Mở trình đơn chính

AFC Ajax

Câu lạc bộ bóng đá ở Amsterdam, Hà Lan.

Amsterdamsche Football Club Ajax (phát âm tiếng Hà Lan: [ˈaːjɑks]), còn được biết đến với tên gọi AFC Ajax, Ajax Amsterdam hoặc đơn giản là Ajax, là câu lạc bộ bóng đá có trụ sở ở Amsterdam, đang chơi tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Hà Lan (Eredivisie), hạng đấu cao nhất của bóng đá Hà Lan. Trong lịch sử, Ajax (tên của nhân vật thần thoại Hy Lạp) là đội bóng thành công nhất Hà Lan, với 34 chức vô địch quốc gia Hà Lan và 19 Cúp KNVB. Câu lạc bộ liên tục thi đấu ở Eredivisie kể từ khi giải đấu khởi đầu từ năm 1956. Cùng với Feyenoord và PSV Eindhoven, họ là 3 câu lạc bộ thống trị giải đấu đó.

Ajax
Ajax Amsterdam.svg
Tên đầy đủAmsterdamsche Football Club Ajax
Biệt danhde Godenzonen (Những đứa con của Chúa),[1][2] de Joden (Những người Do Thái), I Lancieri (The Lancers), Lucky Ajax
Thành lập18 tháng 3, 1900; 119 năm trước
Sân vận độngJohan Cruyff Arena
Sức chứa sân54.990 [3]
Chủ sở hữuAFC Ajax NV (Euronext: AJAX)
Chủ tịch điều hànhHennie Henrichs
Huấn luyện viên trưởngErik ten Hag
Giải đấuEredivisie
2018–19Eredivisie, thứ 1
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Màu áo sân khách
Mùa giải hiện nay

Ajax đã từng 4 lần vô địch Cúp C1 châu Âu, trong đó có ba lần vô địch liên tiếp từ năm 1971–1973 và một lần vô địch vào năm 1995. Năm 1972, họ hoàn tất cú ăn ba lục địa bằng việc vô địch Eredivisie, Cúp KNVB và Cúp C1 châu Âu. Câu lạc bộ này là 1 trong 5 đội vô địch cả ba giải đấu cấp câu lạc bộ hàng đầu của UEFA (Cúp C1 châu Âu, UEFA Cup Winners' CupCúp UEFA).

Ajax thi đấu tại Johan Cruyff Arena, được mở cửa với tên gọi Amsterdam ArenA vào năm 1996 và được đổi tên vào năm 2018. Họ trước đây thi đấu tại Sân vận động De MeerSân vận động Olympic Amsterdam (cho các trận đấu quốc tế).

Lịch sửSửa đổi

Câu lạc bộ do Floris Stempel, Carel Reeser, anh em Han và Johan Dade thành lập tại Amsterdam, ngày 18 tháng 3 năm 1900. Câu lạc bộ thăng hạng cao nhất của bóng đá Hà Lan từ năm 1911 và có chức vô địch đầu tiên vào năm 1917 (Cúp KNVB). Mùa giải sau đó, họ giành chức vô địch quốc gia lần đầu tiên. Câu lạc bộ bảo vệ chức vô địch vào mùa 1918–19, trở thành đội bóng duy nhất có mùa giải bất bại tại Giải VĐQG Hà Lan.

Throughout the 1920s, Ajax was a strong regional power, winning the Eerste Klasse West division in 1921, 1927 and 1928, but could not maintain its success at national level. Khi giải đấu được thay đổi vào những năm 30, họ vô địch 5 lần (1931, 1932, 1934, 1937, 1939), trở thành đội bóng Hà Lan thành công nhất vào thời điểm đó. Ajax giành cúp KNVP lần thứ 2 vào mùa 1942–43 và chức vô địch Hà Lan lần thứ 8 vào mùa 1946–47, mùa giải cuối cùng câu lạc bộ được dẫn dắt bởi HLV Jack Reynolds, thâu tóm tất cả các chức vô địch nội địa, kể cả chiếc Cúp KNVB năm 1917.

Vào năm 1956, mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên của Giải VĐQG Hà Lan được diễn ra, Ajax tham dự với tư cách là người sang lập. Câu lạc bộ thủ đô giành chức vô địch đầu tiên trong kỉ nguyên này, đồng thời ra mắt tại đấu trường Cúp Châu Âu trong trận thua ĐKVĐ của Hungary Vasas SC với tổng tỉ số 6-2 tại vòng tứ kết. Họ tiếp tục vô địch Giải VĐQG vào năm 60 và giành Cúp KNVB lần thứ 3 vào năm 1961.

