Mở trình đơn chính
Rua Kanana và bốn người vợ của ông

Vợ là một danh từ để gọi người phụ nữ trong một cuộc hôn nhân.

Quyền lợi, trách nhiệm và tư cách pháp lý của vợ đối với chồng được quy định trong các luật lệ liên quan, cũng như trong một số quy định tôn giáo.

Từ nguyênSửa đổi

Từ "Vợ" trong tiếng Việt hiện đại do từ tiếng Việt nguyên thuỷ *-bəːʔ biến đổi thành. Từ tiếng Việt nguyên thuỷ *-bəːʔ bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của một từ tiếng Hán được viết bằng chữ Hán là “婦”.[1] Chữ Hán “婦” có âm Hán Việt tiêu chuẩn hiện đại là phụ. William H. BaxterLaurent Sagart phục nguyên cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của từ “婦” là *mə.bəʔ.[1]

Đông ÁSửa đổi

Khái niệmSửa đổi

Từ "Thê" có thể xem được ghi chép sớm nhất trong Dịch kinh hệ từ (易經系辭): "Nhân ư kì quan, bất kiến kì thê." (nguyên văn: 人於其官,不見其妻。). Tại thời cổ đại, Thê tử dùng để chỉ vừa vợ vừa người con trai trưởng. Về sau thời nhà Tống, cụm từ này dần chỉ chung hôn phối chính thất của một nam nhân.

Trung Quốc cổ đại, các nam nhân gọi vợ người đối diện là Chuyết kinh (拙荊) hay Nội nhân (內人), còn tự gọi vợ của bản thân là Nương tử (娘子). Cụm từ Lão bà (老婆) có từ thời nhà Đường. Ngoài ra, nhiều khu vực cũng có tiếng địa phương để gọi vợ, như Trung Quốc sẽ có những từ kiểu: Thái thái (太太), Nội tử (内子), Thái tọa (太座), Nương (娘), Mẫu (母; đây là tiếng Mân, nguyên là Mỗ 某)... Cụm từ Thái thái có từ thời nhà Chu, do vợ của Chu Thái vương, Quý Lịch và Chu Văn vương lần lượt là Thái Khương, Thái NhâmThái Tự, hợp xưng Tam Thái (三太).

Phân biệt chính và thứSửa đổi

Trong lễ pháp Đông Á xưa, trong một gia đình thì người đàn ông có thể có nhiều vợ, và khi đó sẽ phân ra thứ bậc.

Người vợ cả, lớn nhất trong nhà và có địa vị độc tôn, được gọi là [Chính thê; 正妻], [Chính phòng; 正房] hay [Đích thê; 嫡妻]. Địa vị chính thê trong nhà rất cao, sánh ngang với người chồng, cũng có thể gọi là Nguyên phối (元配) hoặc Phát thê (髮妻) nếu là người vợ đầu tiên[2]. Nếu Nguyên phối mất hay ly hôn, người nam cưới chính thê khác, thì người đó gọi là [Kế thất; 繼室], cũng gọi [Tục phối; 續配], tục xưng Điền phòng (填房)[3] hoặc Tục huyền (續弦)[4]. Tuy cũng là chính thê, song Kế thất vẫn phải hành lễ của thiếp trước bài vị của Nguyên phối quá cố. Trong gia đình quý tộc, quan lại ở xã hội Trung Hoa, xuất hiện danh xưng Chủ mẫu (主母) dành cho người vợ cả (không phân biệt Nguyên phối hay Kế thê), tương đương danh xưng Chủ quân (主君) của người chồng.

Dưới Chính thê là các nàng hầu, tức [Thiếp; 妾], [Thị thiếp; 侍妾] hay [Thị cơ; 侍姬]. Trong gia đình quan lại bài bản, họ có địa vị thấp không khác gì người hầu, thường hay được giao cho những công việc nội trợ, đặc biệt rất ít Thiếp có thể tự nuôi con mình mà phải đưa sang Chủ mẫu giáo dưỡng. Thời cổ đại, còn có cách gọi [Dắng; 媵], chỉ những nàng hầu, hầu ngủ người chồng nhưng không thực sự có danh phận chính thức. Thời cổ, "Dắng" là các nữ tỳ đi theo Chính phòng từ nhà mẹ đến nhà chồng, có thể được người chồng lâm hạnh mà thành thiếp. Các "Dắng" thời cổ đại thường là chị em trong tộc, nên địa vị so với Thiếp bình thường cũng có cao hơn một chút. Trong vài trường hợp, người đàn ông có thể cưới cả hai người vợ chính địa vị như nhau, đó gọi là chế độ Bình thê.

