Among U.S. Adults: National Health Interview Survey, 2013." Lưu trữ 4 tháng 12 2018 tại Wayback Machine CDC. 15 July 2014. 15 July 2014. p.3.
    184. ^ Gates, Gary J.; Newport, Frank (18 tháng 10 năm 2012). “Special Report: 3.4% of U.S. Adults Identify as LGBT”. Gallup. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2015.
    185. ^ “Gallup survey claims 3.4 percent in U.S. are LGBT”. CBS News. Associated Press. 18 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2015.
    186. ^ Jayson, Sharon (19 tháng 10 năm 2012). “New survey: 3.4% of U.S. adults are LGBT”. USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2015.
    187. ^ Newport, Frank (22 tháng 5 năm 2018). “In U.S., Estimate of LGBT Population Rises to 4.5%”. Gallup. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018.
    188. ^ “Measuring Sexual Identity: Evaluation Report, 2010”. Office for National Statistics (UK). 23 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012.
    189. ^ a b c d Black, Dan; Gates, Gary; Sanders, Seth; Taylor, Lowell (2000). “Demographics of the Gay and Lesbian Population in the United States: Evidence from Available Systematic Data Sources”. Demography. 37 (2): 139–154. doi:10.2307/2648117. JSTOR 2648117. PMID 10836173.
    190. ^ Catalyst, Sr. Kitty, Staff of San Francisco City Clinic; "Reading This Might Save Your Ass"; 2001, San Francisco HIV Prevention and STD Prevention and Control.
    191. ^ Men Like Us: The GMHC Complete Guide to Gay Men's Sexual, Physical, and Emotional Well-being; Wolfe, Daniel; Gay Men's Health Crisis, Inc; Published by Ballantine Books, 2000; ISBN 0345414969, 9780345414960.
    192. ^ “Kỳ thị đẩy người đồng tính vào con đường mại dâm”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2012.
    193. ^ “Quan hệ đồng tính nam lây HIV cao gấp 20 lần mại dâm”. Báo Nông nghiệp Việt Nam. 29 tháng 8 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2012. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
    194. ^ “Nguy cơ nhiễm HIV cao từ quan hệ đồng tính nam”. Báo Đồng Nai. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2022. Truy cập 20 tháng 3 năm 2015.
    195. ^ “Tỷ lệ nhiễm HIV tăng do quan hệ tình dục đồng giới - VnExpress Sức khỏe”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 12 tháng 11 năm 2015.
    196. ^ “CDC: HIV rates high among young gay men, many unaware they're infected - CBS News”. CBS News. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2013. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
    197. ^ “NATIONAL HIV/AIDS STRATEGY FOR THE UNITED STATES. P 14”. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2021.
    198. ^ Prejean J, Song R, Hernandez A, Ziebell R, Green T, et al. (2011) Estimated HIV Incidence in the United States, 2006-2009. PLoS ONE 6(8): e17502. doi:10.1371/journal.pone.0017502
    199. ^ “Đồng tính nam - Ổ bệnh HIV”. Người Lao động. 30 tháng 11 năm 2012. Truy cập 12 tháng 11 năm 2015.
    200. ^ “Why Do Gay Men Have An Increased HIV/AIDS”. ngày 19 tháng 9 năm 2016.
    201. ^ “Songkran 2015: Nguy cơ lây nhiễm HIV đối với người đồng tính nam”. Một Thế giới. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập 12 tháng 11 năm 2015.
    202. ^ Cber / Fda. “FDA Policy on Blood Donations from Men Who Have Sex with Other Men”. Food and Drug Administration. Web.archive.org. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010.
    203. ^ “Give Blood - Exclusion of Men who have Sex with Men from Blood Donation”. The National Blood Service —. Blood.co.uk. ngày 19 tháng 7 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010.
