Rua Kanana và bốn người vợ của ông

Vợ (chữ Nôm: 𡞕; tiếng Anh: Wife), theo chữ HánThê tử (妻子) hoặc Phụ (婦), là một danh từ để gọi người phụ nữ trong một cuộc hôn nhân.

Danh từ này vẫn được duy trì cho người phụ nữ dù cả hai có tình trạng ly thân, nhưng sẽ chính thức hết hiệu lực khi tiến hành ly hôn. Quyền lợi, trách nhiệm và tư cách pháp lý của vợ đối với chồng được quy định trong các luật lệ liên quan, cũng như trong một số quy định tôn giáo.

Đối với nhiều nền văn hóa, "Vợ" chỉ có một người và người chồng chỉ có thể có vợ khác nếu người vợ đó đã chết hoặc tiến hành ly hôn. Những người phụ nữ có quan hệ tình cảm với người chồng, ở xã hội Châu Âu được gọi là tình nhân, còn ở xã hội Đông ÁThiếp - thường bị xem là thấp kém không khác gì nô lệ. Tuy nhiên, con của tình nhân bị xem là con hoang và không có quyền thừa kế, trong khi con của thiếp vẫn có khả năng. Ngoài ra, vẫn có những trường hợp có nhiều hơn một người vợ, đấy gọi là Bình thê.

Từ nguyênSửa đổi

Từ 「"Vợ"」 trong tiếng Việt hiện đại do từ tiếng Việt nguyên thuỷ*-bəːʔ」 biến đổi thành. Từ tiếng Việt nguyên thuỷ 「*-bəːʔ」 bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của một từ tiếng Hán được viết bằng chữ Hán là 「婦」.[1] Chữ Hán 「婦」 có âm Hán Việt tiêu chuẩn hiện đại là 「"Phụ". William H. BaxterLaurent Sagart phục nguyên cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của từ 「婦」 là 「*mə.bəʔ[1].

Ở Châu Âu, từ 「"Wife"」 có nguồn gốc từ ngôn ngữ Proto-Germanic là 「wībam」, nghĩa là "Người đàn bà". Trong tiếng Anh trung đại, từ này chuyển thành 「Wif」, chỉ chung "Người đàn bà hoặc vợ", có liên hệ với danh từ tiếng Đức hiện đại là 「Weib[2] cùng tiếng Đan Mạch hiện đại là 「viv」. Nguyên gốc chữ 「"Wife"」 chỉ đơn giản là những người phụ nữ, không cần biết có chồng hay chưa, thể hiện qua hai danh từ 「"Midwife"; nghĩa là bà đỡ」 và 「"Fishwife"; nghĩa là bà hàng cá」.

Khái niệmSửa đổi

Từ "Thê" của văn hóa Trung Quốc có thể xem được ghi chép sớm nhất trong Dịch kinh hệ từ (易經系辭): 「"Nhân ư kì quan, bất kiến kì thê"; 人於其官,不見其妻。」. Tại thời cổ đại, Thê tử dùng để chỉ vừa vợ vừa người con trai trưởng. Về sau thời nhà Tống, cụm từ này dần chỉ chung hôn phối chính thất của một nam nhân.

Thời kỳ Trung Quốc cổ đại, ngoài ["Thê"], cũng có hàng loạt cụm danh từ khác chỉ người vợ. Như thời kỳ cổ đại như nhà Chu, đàn ông gọi vợ người đối diện là Chuyết kinh (拙荊) hay Nội nhân (內人), còn tự gọi vợ của bản thân là Nương tử (娘子). Cụm từ Lão bà (老婆) có từ thời nhà Đường. Ngoài ra, nhiều khu vực cũng có tiếng địa phương để gọi vợ, như Trung Quốc sẽ có những từ kiểu: Thái thái (太太), Nội tử (内子), Thái tọa (太座), Nương (娘), Mẫu (母; đây là tiếng Mân, nguyên là Mỗ 某)... Trong đó cụm từ "Thái thái" có từ thời nhà Chu, do vợ của Chu Thái vương, Quý Lịch và Chu Văn vương lần lượt là Thái Khương, Thái NhâmThái Tự, hợp xưng Tam Thái (三太).