Năm 1965, Rinus Michels, người từng chơi cho CLB trong khoảng từ 1946-1958 trở thành HLV của Ajax. Ông đem triết lí về Bóng đá Tổng lực, không chỉ riêng tới Ajax mà còn cả Đội tuyển quốc gia Hà Lan. 1 năm sau, Johan Cruyff, huyền thoại bóng đá Hà Lan, có trận đấu đầu tiên cho CLB. Trong khoảng thời gian này, Michels và Cruyff tạo nên thời kì hoàng kim nhất trong lịch sử CLB, vô địch Hà Lan đến 7 lần, 4 Cúp KNVB và 3 Cúp C1 liên tiếp (1971-1973).

Ajax vô địch quốc nội vào các năm 1966-1968, và đã vào đến trận chung kết Cúp Châu Âu vào năm 1969, khi họ để thua Milan. Trong mùa giải 1966-67, Ajax ghi tới 122 bàn thắng tại Giải VĐQG, lần đầu đoạt cú đúp danh hiệu Cúp KNVB và VĐQG Hà Lan. Mùa giải 1969-70, Ajax vô địch Hà Lan lần thứ 4 và cú đúp quốc nội lần thứ 2 trong 5 năm, thắng 27/34 trận và ghi 100 bàn.

 
Chung kết Cúp C1 châu Âu 1971, Ajax - Panthinaikos

Mùa giải 1970-71, Ajax bảo vệ Cúp KNVB và vào đến trận chung kết Cúp C1 năm 71, nơi họ thắng Panathinaikos 2-0 để lần đầu đoạt Cúp Châu Âu. Johan Cruyff đoạt danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu trong mùa giải này. Sau mùa giải đó, Rinus Michels chuyển tới Barcelona, thay thế cho ông là Stefan Kovács. Mùa giải đầu tiên của mình, ông giúp CLB đoạt cú ăn ba (Cúp C1, Cúp KNVB, vô địch Hà Lan). Mùa giải tiếp theo, họ đánh bại CLB của Argentina Independiente để vô địch Cúp Liên lục địa năm 72, bảo vệ chức vô địch quốc nội, trở thành đội bóng đầu tiên sau Real Madrid ở những năm 50 giành 3 chức vô địch C1 liên tiếp.

Năm 1973, Johan Cruyff chuyển tới Barca với mức phí kỉ lục thế giới (~2 triệu USD). Kovács chuyển đến dẫn dắt Đội tuyển quốc gia Pháp, kết thúc thời kì vàng son của CLB.

Sân vận độngSửa đổi

Sân vận động đầu tiên của Ajax được xây vào năm 1911. Sân được xây bằng gỗ nên nó được gọi là Het Houten Stadion ("The Wooden Stadium"). Sau đó, Ajax chuyển đến sân vận động đã từng được tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1928 tại Amsterdam. Sân này được thiết kế bởi Jan Wils, nơi được biết đến là Olympic Stadium. Vào năm 1934, Ajax chuyển tới sân De Meer Stadion ở phía Tây Amsterdam, thiết kế bởi kiến trúc sư và thành viên của Ajax Daan Roodenburgh, người cũng tham gia thiết kế sân vận động đầu tiên của câu lạc bộ. Sân có sức chứa là 29500 chỗ ngồi, họ chơi ở đây đến năm 1996. Đối với những trận đấu của UEFA hay là của Đội tuyển quốc gia, câu lạc bộ thường chuyển tới SVĐ Olympic Stadium với sức chứa gấp đôi.

Năm 1996, Ajax chuyển tới sân vận động mới ở phía Đông Nam thành phố, được biết đến với cái tên Amsterdam Arena. Nó được xây dựng bởi chính quyền thành phố Amsterdam với khoản phí khoảng 134 triệu USD. Sân vận động có sức chứa khoảng 52000 chỗ. Khán giả trung bình tới sân vào mùa 2006–07 là 48610, mùa sau là 49128. Amsterdam ArenA có mái che, và tạo nên trào lưu cho những sân vận động hiện đại mới ở châu Âu trong vài năm. Tại Hà Lan, sân vận động này đã dính đến một vấn đề với chất lượng cỏ tồi tệ bởi mái che có thể tháo gỡ nên mỗi khi mở thì nó phung phí quá nhiều ánh nắng và không khí trong sạch. Xuyên suốt mùa giải 2008–09, nhân viên mặt đất đã giới thiệu một công nghệ ánh sáng để khắc phục vấn đề này.