    204. ^ http://typo3.lsvd.de/fileadmin/pics/Dokumente/Homosexualitaet/World_legal_wrap_up_survey._November2006.pdf Lưu trữ 2012-03-10 tại Wayback Machine LGBT world legal wrap up survey
    205. ^ http://bama.ua.edu/~safezone/timeline.pdf Lưu trữ 2010-06-13 tại Wayback Machine LGBTQ Timeline
    206. ^ http://www.psychiatryonline.com/DSMPDF/DSM-II_Homosexuality_Revision.pdf Lưu trữ 2011-10-16 tại Wayback Machine Homosexuality and Sexual Orientation Disturbance: Proposed Change in DSM-II, 6th Printing, page 44 POSITION STATEMENT (RETIRED)
    207. ^ “A timeline of the homosexual "rights" juggernaut”. Free Online Library. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2012. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
    208. ^ ONLINE, TUOI TRE (29 tháng 5 năm 2019). “Đài Loan công nhận hôn nhân đồng giới gây lúng túng cho Trung Quốc”. TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
    209. ^ VTV, BAO DIEN TU (28 tháng 3 năm 2024). “Hạ viện Thái Lan thông qua dự luật hôn nhân đồng giới”. BAO DIEN TU VTV. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
    210. ^ “Unlikely Vietnam considers same-sex marriage”. The Guardian. 9 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2013.
    211. ^ [Japan and Sexual Minorities http://www.hurights.or.jp/archives/focus/section2/2008/06/japan-and-sexual-minorities.html Lưu trữ 2013-04-06 tại Wayback Machine]
    212. ^ “The five most improved places for gay tolerance”. The Independent. Luân Đôn. ngày 17 tháng 9 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2009. Israel is the only Middle-Eastern country to support gay rights legislation, and the country attracts gay people from Palestine and Lebanon.
    213. ^ “Three-in-Five Israelis Back Same-Sex Marriage”. Angus Reid Public Opinion. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2011.
    214. ^ “The five most improved places for gay tolerance”. Independent.co.uk. The Independent. 16 tháng 9 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2017. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
    215. ^ “Angus Reid Global”. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2015. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
    216. ^ "The world's most gay-friendly places". Calgary Herald. Jun 29, 2011.
    217. ^ “Dispatch | Gay Tel Aviv”. 2 tháng 7 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập 5 tháng 11 năm 2015.
    218. ^ James Kirchick. "Was Arafat Gay?". Out.
    219. ^ “Tel Aviv named 'world's best gay city' for 2011”. The Jerusalem Post JPost.com. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2015. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
    220. ^ “Two killed in shooting at Tel Aviv gay center”. Haaretz. Haaretz.com. 1 tháng 8 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2017. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
    221. ^ “Israel's monument to gays persecuted by Nazis planned for Tel Aviv”. Size Doesn't Matter. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2013. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.Quản lý CS1: địa điểm (liên kết)
    222. ^ Xem
    223. ^ “The Global Divide on Homosexuality”. Pew Research Global Attitudes Project. ngày 4 tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2014.
    224. ^ American Psychological Association (2004). “Resolution on Sexual Orientation and Marriage” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010.
    225. ^ a b “Marriage of Same-Sex Couples – 2006 Position Statement” (PDF). Canadian Psychological Association. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
    226. ^ Royal College of Psychiatrists. “Royal College of Psychiatrists' Position Statement on Sexual Orientation” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010.
    227. ^ American Sociological Association. “American Sociological Association Member Resolution on Proposed U.S. Constitutional Amendment Regarding Marriage”. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010.
    228. ^ American Medical Association. “AMA Policy Regarding Sexual Orientation”. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014.
    229. ^ a b doi:10.1542/peds.2006-1279
      Hoàn thành chú thích này
    230. ^ American Anthropological Association (2005). “Statement on Marriage and the Family from the American Anthropological Association”. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010.
    231. ^ “18 Anti-Gay Groups and Their Propaganda”. Southern Poverty Law Center. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2014.
    232. ^ “Defining the Gay Agenda”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2014.
    233. ^ “National Organization for Marriage Caught Helping Russia Pass Antigay Laws”. Advocate.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2013. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
    234. ^ “Religious Groups' Official Positions on Same-Sex Marriage”. Pew Research Religion and Public Life Project. ngày 7 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014.
    235. ^ http://www.ncregister.com/site/article/sowing-dissent-on-marriage/ Lưu trữ 2014-01-08 tại Wayback Machine.
    236. ^ Reasoning with the Unreasonable: 23 Controversial Essays on Current Tragedies of Ignoring Foundational Principals. Richard Kay. Author House, 2008. ISBN 978-1-4343-7159-1. P 201-202.