Tại Việt Nam, như đa số quốc gia Đông Á như Trung Hoa, Nhật BảnHàn Quốc, người ta theo chế độ phụ hệ, trong đó người chồng là chủ gia đình, đều theo truyền thống Đông Á khởi nguồn từ Trung Hoa. Ở văn hóa Việt Nam, chính thất hay thiếp đều có danh xưng chung là [Vợ], đây là một từ chữ Nôm dân gian. Để phân biệt, chính thê sẽ được gọi là [Vợ cả] hay [Bà cả], thiếp thất gọi chung là [Vợ lẽ], [Vợ bé], [Vợ hầu] hoặc gọi là "Bà" kèm theo số đếm trong nhà. Riêng danh từ [Vợ kế] là dùng để chỉ Kế thất, song hay bị nhầm lẫn thành Thiếp. Thực trạng trong dân gian Việt Nam, nhất là vùng thôn quê lại không thực sự phân ra khác biệt giữa vợ cả và vợ thứ, hay vợ hầu (Dắng), nên thông thường chính thất là bà Vợ đầu tiên và lớn nhất trong nhà.

Trong xã hội hiện đại, chế độ "Nhất phu đa thê" bị hủy bỏ, nên xã hội Đông Á hiện đại chỉ tồn tại chế độ một vợ một chồng.

Công giáoSửa đổi

Việc kết hôn trong thế giới công giáo phải dựa trên cơ sở tôn giáo, thường cả hai phải là người theo công giáo, được tổ chức tại nhà thờ và đọc lời thề nguyện trước thiên chúa. Sau khi kết hôn, người phụ nữ thường sẽ đổi họ của bản thân thành họ của người chồng, và ở xã hội phong kiến xưa thì họ sẽ nhận các tước hiệu của chồng.

Hồi giáoSửa đổi

Kết hôn trong thế giới Hồi giáo dựa trên cơ sở hợp đồng hôn nhân, và việc một chồng có nhiều hơn một vợ là không hiếm.[5] Trong một số xã hội Hồi giáo, người cha có thể quyết định con gái mình làm vợ của ai và có thể buộc con gái phải kết hôn với người đó, dù phong tục này không dựa trên tôn giáo mà chỉ dựa trên truyền thống.[6] Hôn nhân sắp đặt là cách phổ biến ở các gia đình truyền thống. Đánh đập vợ được quy định là quyền của chồng trong phần lớn các trường phái Hồi giáo.

Phụ nữ phải mặc một số kiểu trang phụ nhất định được quy định trong hadith, như hijab.[7]

Thành ngữ, tục ngữ Việt Nam về người vợSửa đổi

  • Chân dài là của đại gia - Đùi to chân ngắn mới là vợ anh
  • Nhất vợ nhì trời
  • Của chồng công vợ
  • Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn
  • Giàu vì bạn, sang vì vợ
  • Trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng
  • Vợ đẹp là vợ người ta
  • Trai khôn chọn vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân
  • Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă William H. Baxter và Laurent Sagart. Old Chinese: A New Reconstruction. Oxford University Press. Năm 2014. ISBN 9780199945375. Trang 156.
  2. ^ [Nguyên phối]: từ "nguyên" là đầu tiên, "phối" là chỉ việc cưới hỏi theo đầy đủ lễ nghi.
    Theo lệ xưa, chỉ có vợ đầu mới thực hiện lễ kết tóc với người chồng, dù sau này vợ đầu có mất, người chồng cưới mấy vợ kế đi nữa cũng không thể cùng người chồng làm lễ kết tóc. Do đó, vợ đầu cũng gọi là [Phát thê].
  3. ^ Từ [Điền] có nghĩa là "lắp đầy vào chỗ khuyết". Kim Bình Mai, hồi thứ 2 viết:"(Tây Môn Khánh) gần đây lại cưới con gái của Thanh Hà Tả vệ Ngô Thiên Hộ, điền phòng làm Kế thất" (Nguyên văn: 新近又娶了 清河 左卫 吴千户 之女,填房为继室。).
  4. ^ Cổ nhân ví vợ chồng như đàn cầm, đàn sắt, cho nên góa vợ gọi là đoạn huyền 斷弦, lấy vợ kế gọi là tục huyền 續弦.
  5. ^ The New Encyclopedia of Islam(2002), AltaMira Press. ISBN 0-7591-0189-2 p.477
  6. ^ Spiegel 07, 2007
  7. ^ Clothes