M1 Carbine là một trong những khẩu súng trường bán tự động được sử dụng phổ biến nhất trong giai đoạn nửa sau thế kỷ XX, từ Thế chiến 2 đến Chiến tranh Việt Nam. Đến năm 1959, Quân đội Hoa Kỳ thay thế nó và khẩu súng trường M1 Garand bằng khẩu M14 (hay từ năm 1969 trở đi thì cả M1 Garand, M1 Carbine và M14 đều bị thay thế bằng M16).

M1 Carbine
M1 Carbine Mk I - USA - Armémuseum.jpg
M1 Carbine
LoạiSúng cạc-bin
Nơi chế tạo Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụ1942 - 1973 (ở Hoa Kỳ)
1945 - nay (nhiều quốc gia khác)
Sử dụng bởi Hoa Kỳ
 Nhật Bản
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Lào
 Cộng hòa Nhân dân Campuchia
 Campuchia
 Trung Quốc
 Thái Lan
 Colombia
 Israel
 Hàn Quốc
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Tịch thu từ quân đội Mỹ, Hàn Quốc và các quân đội chư hầu giúp đỡ quân đội Hàn Quốc trong chiến tranh Triều Tiên)
 Philippines
 Indonesia
 Singapore
 Malaysia
 Nam Phi
 Pháp
 Canada
 Afghanistan
 Mexico
 Brasil
 Đài Loan
 New Zealand
 Úc
 Anh Quốc
 Cuba
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh giành độc lập Namibia
Sự kiện Vịnh Con Lợn
Nội chiến Lào
Nội chiến Campuchia
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Cách mạng Cuba
Chiến tranh biên giới Việt Nam-Campuchia
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Xung đột Ả Rập-Israel
Lược sử chế tạo
Người thiết kếDavid Marshall William
Năm thiết kế1938–1941
Nhà sản xuấtInland Division (2,632,097 khẩu)
Winchester (828,059 khẩu)
Underwood Elliot Fisher (545,616 khẩu)
Saginaw Steering Gear Division (517,213 khẩu)
National Postal Meter (413,017 khẩu)
Quality Hardware Manufacturing Corp. (359,666 khẩu)
IBM (346,500 khẩu)
Standard Products (247,100 khẩu)
Rock-Ola Manufacturing Corporation (228,500 khẩu)
Irwin-Pedersen (146,723 khẩu]]
Commercial Controls Corporation (239 khẩu)
Giai đoạn sản xuấtTháng 7 năm 1942 – tháng 8 năm 1945 (Quân đội Hoa Kỳ)
1945 - nay (thương mại)
Số lượng chế tạo6,121,309 khẩu (trong Thế chiến 2)
Các biến thểM1A1 Carbine (biến thể báng gập bằng kim loại của khẩu M1 Carbine. Nó được trang bị cho lính dù, lính xe tăng, lính công binh, lính Bazooka, lính pháo binh của quân đội Mỹ trong Thế chiến 2)
M2 Carbine (biến thể "súng trường tấn công" của khẩu M1 Carbine khi mà nó được gắn thêm một nút chọn chế độ bắn (liên thanh hoặc bán tự động) ở phía bên trái súng. M2 Carbine chính thức phục vụ trong biên chế của Quân đội Hoa Kỳ từ năm 1945)
M3 Carbine (Khẩu M1 Carbine (sau này là M2 Carbine) được trang bị kính nhìn đêm. Ngoài cái tên M3 Carbine ra thì nó còn một cái tên nữa là M3 "Infrared". M3 Carbine phục vụ Quân đội Hoa Kỳ trong trận Okinawa, Chiến tranh Triều TiênChiến tranh Việt Nam. Trong trận Okinawa, biến thể M3 Carbine là khẩu M1 Carbine gắn kính nhìn đêm. Còn từ thời Chiến tranh Triều Tiên trở đi thì là M2 Carbine gắn kính nhìn đêm.)
Thông số
Khối lượng2,4 kg (khi chưa nạp đạn)
3 kg (khi nạp đầy đạn).
Chiều dài35,6 in (900 mm)