    237. ^ Future of Marriage. David Blankenhorn. Encounter Books Publishing 2009. ISBN 978-1-594032-41-7. P 178. Trích tiến sĩ David Blankenhorn:
      Xuyên suốt lịch sử và mọi nền văn hóa... ý tưởng cơ bản nhất của hôn nhân là mọi trẻ em đều cần một người mẹ và một người cha. Thay đổi luật để chấp nhận hôn nhân đồng tính sẽ phá vỡ nguyên tắc này trong nền văn hóa và pháp luật... Luật pháp là một giáo viên tuyệt vời, và nếu những người ủng hộ hôn nhân đồng tính thành công, trẻ em sẽ bị trục xuất khỏi bài học về hôn nhân. Chấp nhận hôn nhân đồng tính sẽ khiến cho các thế hệ tương lai nghĩ rằng hôn nhân không phải là vì trẻ em mà chỉ vì sự gắn kết quan hệ. Khi hôn nhân không còn gì nhiều hơn sự gắn kết quan hệ, ít người sẽ kết hôn để có con... Người dân vẫn sẽ sinh con, tất nhiên, nhưng rất nhiều trong số trẻ em là con ngoài giá thú. Đó là một thảm họa cho tất cả mọi người. Trẻ em bị tổn thương vì thiếu sự nuôi nấng của cha hoặc mẹ. Xã hội bị tổn thương vì sẽ bắt đầu một chuỗi các tác động tiêu cực dẫn đến nghèo đói, tội phạm, các chi phí phúc lợi cao hơn dẫn đến bộ máy nhà nước phình to hơn, thuế cao hơn, và một nền kinh tế trì trệ hơn.
    238. ^ Stanley Kurtz, "The End of Marriage in Scandinavia: The 'conservative case' for same-sex marriage collapses," The Weekly Standard 9, No. 20 (ngày 2 tháng 2 năm 2004): 26-33. Trích:
      Chấp nhận hôn nhân đồng tính đã làm suy yếu thể chế hôn nhân ở Bắc Âu. Nếu như ở Na Uy, hôn nhân đồng tính đã được áp đặt bởi một văn hóa xã hội tự do, nó sẽ có khả năng tăng tốc độ của chúng ta trên con đường hướng tới tình hình tại Bắc Âu: hôn nhân truyền thống hiếm hoi hơn, sinh con ngoài giá thú phổ biến hơn, và tan vỡ gia đình tăng vọt. Trong bối cảnh nước Mỹ, điều này sẽ là một thảm họa.
      :Khi chúng ta nhìn vào Nordland và Nord-Troendelag, Vermont tại Na Uy - chúng ta có thể đang nhìn vào tương lai của hôn nhân trong một thế giới mà hôn nhân đồng tính được chấp nhận gần như hoàn toàn. Những gì chúng ta thấy là một nơi mà hôn nhân đã gần như hoàn toàn biến mất. Hôn nhân đồng tính ở Bắc Âu đã thúc đẩy ý nghĩ rằng hôn nhân là một hình thức lỗi thời, và rằng mọi hình thức gia đình, bao gồm cả cha mẹ ngoài giá thú, là có thể chấp nhận được. Không chỉ Na Uy, Blankenhorn báo cáo xu hướng này tương tự ở các nước khác. Các cuộc điều tra quốc tế cho thấy rằng chấp nhận hôn nhân đồng tính và sự xói mòn của hôn nhân truyền thống có xu hướng song hành với nhau. Truyền thống hôn nhân là tàn lụi nhất ở bất cứ nơi nào hôn nhân đồng tính là hợp pháp.
      :Người ta có thể tin tưởng vào hôn nhân đồng tính. Người ta có thể tin rằng mọi trẻ em đều xứng đáng có một người mẹ và một người cha. Nhưng người ta không thể tin vào cả hai. Vâng, nếu hôn nhân không phải là vì trẻ em, vậy thứ gì là vì trẻ em? Trái ngược với những gì các nhà hoạt động đồng tính hô hào, nhà nước không xác nhận quyền kết hôn chỉ vì mọi người có tình cảm với nhau. Nhà nước công nhận hôn nhân chủ yếu là vì lợi ích của hôn nhân cho trẻ em và xã hội (nếu không, chúng ta sẽ phải công nhận cả hôn nhân cận huyết hoặc chế độ đa thê). Xã hội không nhận được lợi ích gì từ hôn nhân đồng tính. Tương lai của trẻ em và một xã hội văn minh phụ thuộc vào hôn nhân bền vững giữa nam và nữ. Đó là lý do tại sao, bất kể những gì bạn nghĩ về đồng tính luyến ái, hai loại quan hệ không bao giờ nên được coi là tương đương về pháp lý.