Sân vận động được yêu thích nhất De Meer Stadion đã bị phá và đất ở đây được bán cho hội đồng thành phố. Chỉ còn một thứ duy nhất là dòng chữ "AJAX", nơi hiện tại năm trong façade của trung tâm đào tạo trẻ De Toekomst, gần SVĐ Amsterdam ArenA.

Thành tíchSửa đổi

Quốc tếSửa đổi

Quốc giaSửa đổi

  • Vô địch Hà Lan: 34 (kỷ lục của Hà Lan)
    • 1918, 1919, 1931, 1932, 1934, 1937, 1939, 1947, 1957, 1960
    • 1966, 1967, 1968, 1970, 1972, 1973, 1977, 1979, 1980, 1982
    • 1983, 1985, 1990, 1994, 1995, 1996, 1998, 2002, 2004, 2011
    • 2012, 2013, 2014, 2019
  • Cúp Quốc gia Hà Lan: 19 (kỷ lục của Hà Lan)
    • 1917, 1943, 1961, 1967, 1970, 1971, 1972, 1979, 1983, 1986
    • 1987, 1993, 1998, 1999, 2002, 2006, 2007, 2010, 2019
  • Siêu cúp Hà Lan: 9
    • 1993, 1994, 1995, 2002, 2005, 2006, 2007, 2013, 2019

Cầu thủSửa đổi

Đội hình hiện tạiSửa đổi

Tính đến ngày 29 tháng 8 năm 2019[4]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1   TM Bruno Varela (cho mượn từ Benfica)
2   HV Perr Schuurs
3   HV Joël Veltman
4   HV Edson Álvarez
5   HV Kik Pierie
6   TV Donny van de Beek
7   David Neres
8   TV Carel Eiting
9   Klaas-Jan Huntelaar
10   TV Dušan Tadić (đội trưởng)
11   Quincy Promes
12   HV Noussair Mazraoui
15   TV Siem de Jong
17   HV Daley Blind (đội phó)
18   TV Răzvan Marin
Số áo Vị trí Cầu thủ
19   TV Zakaria Labyad
21   HV Lisandro Martínez
22   TV Hakim Ziyech
23   Lassina Traoré
24   TM André Onana
26   TV Jurgen Ekkelenkamp
27   TV Noa Lang
28   HV Sergiño Dest
29   TV Ryan Gravenberch
31   HV Nicolás Tagliafico
32   Hassane Bandé
33   TM Dominik Kotarski
35   TM Kjell Scherpen
  TM Benjamin van Leer

Cầu thủ cho mượnSửa đổi

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
  HV Lisandro Magallán (tại   Deportivo Alavés đến ngày 30 tháng 6 năm 2020)
  HV Luis Manuel Orejuela (tại   Cruzeiro đến ngày 31 tháng 12 năm 2019)
Số áo Vị trí Cầu thủ
  Kaj Sierhuis (tại FC Groningen đến ngày 30 tháng 6 năm 2020)

Số áo bất tửSửa đổi

  • 14  Johan Cruyff (Tiền đạo, 1964–73, 1981–83). Số áo được treo vào dịp sinh nhật lần thứ 60 của Cruyff.[5]

UEFA rankingSửa đổi

Xem thêm: UEFA coefficient
Tính đến 6 April 2018[6]
Hạng Nước Đội Điểm
27   Liverpool 56.000
28   Olympiacos 54.000
29   Fiorentina 54.000
30   Ajax 53.500
31   Villarreal 52.000
32   Red Bull Salzburg 50.500
33   Anderlecht 48.000

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Perryman, Mark (2013). Hooligan Wars: Causes and Effects of Football Violence. Mainstream. tr. 167. ISBN 978-1-78057-813-2. 
  2. ^ Stokvis, Ruud (2014). Lege kerken, volle stadions. Amsterdam UP. tr. 45–. ISBN 978-90-485-2180-7. 
  3. ^ “Het Stadion.”. johancruijffarena.nl. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2019. 
  4. ^ “The Players”. AFC Ajax. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019. 
  5. ^ “Cruijff viert 60ste verjaardag lo”. De Ondernemer. 25 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  6. ^ “UEFA coefficients”. UEFA.com. UEFA. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2011.