Tại văn hóa Châu Âu, người phụ nữ khi kết hôn sẽ đổi họ vốn có của mình thành người chồng, đây là ảnh hưởng từ quan niệm 「"Phụ nữ là vật Chúa trời ban cho đàn ông"」 ở rất nhiều tôn giáo phổ biến như Cơ Đốc giáo. Lúc này, để biết họ gốc của người phụ nữ, ngôn ngữ phương Tây có cụm [Née]. Nghiêm khắc mà nói, người vợ của đàn ông Đông Á cũng có lệ tự xưng họ nguyên bản đằng sau họ chồng với ý nghĩa tương tự, như họ Cơ mà lấy chồng họ Hạ, gọi là Hạ Cơ thị. Tuy nhiên cách không thực sự phổ biến, ít nhất người Bát Kỳ thời nhà Thanh có lệ chỉ gọi tên mà không gọi Thị tộc họ của mình, nên cách gọi này chỉ tồn tại ở người Hán thuộc Dân nhân.

Khác biệt văn hóaSửa đổi

Tại khối Đông ÁSửa đổi

Trong lễ pháp Đông Á xưa, trong một gia đình thì người đàn ông có thể có nhiều vợ, và khi đó sẽ phân ra thứ bậc.

Người vợ cả, lớn nhất trong nhà và có địa vị độc tôn, được gọi là 「Chính thê; 正妻」 hay 「Chính phòng; 正房」. Địa vị Chính thê trong nhà chỉ sau Mẹ của người chồng, theo ý nghĩa là sánh ngang với người chồng, song đối với nền quân chủ Trung Hoa coi trọng nam giới thì địa vị cao quý này của Chính thê cũng chỉ để bổ trợ dòng dõi người chồng mà thôi. Trong đó, người vợ đầu tiên của người đàn ông được gọi là 「Đích thê; 嫡妻」, cũng còn gọi Nguyên phối (元配)[3] hoặc Phát thê (髮妻). Theo lệ xưa, người đàn ông cưới người vợ đầu, sẽ làm lễ 「Kết phát; 結髮」, tức đem tóc của hai vợ chồng cắt ra mỗi người một lọn, rồi dùng một sợi vải hay dây lụa đỏ tự tay thắt lại với nhau. Ở quan niệm Đông Á, "tóc" là một thứ rất có ý nghĩa, nam thành niên vấn tóc đội mũ, nữ thành niên búi tóc cài trâm là biểu thị cho sự trưởng thành, do đó "tóc" vào đêm thành hôn cắt ra và dùng thắt vào nhau có ý nghĩa trọng đại, bởi vì nó đại diện hai vợ chồng bầu bạn từ khi còn rất trẻ. Loại lễ này chỉ xảy ra duy nhất một lần trong đời người, dù sau này người chồng cưới Kế thất cũng không thể cùng người chồng làm lễ kết tóc. Do đó, vợ đầu cũng gọi là "Phát thê". Nếu Nguyên phối mất hay ly hôn, người nam cưới Chính thê khác, thì người đó gọi là 「Kế thất; 繼室」, đôi khi cũng gọi thành 「Tục phối; 續配」, tục xưng Điền phòng (填房)[4] hoặc Tục huyền (續弦)[5].

 
Tranh vẽ Toyotomi Hideyoshi ngồi cùng Thê thiếp của ông.