    239. ^ Dana Mack, "Now What for Marriage?," www.wsj.com, Aug. 6, 2010.
    240. ^ http://gaymarriage.procon.org/view.source.php?sourceID=010651 Lưu trữ 2013-10-23 tại Wayback Machine Love Isn't Enough: 5 Reasons Why Same-Sex Marriage Will Harm Children
    241. ^ cited in Cooper & Cates, 2006, p. 36; citation available on http://www.psychology.org.au/Assets/Files/LGBT-Families-Lit-Review.pdf Lưu trữ 2011-03-04 tại Wayback Machine
    242. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên dx5br1z4f6n0k.cloudfront.net
    243. ^ a b “Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, The American Psychiatric Association, and the American Association for Marriage and Family Therapy as Amici Curiae in support of plaintiff-appellees” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010.
    244. ^ Pawelski JG, Perrin EC, Foy JM; và đồng nghiệp (tháng 7 năm 2006). “The effects of marriage, civil union, and domestic partnership laws on the health and well-being of children”. Pediatrics. 118 (1): 349–64. doi:10.1542/peds.2006-1279. PMID 16818585. “Và đồng nghiệp” được ghi trong: |author= (trợ giúp)Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
    245. ^ a b Herek GM (2006). “Legal recognition of same-sex relationships in the United States: a social science perspective” (PDF). The American Psychologist. 61 (6): 607–21. doi:10.1037/0003-066X.61.6.607. PMID 16953748. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015.
    246. ^ “How Does the Gender of Parents Matter” (PDF). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015.
    247. ^ “Brief presented to the Legislative House of Commons Committee on Bill C38 yb the Canadian Psychological Association – ngày 2 tháng 6 năm 2005” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015.
    248. ^ “ASA Statement Against The Proposed Constitutional Amendment Prohibiting Same-Sex Marriage”. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015.
    249. ^ Escobar, Samantha (ngày 27 tháng 7 năm 2013). “Children of Gay Couples Impacted By Parents' Relationship But Not Sexual Orientation: Study”. Huffington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013.
    250. ^ “Gay and Lesbian Parents”. American Academy Of Pediatrics. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013.
    251. ^ “Children with Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender Parents”. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015.
    252. ^ “Elizabeth Short, Damien W. Riggs, Amaryll Perlesz, Rhonda Brown, Graeme Kane: Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender (LGBT) Parented Families – A Literature Review prepared for The Australian Psychological Society” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
    253. ^ Royal College of Psychiatrists. “Royal College of Psychiatrists' Position Statement on Sexual Orientation” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010.
    254. ^ Butler, Katy (ngày 7 tháng 3 năm 2006). “Many Couples Must Negotiate Terms of 'Brokeback' Marriages”. New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009.
    255. ^ “The Married Lesbian”. Taylor & Francis - Harnessing the Power of Knowledge. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009.
    256. ^ Büntzly, G. (1993). “Gay fathers in straight marriages”. Journal of Homosexuality. 24 (3–4): 107–114. doi:10.1300/J082v24n03_07. PMID 8505530. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009.
    257. ^ Bozett, Frederick W. “The Heterosexually Married Gay and Lesbian Parent”. Gay and Lesbian Parents. tr. 138. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009.
    258. ^ Dunne, E. J. (1987). “Helping gay fathers come out to their children”. Journal of Homosexuality. 14 (1–2): 213–222. doi:10.1300/J082v14n01_16. PMID 3655343. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009.
    259. ^ “A Family Matter: When a Spouse Comes Out as Gay, Lesbian, or Bisexual”. Taylor & Francis - Harnessing the Power of Knowledge. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009.
    260. ^ “EMRK is for the LGBT adoption”.
    261. ^ “Euronews: Gleichgeschlechtliche Adoptiveltern - Gerichtshof rügt Frankreich (german)”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009.