Đạn.30 Carbine
Cơ cấu hoạt độngTrích khí
Khóa nòng xoay
Tốc độ bắn120 viên/phút (M1/M1A1 Carbine)
750 viên/phút (M2/M3 Carbine)
Vận tốc mũi607 m/giây (1,990 ft/s)
Tầm bắn hiệu quả270 m (390 yd)
Tầm bắn xa nhất450 m
Chế độ nạpBăng đạn thẳng 15 viên
Băng đạn cong 30 viên (M2 và M3 Carbine)
Ngắm bắnĐiểm ruồi
Kính nhìn đêm (M3 Carbine)
Một bộ trang bị tiêu chuẩn của khẩu M3 Infrared

Trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương diễn ra thì lính dùlính bộ binh của quân đội Pháp cùng đám tay sai Quốc gia Việt Nam của chúng sử dụng khẩu M1 Carbine (lính dù Pháp thì dùng khẩu M1A1 Carbine) và biến thể hoàn toàn tự động M2 của nó với số lượng lớn. Mặc dù cho là đã có MAS-49 nhưng nhiều lính Pháp vẫn cực kỳ yêu thích khẩu súng này vì hàng loạt các ưu điểm như trọng lượng nhẹ, giá thành rẻ, lượng đạn nhiều, lực giật yếu, nhỏ gọn, tốc độ bắn khá nhanh, dễ bảo trì,...Sau khi đánh thắng được quân Pháp vào ngày 7 tháng năm 1954 thì Quân đội Nhân dân Việt Nam (sau này còn có cả Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) lại tiếp tục sử dụng những thứ vũ khí thu được này để chiến đấu chống lại Quân đội Hoa Kỳ, quân đội các nước chư hầu của Mỹ (như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines,...) và Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh Việt Nam. Trong cuộc chiến "mang tính tàn khốc và hủy diệt nhất trong thời kỳ chiến tranh Lạnh" này thì M1 Carbine cùng với hàng loạt các mẫu súng bộ binh khác như: AK-47, M16, CKC, SVD, M1 Garand, M14, M60, RPD, M1918 Browning Automatic Rifle, K-54, K-59, M1911, K-44, M79, B-41, B-40, M72 LAW, DShK, M2 Browning,... làm nên tính đặc trưng của nó.

Quá trình ra đời (1938 - 1941)Sửa đổi

Ngay từ trước khi Thế chiến 2 diễn ra, Cục Quân khí Quân đội Hoa Kỳ (U.S. Army Ordnance) liên tục nhận được rất nhiều những bản báo cáo nói về nhược điểm chung của 2 mẫu súng trường chiến đấu đang được quân đội sử dụng rất rộng rãi là M1903 SpringfieldM1 Garand. Với các đơn vị ở tuyến đầu (như các đơn vị súng máy, đơn vị vận hành Bazooka,...và nhất là lính dù) đang rất cần một khẩu súng mới gọn nhẹ và dễ sử dụng hơn 2 mẫu súng này vì họ phải mang theo lượng quân tư trang nặng hơn so với tiêu chuẩn. Trong khi đó, với những đơn vị ở hậu tuyến (như các đơn vị pháo binh, hậu cần, lái xe, quân y, quân cảnh,...) thì đấu súng không phải là nhiệm vụ chính của họ nên tầm bắn xa, độ chính xác cao cũng như uy lực của 2 mẫu súng này gần như là vô nghĩa với họ. Chính vì lí do này nên Cục Quân khí đặt ra yêu cầu với các nhà thầu quân sự trong nước về việc chế tạo một mẫu súng trường mới có thể giải quyết được nhược điểm chung của 2 mẫu súng trên. Vào tháng 8 năm 1938, Winchester, một trong những công ty vũ khí lớn và nổi tiếng nhất của Mỹ, đã giới thiệu một mẫu vũ khí do một chuyên gia tên David Marshall William phát triển từ cuối năm 1929 và hoàn thiện vào tháng 4 năm 1938. Dù cùng tên là M1 nhưng M1 Carbine không phải là biến thể cải tiến của M1 Garand.

