Cơ Tử (tiếng Trung: 箕子; bính âm: Qizi; Wade–Giles: Chi-tzu; ? - 1082 TCN?), họ Tử, tên Tử Dư (胥餘), là đại thần thời Thương trong lịch sử Trung Quốc.

Cơ Tử
箕子
Vua Triều Tiên
Ping Sien Si - 072 Ji Zi (16137921534).jpg
Vua Cơ Tử Triều Tiên
Trị vì1126 TCN - 1082 TCN
Tiền nhiệmQuốc gia thành lập
Kế nhiệmTrang Huệ vương
Thông tin chung
Tên thật
Tử Tử Dư (子胥餘)
Triều đạiNhà Thương
Cơ Tử Triều Tiên

Cuộc đờiSửa đổi

Cơ Tử là tông thân nhà Thương, được phong ở đất .[1] Cơ Tử từng khuyên can Đế Tân nhưng Đế Tân không nghe, ngược lại đem Cơ Tử bỏ tù.[2]

Chu Vũ vương diệt Thương, sai Thiệu công Thích phóng thích Cơ Tử.[3] Vũ vương hướng Cơ Tử hỏi về đạo trị quốc. Cuối thời Xuân Thu, Khổng Tử có lời tán, gọi Vi Tử, Cơ Tử, Tỷ Can là "Ân tam nhân" (殷三仁).[4].

Khi Chu Vũ vương phân phong chư hầu, phong Cơ Tử ở đất Triều Tiên, thành lập nước Cơ Tử Triều Tiên.[5] Sách Thượng thư đại truyện giải nghĩa Triều Tiên là nơi mặt trời mọc sớm nhất, tức vùng đất xa nhất về phía đông của nhà Chu.[6]. Trương Yến chú thích Triều Tiên liệt truyện trong Sử ký lại cho rằng Triều Tiên là đất nơi ba con sông Thấp Thủy, Liệt Thủy, Sán Thủy hợp lưu thành một dòng.[5] Có quan điểm cho rằng lãnh thổ Cơ Tử Triều Tiên vốn ở khu vực Liêu Đông ngày nay, nhưng đến thời Chiến Quốc, bị Tần Khai đánh đuổi, mới di chuyển sang bán đảo Triều Tiên.[7]

Tương truyền, sau khi chết, Cơ Tử được Triều Tiên tôn thụy Đại Thánh vương (大圣王).[5] Cho đến tận thời Đường, Cơ Tử được dân Triều Tiên tôn thờ làm thần linh. Cơ Tử thần (箕子神) được xếp ngang với Nhật thần, Khả hãn thần.[8] Cơ Tử Triều Tiên về sau bị Vệ Mãn Triều Tiên thay thế.

Lăng mộSửa đổi

 
Lăng Cơ Tử (ảnh chụp trước năm 1945)

Sách Thủy kinh chú ghi lại ghi chép của Đỗ Dự: Phía bắc huyện Mông, nước Lương[9] có thành Bạc Phạt. Trong thành có mộ Thành Thang, ở phía tây có mộ Cơ Tử.[10]

Năm 1102, Cao Ly Túc Tông tiếp thu kiến nghị của Lễ bộ, phái người đi điều tra nơi mai táng Cơ Tử. Kết luận cuối cùng là Cơ Tử được chôn cất ở dưới chân đồi Mẫu Đơn. Túc Tông cho người xây lăng mộ cùng miếu thờ cạnh lăng để tiến hành tế lễ.[11] Các đời quân chủ Triều Tiên đều đến đây tế bái định kỳ. Lăng Cơ Tử (Kija-rung) cùng Ất Mật đài (Ulmil-dae), Thất Tinh môn (Chilsongmun), Phù Bích lâu (Pubyok-nu) trở thành Bình Nhưỡng tứ đại danh thắng.

Mùa xuân năm 1959, thủ tướng Triều Tiên Kim Nhật Thành nhân định rằng sự kiện Cơ Tử lập nước Triều Tiên là "từ không nói có", "làm cái cớ khiến Cổ Triều Tiên bị xâm lược", "coi dân tộc Triều Tiên chúng ta là hậu duệ của Cơ Tử là sự xúc phạm với 5.000 năm lịch sử của dân tộc", nên đã cho di dời lăng. Theo phía chính phủ Triều Tiên, trong lăng không hề có di cốt cũng như cổ vật liên quan, không có báo cáo khai quật.[12]

Trong văn hóaSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Đất Cơ (箕), nay nằm ở khu vực Du Xã, Thái Cốc (Sơn Tây).
  2. ^ Khổng Khâu, Thượng thư, Chu thư, Hồng phạm thiên.
  3. ^ Đới Thánh, Lễ ký, Quyển 19, Nhạc ký.
  4. ^ Khổng Khâu, Luận ngữ, quyển 18, Vi Tử thiên.
  5. ^ a ă â Tư Mã Thiên, Sử ký, quyển 115, Liệt truyện, Cổ Triều Tiên liệt truyện.
  6. ^ Phục Thắng, Thượng thư đại truyện, Quyển 2.
  7. ^ 邱华东 Lưu trữ 2010-12-09 tại Wayback Machine
  8. ^ Lưu Hu, Cựu Đường thư, Liệt truyện, quyển 199 (thượng), Đông Di.
  9. ^ Di chỉ nay là thành cổ huyện Mông, Lương Viên, Thương Khâu, Hà Nam.
  10. ^ Lịch Đạo Nguyên, Thủy kinh chú, quyển 5, Hà thủy chú.
  11. ^ Trịnh Lân Chỉ, Cao Ly sử, quyển 11, Túc Tông.
  12. ^ “Korea, Kija's tomb, legendary founder of Heizyo, near present-day Pyongyang”. University of Wisconsin-Milwaukee Libraries. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2011.