    262. ^ “Adoption Laws: State by State”. HRC. Human Rights Campaign. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008.
    263. ^ Kirk Patrick M, Smith C, Roy R (1981). “Lesbian mothers and their children: a comparative survey”. Am J Orthopsychiatry. 51 (3): 545–51. PMID 7258320.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
    264. ^ Susan Golombok, Ann Spencer and Michael Rutter (1983). “Children in lesbian and single-parent households: psychosexual and psychiatric appraisal”. J Child Psychol Psychiatry. 24 (4): 551–72. doi:10.1111/j.1469-7610.1983.tb00132.x. PMID 6630329.
    265. ^ Green R, Mandel JB, Hotvedt ME, Gray J, Smith L (1986). “Lesbian mothers and their children: a comparison with solo parent heterosexual mothers and their children”. Arch Sex Behav. 15 (2): 167–84. doi:10.1007/BF01542224. PMID 3718205.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
    266. ^ “Bản sao đã lưu trữ” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013.
    267. ^ “Why Is The Author Of Disputed Gay Parenting Study Testifying On Same-Sex Marriage?”. HuffPost. The Huffington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2015. Truy cập 23 tháng 3 năm 2015.
    268. ^ Sprigg, Peter. “Homosexual Parent Study: Summary of Findings”. Frc.org. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2015.
    269. ^ Growing up in a lesbian family: effects on child development. Fiona L. Tasker, Susan Golombok. Guilford Press, 1997. ISBN 1-57230-412-X. P 111.
    270. ^ Stacy, J. & Biblarz, T. J. (2001). Does sexual orientation of parents matter? American Sociological Review, 66 (2), p. 171.
    271. ^ “Anti-LGBT views still prevail, global survey finds”. The Guardian. 17 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2019.
    272. ^ “Religious Belief and National Belonging in Central and Eastern Europe”. Pew Research Center. 10 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2019.
    273. ^ Adamczyk, Amy (2017). Cross-National Public Opinion about Homosexuality: Examining Attitudes across the Globe. University of California Press. tr. 3–7. ISBN 9780520963597. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2017.
    274. ^ Coleman, Hazir (2019). “The Impact of Discrimination Against The LGBTQ Community”.
    275. ^ Takács, Judit (tháng 4 năm 2006). “Social exclusion of young lesbian, gay, bisexual and transgender (LGBT) people in Europe” (PDF).
    276. ^ “A brief history of lesbian, gay, bisexual, and transgender social movements”. www.apa.org. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2023.
    277. ^ “Love is a human right”. Amnesty International (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2023.
    278. ^ “Ahmady, Kameel. The Narrative of Lesbian Gays and Bisexual in Iran and the Chronic Closet, Swift Journal of Social Sciences and Humanities, Vol 5(1) pp. 01–022 March 2019” (PDF). Swift Journal of Social Sciences and Humanities.
    279. ^ a b Ahmady, Kameel Et al 2018: Forbidden Tale (A comprehensive study on lesbian, gay, bisexuals (LGB) in Iran). Mehri Publishing, London-UK.
    280. ^ Kameel Ahmady (11 tháng 12 năm 2018). “Migration and Gender for Iranian LGBT”. The Journal of International Relations, Peace Studies, and Development. 4 (1). ISSN 2429-2133.
    281. ^ Ahmady, Kameel (3 tháng 6 năm 2023). “CULTURAL PATHOLOGY OF MALE CIRCUMCISION IN IRAN: FOCUSING ON CHILDREN'S RIGHTS AND THE RIGHT TO THE BODY”. Russian Law Journal (bằng tiếng Anh). 11 (12s). ISSN 2313-7851.
    282. ^ Ahmady, Kameel (10 tháng 12 năm 2018). “LGBT in Iran, Citizens with no rights? A Comprehensive Study on LGBT in Iran: Anaiysing current law, discussing legal rights of LGBT's and way forward”. Political Sociology of Iran. (bằng tiếng Ba Tư). 1 (3): 253–291. doi:10.30510/psi.2022.352097.3746. ISSN 2676-6663.
    283. ^ "The situation of gays in Iran" [The situation of LGBTQ in Iran.]” (bằng tiếng Ba Tư).