 
M1 Carbine được trưng bày trong viện bảo tàng lịch sử ở Stockholm, Thụy Điển. Đây là phiên bản M1 Carbine tiêu chuẩn của quân đội Mỹ trong Thế chiến 2. Từ năm 1945 thì Quân đội Hoa Kỳ đã tiến hành thiết kế thêm cho khẩu M1 Carbine bệ lắp lưỡi lê bên dưới nòng súng.
 
M1 Garand (trên) và M1 Carbine (dưới) được trưng bày trong viện bảo tàng lịch sử Hoa Kỳ. Khẩu M1 Carbine trong hình là phiên bản M1 Carbine phục vụ trong biên chế của Quân đội Mỹ sau Thế chiến 2.

Trong thế chiến thứ hai (1942 - 1945)Sửa đổi

Khẩu súng này được nhìn thấy xuất hiện lần đầu tiên trên tay lính Mỹ đang chiến đấu trong chiến dịch Guadalcanal (tháng 8 năm 1942). M1 Carbine được Mỹ tổ chức sản xuất nhằm để bù đắp cho nhược điểm "chết người" của khẩu M1 Garand. Khẩu Garand sử dụng một kẹp đạn bằng kim loại "en-bloc" chỉ có 8 viên đạn cho mỗi lần nạp đạn thì khẩu M1 Carbine lại sử dụng một băng đạn lên tới 15 viên cho mỗi lần nạp đạn (hoặc băng 30 viên được sử dụng cho biến thể M2 Carbine và M3 "Infrared"). Nhưng trong một đại đội lính bộ binh Mỹ thì số lượng lính sử dụng khẩu M1 Carbine tương đối là ít, chỉ có từ 4 đến 8 người là sử dụng khẩu súng này. Nhiều lính khác thì vẫn còn muốn dùng súng M1 Garand, súng M1903 Springfield, súng Thompson hay súng M1918 BAR vì uy lực cũng như độ chính xác cao của chúng. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, M1 Carbine được khen ngợi do kích thước nhỏ gọn, trọng lượng nhẹ và tốc độ bắn cao. Đến cuối năm 1944, đầu năm 1945 thì mẫu M2 Carbine đã được ra đời. M2 Carbine được Cục Quân khí Quân đội Hoa Kỳ cải tiến trực tiếp từ mẫu M1 Carbine. Những cải tiến đó bao gồm: băng đạn được mở rộng từ 15 lên thành 30 viên, súng có thêm bệ gắn lưỡi lê (lưỡi lê mà M2 Carbine dùng là loại M4), chức năng bắn tự động, chốt khóa của M2 cũng được chỉnh sửa để dễ sản xuất. Việc sản xuất hàng loạt được Quân đội Mỹ chỉ định Inland Division, một công ty con của General Motors. Hãng này bắt đầu sản xuất M2 Carbine từ cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1945 cho đến khi mà cuộc chiến ở Triều Tiên kết thúc. Bên cạnh tổ chức sản xuất thì hãng này còn tiến hành cải tiến hàng loạt những khẩu M1 Carbine còn thừa trong kho thành M2 Carbine. Trận đánh lớn đầu tiên (và cũng là trận đánh lớn cuối cùng) mà khẩu M2 Carbine "thử lửa" trong Thế chiến 2Trận Okinawa (Quân đội Hoa Kỳ gọi mật danh trận đánh này là chiến dịch Iceberg).