Cả hai loại Thê tử này đều tiến hành qua hôn lễ, có lễ 「Hợp cẩn; 合卺」, tức là cả hai ở đêm hôn lễ cùng uống chung một ngụm rượu, ban đầu được rót ở hai nửa trái bầu, sau đều dùng ly rượu nhỏ, nên cũng gọi là 「Giao bôi; 交杯」, song chỉ có Nguyên phối mới có lễ kết tóc. Có rất nhiều tác phẩm dân gian nói về thân phận Kế thê so với Nguyên phối khác biệt, ví dụ như tuy cùng là Chính thất song Kế thất vẫn phải hành lễ của thiếp trước bài vị của Nguyên phối quá cố, hoặc có cách nói Kế thất luôn có xuất thân kém hơn Nguyên phối. Tuy nhiên, cách nói này cũng không áp dụng triệt để, tùy vào hoàn cảnh vùng miền hoặc triều đại khác nhau. Vào đời nhà Minh, Nguyên phối quả thực địa vị cao hơn, các Hoàng hậu là Nguyên phối trở thành Hoàng hậu duy nhất có ["Đế thụy"] từ Hoàng đế, còn lại Đế mẫu[6] lẫn Kế hậu[7] đều không thể. Xã hội Bát Kỳ của người Mãn Thanh không coi trọng lắm sự khác biệt này, nhìn chung cứ là Chính thất thì đều ưu việt, các Kế thất vẫn có nhiều người xuất thân cao hơn Nguyên phối như gia đình của Uyển Dung, vấn đề khấu vái bài tự chỉ đơn thuần là sự tôn trọng của người hiện tại đối với người đã khuất. Trong gia đình quý tộc và quan lại còn xuất hiện danh xưng Chủ mẫu (主母) dành cho người vợ cả (không phân biệt Nguyên phối hay Kế thê), tương đương danh xưng Chủ quân (主君) của người chồng.

Dưới Chính thê là các nàng hầu, tức 「Thiếp; 妾」, 「Thị thiếp; 侍妾」 hay 「Thị cơ; 侍姬」. Trong gia đình quan lại, họ có địa vị thấp không khác gì người hầu, thường hay được giao cho những công việc nội trợ, đặc biệt rất ít Thiếp có thể tự nuôi con mình mà phải đưa sang Chủ mẫu giáo dưỡng. Thời cổ đại, còn có cách gọi 「Dắng; 媵」, chỉ những nàng hầu, hầu ngủ người chồng nhưng không thực sự có danh phận chính thức. Thời cổ, "Dắng" là các nữ tỳ đi theo Chính thất từ nhà mẹ đến nhà chồng, có thể được người chồng lâm hạnh mà thành thiếp. Các "Dắng" thời cổ đại thường là chị em trong tộc, nên địa vị so với Thiếp bình thường cũng có cao hơn một chút. Địa vị của Thiếp về cơ bản là thấp kém, nhưng cũng còn tùy Chính thất có khoan dung hay không, hoặc là Chủ quân có yêu chiều hay không, đó gọi là 「"Sủng thiếp diệt Thê"; 宠妾灭妻」. Đối với các nhà dòng dõi, mang tiếng yêu chiều Thiếp thường bị xem là vô lễ, thậm chí có thể bị hạch tấu trên triều đình, do đó tình trạng Chủ quân "sủng Thiếp diệt Thê" ở thời kỳ quân chủ cũng không phải quá thường thấy.

Trong vài trường hợp, người đàn ông có thể cưới cả hai người vợ chính địa vị như nhau, đó gọi là chế độ Bình thê. Người Mãn Thanh và người Mông Cổ trước khi tiến sâu vào văn hóa Trung nguyên từng có trường hợp 「Một chồng, nhiều vợ, nhiều thiếp」, tức các bà Chính thê vẫn có rất nhiều nhưng thân phận vẫn là cao hơn Thiếp, ai ở hàng Chính thê chỉ phân biệt ở lần cưới đầu tiên và lần cưới sau mà thôi. Kể từ khi nhập quan, nhà Thanh mới dần bỏ đi tục này.