    284. ^ Ahmady, Kameel (11 tháng 5 năm 2023). “Investigating the Dynamics of the Iranian LGBT Community from Legal and Religious Perspectives”. Lampyrid: The Journal of Bioluminescent Beetle Research (bằng tiếng Anh). 13: 846–869. ISSN 2041-4900.
    285. ^ Ahmady, Kameel (2021). “LGBT IN IRAN: THE HOMOPHOBIC LAWS AND SOCIAL SYSTEM IN ISLAMIC REPUBLIC OF IRAN”. PalArch's Journal of Archaeology of Egypt / Egyptology (bằng tiếng Anh). 18 (18): 1446–1464. ISSN 1567-214X.
    286. ^ “Ahmady, Kameel. Narratives and minority: Stories from lesbian, gay and bisexual individuals in Iran: And an overview on the prevalence of LGB groups, Paper presented at the 2th International Conferences on Economics and Social Sciences Hosted by The Polytechnic of Guarda PORTUGAL, pp. 543–557, August 27 – 28, 2022”. 2th International Conferences on Economics and Social Sciences.
    287. ^ “Charge #1 and specifications preferred by the Presbytery of Southern California against The Rev. C. Lee Irons” (PDF). Presbytery of Southern California of the Orthodox Presbyterian Church. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2008. claiming that homosexuality is an unchosen "condition," rather than a sin of the heart, ... contradicts the teaching of Scripture that both the desire and the act are sin.
    288. ^ Sex and Society – Volume 3 – Page 824
    289. ^ The Wiley-Blackwell Companion to Religion and Social Justice – Page 543, Michael D. Palmer, Stanley M. Burgess – 2012
    290. ^ Cabezón 1992, tr. vii.
    291. ^ “Mental Health American, Bullying and Gay Youth”. "Mental Health America" formerly National Mental Health Association. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2012.
    292. ^ “Half of young Dutch people reject homosexuality”. Expatica/COC. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2012.
    293. ^ “Riddle Homophobia Scale”. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2021.
    294. ^ Michael Lamb, PhD: Affidavit – United States District Court for the District of Massachusetts (2009) Lưu trữ 25 tháng 12 2010 tại Wayback Machine
    295. ^ a b Gregory M. Herek, PhD: Facts About Homosexuality and Child Molestation Lưu trữ 19 tháng 4 2010 tại Wayback Machine
    296. ^ American Psychological Association: Lesbian & Gay Parenting Lưu trữ 23 tháng 9 2015 tại Wayback Machine
    297. ^ “Victims”, FBI, lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2016, truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2013
    298. ^ 'Honor killings' target Turkey's LGBT community”. CBS News. 12 tháng 10 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013.
    299. ^ Di Piero Russo (5 tháng 8 năm 2011). “Sei il disonore della famiglia" e accoltella il fratello gay”. bari.repubblica.it. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013.
    300. ^ “Father confesses to killing his own son in landmark homosexual murder case”. hurriyetdailynews.com. 25 tháng 5 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013.
    301. ^ “Morocco Situation of LGBT Persons” (PDF). Danish Immigration Service. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2019.
    302. ^ Smith, Dinitia (ngày 7 tháng 2 năm 2004). “Love That Dare Not Squeak Its Name”. New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2007.
    303. ^ Oslo gay animal show draws crowds Lưu trữ 2006-10-29 tại Wayback Machine, BBC News, 2006-10-19. Truy cập 2006-10-19.
    304. ^ “The Gay Animal Kingdom”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2009.
    305. ^ Smith, Datitia. (2004-02-07). "Central Park Zoo's gay penguins ignite debate Lưu trữ 2012-06-12 tại Wayback Machine". San Francisco Chronicle. Truy cập 2007-09-08.
    306. ^ 'Tình yêu đồng giới' phổ biến trong thế giới động vật”. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.
    307. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên levay2
    308. ^ Animal Homosexuality: A Biosocial Perspective By Aldo Poiani, A. F. Dixson Lưu trữ 2013-10-19 tại Wayback Machine, Aldo Poiani, A. F. Dixson, p. 179, 2010, Cambridge University Press

    Tham khảo

    Sách

    Thập niên 1980
    Thập niên 1990
    Thập niên 2000

    Tạp chí khoa học

    Bài viết trực tuyến

    Liên kết ngoài