Không chỉ được Hoa Kỳ sử dụng trong Thế chiến 2 mà M1 Carbine cũng được Hoa Kỳ bán cho các nước khác trong phe Đồng Minh. Quân đội Hoàng gia Anh mua khoảng 35,000 khẩu M1 và M1A1 (trong năm 1944) để trang bị cho lính dù của họ. Nó được nhìn thấy sử dụng lần đầu bởi lính dù Anh trong chiến dịch Market Garden. Sau khi chiến tranh kết thúc, Quân đội Anh nhanh chóng loại biên khẩu súng này do nó không còn phù hợp. Sau khi loại biên nó, người Anh nhanh chóng gửi 3/4 số súng mà họ đã mua từ năm 1944 này lại cho Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương (23/9/1945).

Trong chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953)Sửa đổi

Trong chiến tranh Triều Tiên, M2 Carbine đã gần như thay thế hoàn toàn cho mẫu M1 trong biên chế của quân đội Mỹ. Tuy nhiên vẫn còn khá nhiều binh sĩ trong các đơn vị hỗ trợ dùng M1 Carbine. Cả hai phiên bản M1 và M2 Carbine đều phải chịu khá nhiều những tai tiếng liên quan đến việc hay bị kẹt đạn trong tiết trời mùa đông lạnh đến -5 °C (23 °F) ở Hàn Quốc. Nhiều binh sĩ Mỹ còn cho biết thêm là sau khi bắn quá nhiều phát trong cùng một lúc thì lực cản của viên đạn trở nên rất yếu ớt. Nó thậm chí còn không thể xuyên qua nổi lớp áo bông dày của lính Bắc Triều Tiên hay mặc trong mùa đông, mặc dù cự ly khai hỏa rất gần (dưới 75m). Có rất nhiều báo cáo được lính Mỹ gửi về từ Nam Hàn cho thấy M1/M2 Carbine hiệu quả trong khoảng cách tác chiến dưới 45m.

Trong chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam (1946 - 1975)Sửa đổi

Trong suốt thời gian chiến tranh Đông Dương, quân đội Pháp được trang bị súng M1 Carbine rất nhiều, những đơn vị lính dù thì được trang bị biến thể M1A1 Carbine. Từ năm 1945 đến năm 1963 thì Quân đội Pháp đã nhận được 269,644 khẩu M1 và M2 Carbine từ Quân đội Hoa Kỳ. Sau mỗi trận thua trước quân Việt Minh thì tất cả những thứ vũ khí của quân Pháp đều bị những người lính Việt Minh tổ chức thu giữ. Những người lính Việt Minh nhanh chóng đem những thứ vũ khí thu được này ra sử dụng tiếp để có thêm vũ khí đánh nhau với quân Pháp trong những trận tiếp theo. Những người lính Việt Minh và người dân Việt Nam thời bấy giờ gọi khẩu M1 Carbine là Cạc-bin, đọc lái từ "carabine" trong tiếng Pháp. Năm 1954 sau khi kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, nước Pháp đã ký hiệp định Genève và qua đây, họ cam kết không xâm lược Việt Nam thêm một lần nào nữa