Các quốc gia như Nhật BảnHàn Quốc đều mô phỏng theo Trung Hoa, đối với người vợ cũng phân biệt đầu tiên và sau, chính và lẽ.

Tại Việt Nam, như đa số quốc gia Đông Á như Trung Hoa như Nhật Bản và Hàn Quốc, người ta theo chế độ phụ hệ, trong đó người chồng là chủ gia đình, đều theo truyền thống Đông Á khởi nguồn từ Trung Hoa. Văn hóa cung đình Việt Nam về cơ bản vẫn theo lối Trung Hoa, nhưng từ nhà Đinh đã có tình trạng 「"Một chồng, nhiều vợ, nhiều thiếp"」 tương tự Mãn Thanh và Mông Cổ, khi các Hoàng đế có nhiều Hoàng hậu cùng một lúc, điều này chỉ kết thúc khi nhà Trần lên nắm quyền. Trong văn hóa dân gian Việt Nam, Chính thất hay Thiếp đều có danh xưng chung là 「Vợ」, đây là một từ chữ Nôm phổ biến ở dân gian. Để phân biệt, Nguyên phối sẽ được gọi là 「Vợ cả」 hay 「Bà cả」, Kế thất là 「Vợ kế」, còn thiếp thất gọi chung là 「Vợ lẽ」, 「Vợ bé」, 「Vợ hầu」 hoặc gọi là "Bà" kèm theo số đếm trong nhà. Thực trạng trong dân gian Việt Nam, nhất là vùng thôn quê lại không thực sự phân ra khác biệt giữa vợ cả và vợ thứ, hay vợ hầu (Dắng), nên thông thường chính thất là bà Vợ đầu tiên và lớn nhất trong nhà.

Theo Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, đến tận thời nhà Nguyễn thì quan niệm người vợ cùng người chồng hòa thuận gắn sức giúp nhau vẫn phổ biến, song người vợ vẫn có sự cung kính tuyệt đối. Vào đêm tối Giao duyên, hai vợ chồng làm lễ Hợp cẩn xong, thì người vợ trải chiếu xuống quỳ lạy chồng 2 lạy, mà người chồng đáp lại 1 vái. Đối với dân gian thì lễ này không duy trì, song những nhà khá giả đến quan viên đều theo. Điều này cho thấy địa vị người vợ trong văn hóa Việt Nam xưa trong vài trường hợp còn khép nép hơn những người vợ Trung Quốc. Đối với phận Thiếp, tức Vợ lẽ, Phan Kế Bính cũng chép lại thân phận không mấy sáng sủa của họ, người đàng hoàng không ai chịu làm Vợ lẽ cả. Có bốn trường hợp một người chịu làm Vợ lẽ khi ấy: Thứ nhất là vì nghèo hèn, thứ hai là sa cơ thất thế, thứ ba là tham giàu, cuối cùng là vợ góa mà chưa có con mới phải cắn răng làm Vợ lẽ. Những người có Vợ lẽ đều phải giàu có dư dả, hoặc là Vợ cả không thể sinh con thì mới cưới Vợ lẽ mà thôi. Địa vị của Vợ lẽ cũng không khác gì kẻ hầu gái, nhưng cũng tùy sự bao dung của Vợ cả hoặc sự dung túng của người chồng, điều này không khác Trung Quốc cho lắm.

Tại các nước Phương TâySửa đổi

 
Chiếc nhẫn cưới bằng vàng thời kỳ Byzantine, bên trên là chạm khắc họa tiết "The Life of Christ".

Việc kết hôn trong thế giới Công giáo phải dựa trên cơ sở tôn giáo, thường cả hai phải là người theo công giáo, được tổ chức tại nhà thờ và đọc lời thề nguyện trước Thiên chúa. Sau khi kết hôn, người phụ nữ thường sẽ đổi họ của bản thân thành họ của người chồng, và ở xã hội phong kiến xưa thì họ sẽ nhận các tước hiệu của chồng. Biểu hiện của người đàn bà đã có gia đình, theo sự ảnh hưởng của Công giáo, chính là chiếc nhẫn cưới.

Thực tế, tục lệ đeo nhẫn cưới được tìm thấy sớm nhất ở Ai Cập cổ đại, theo sự lan tỏa của Cộng hòa La Mã mà Công giáo mới hấp thu. Người đeo nhẫn thường đeo ở ngón áp út, bên bàn tay phải hoặc bàn tay trái tùy văn hóa, song hiện tại phổ biến nhất là ở bàn tay trái. Theo quan niệm Ai Cập cổ đại, hình vòng tròn biểu thị sự vĩnh hằng, còn chiếc nhẫn tượng trưng cho sự thủy chung vĩnh cữu của hai người trong một cuộc hôn nhân. Việc chọn ngón áp út đeo vào là bởi vì người Ai Cập cổ tin ngón này có liên hệ trực tiếp đi đến tim (theo kiến giải khoa học là tĩnh mạch), một khái niệm là tiếng Latinh gọi là 「Vena amoris[8].

Kết hôn trong thế giới Hồi giáo dựa trên cơ sở hợp đồng hôn nhân, và việc một chồng có nhiều hơn một vợ là không hiếm.[9] Trong một số xã hội Hồi giáo, người cha có thể quyết định con gái mình làm vợ của ai và có thể buộc con gái phải kết hôn với người đó, dù phong tục này không dựa trên tôn giáo mà chỉ dựa trên truyền thống.[10] Hôn nhân sắp đặt là cách phổ biến ở các gia đình truyền thống. Đánh đập vợ được quy định là quyền của chồng trong phần lớn các trường phái Hồi giáo.

Phụ nữ phải mặc một số kiểu trang phụ nhất định được quy định trong hadith, như hijab.[11]

Thành ngữSửa đổi

Trong văn hóa dân gian Việt Nam, có rất nhiều ca dao tục ngữ nói về vợ chồng.

  • Chân dài là của đại gia, Đùi to chân ngắn mới là vợ anh;
  • Nhất vợ nhì trời;
  • Của chồng công vợ;
  • Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn;
  • Giàu vì bạn, sang vì vợ;
  • Trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng;
  • Vợ đẹp là vợ người ta;
  • Trai khôn chọn vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân;
  • Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống;

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă William H. Baxter và Laurent Sagart. Old Chinese: A New Reconstruction. Oxford University Press. Năm 2014. ISBN 9780199945375. Trang 156.
  2. ^ Etymology of "Weib" (broken link to a uni personal account)
  3. ^ Hai chữ ["Nguyên phối"], trong đó từ "nguyên" nghĩa là đầu tiên, còn "phối" là chỉ việc cưới hỏi theo đầy đủ lễ nghi
  4. ^ Từ [Điền] có nghĩa là "lắp đầy vào chỗ khuyết". Kim Bình Mai, hồi thứ 2 viết:"(Tây Môn Khánh) gần đây lại cưới con gái của Thanh Hà Tả vệ Ngô Thiên Hộ, điền phòng làm Kế thất" (Nguyên văn: 新近又娶了 清河 左卫 吴千户 之女,填房为继室。).
  5. ^ Cổ nhân ví vợ chồng như đàn cầm, đàn sắt, cho nên góa vợ gọi là đoạn huyền 斷弦, lấy vợ kế gọi là tục huyền 續弦.
  6. ^ Tức là mẹ ruột của Hoàng đế nhưng thân phận là Phi tần.
  7. ^ Tức là Kế thất Hoàng hậu.
  8. ^ Hort, G.M. (1919). "Some Tradition About Rings". The Irish Monthly. 47: 650, 654.
  9. ^ The New Encyclopedia of Islam(2002), AltaMira Press. ISBN 0-7591-0189-2 p.477
  10. ^ Spiegel 07, 2007
  11. ^ Clothes