Khi Mỹ thay chân Pháp can thiệp trực tiếp vào tình hình ở Đông Dương thì đồng minh chống cộng lớn và quan trọng nhất ở Đông Dương của Mỹ là Quân lực Việt Nam Cộng hòa được trang bị rất nhiều những mẫu vũ khí từ thời thế chiến thứ hai do quân đội Mỹ cấp thông qua các lô hàng viện trợ quân sự. Và khi Việt Nam đã được giải phóng hoàn toàn vào năm 1975 thì số lượng M1 Carbine do Quân đội Nhân dân Việt Nam thu được từ tay Quân đội Pháp, Quân đội Quốc gia Việt Nam, Quân đội Hoa Kỳ, Quân đội Hàn Quốc, Quân đội Thái Lan và cả Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã lên tới con số khủng khiếp (khoảng 100,000 khẩu thu được từ tay Quân đội PhápQuân đội Quốc gia Việt Nam cùng với hơn 300,000 khẩu thu được từ tay Quân đội Hoa Kỳ, Quân đội Hàn Quốc, Quân đội Thái LanQuân lực Việt Nam Cộng hòa bỏ lại sau mỗi lần thua trận). Vì vậy, mỗi khi nhắc tới chiến tranh Việt Nam thì người ta thường nhớ tới AK-47, M16, RPD, CKC, M60,... và M1 Carbine. Trong giai đoạn từ năm 1963 đến năm 1973 thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã nhận được 793,994 khẩu M1 và M2 Carbine từ Quân đội Hoa Kỳ. Hiện nay, các bạn hoàn toàn có thể tìm thấy và bắn thử khẩu súng trường huyền thoại này ở ngay tại Việt Nam, đó là ở bên trong trường bắn của khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi, cùng với những khẩu súng huyền thoại trong chiến tranh Việt Nam như AK-47, M-16, M60, Browning M1919 (đại liên M30), M1 Garand,...

Đâu chỉ có lính Việt Nam Cộng Hòa mà ngay cả lính của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng sử dụng khẩu súng này rất phổ biến ngay từ thời điểm bắt đầu cuộc chiến (1961) vì lính của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (quân du kích Việt Cộng) không có nhiều súng AK-47 hay CKC như Quân đội nhân dân Việt Nam (quân Bắc Việt) để trang bị cho toàn bộ binh lính nên họ đành sử dụng thêm cả vũ khí thu được của địch, nhiều nhất trong số đó là M1 Carbine. Từ sau năm 1968 trở đi thì lính của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam còn thu được thêm cả súng M16 và "đại liên đuôi cá" M60 (các cụ gọi những khẩu M60 thu được của lính Mỹ là "đại liên đuôi cá" vì bộ báng của nó trông rất giống đuôi của cá chép) của lính Mỹ vì từ năm 1968 thì chính quyền Lydonn B Johnson quyết định leo thang chiến tranh ở miền Nam Việt Nam bằng cách đổ quân vào Đà Nẵng để cứu cái chế độ tay sai chống Cộng của Mỹ là Việt Nam Cộng Hòa đang suy sụp và rối ren trầm trọng sau vụ Biến cố Phật giáoĐảo chính Việt Nam Cộng hòa năm 1963. Lính của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam rất thích khẩu súng này vì nó bắn khá nhanh, thay đạn dễ, khối lượng nhẹ, phù hợp với thể trạng chiến đấu của họ, lượng đạn nhiều, nguồn cung cấp rất dễ kiếm, lực giật của nó khá yếu (yếu hơn AK-47),...

Những cuộc chiến khác (1975 - nay)Sửa đổi

M1 Carbine đã được sử dụng nhiều cuộc chiến tranh khác sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc như chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979, nội chiến Lào, nội chiến Campuchia, chiến tranh Việt Nam-Campuchia, chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan,... Khi quân đội Việt Nam tham gia vào những cuộc chiến này thì đã dùng súng M1 Carbine cùng với AK-47, M16, SKS như vũ khí chính của họ. Trong cuộc nội chiến Campuchia thì M1 Carbine được dùng bởi cả hai quân đội chính phủ Campuchia lẫn cả quân phiến loạn Khmer Đỏ. Nó cũng được sử dụng bởi du kích AfghanistanIraq để chống lại quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh Afghanistanchiến tranh Iraq. Nhưng đến tận bây giờ các nước trên thế giới đã chế tạo rất nhiều vũ khí cho riêng họ, họ không cần khẩu M1 Carbine nữa. Hiện nay, khẩu M1 Carbine chỉ còn được nhìn thấy trong viện bảo tàng, khu tập bắn và trong tay những đoàn làm phim, làm game về đề tài thế chiến thứ hai, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam.

Các quốc gia sử dụngSửa đổi

Chú thích và tham khảoSửa đổi

Tham khảoSửa đổi