M1 Carbine (tên đầy đủ United States Carbine, Caliber .30, M1) là khẩu súng trường có trọng lượng nhẹ và tốc độ bắn cao. Khẩu súng này đồng hành với quân đội Mỹ qua 3 cuộc chiến lớn của Thế kỉ XX là Chiến tranh thế giới thứ hai, Chiến tranh Triều TiênChiến tranh Việt Nam, mặc dù trong cuộc chiến này thì quân Mỹ ít dùng M1 Carbine hơn nhiều so với 2 cuộc chiến trước vì sự xuất hiện của các dòng súng trường tấn công mới và đa năng hơn nó như M14 hay M16. Trong Chiến tranh Lạnh, các đồng minh chống cộng thân Mĩ như Pháp, Hàn Quốc, Việt Nam Cộng hòa,... cũng sử dụng M1 Carbine hết sức phổ biến thông qua các gói viện trợ quân sự mà Hoa Kỳ dành cho các nước này.

M1 Carbine
M1 Carbine Mk I - USA - Armémuseum.jpg
M1 Carbine
LoạiSúng cạc-bin
Nơi chế tạo Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụ1942 - 1973 (ở Hoa Kỳ)
1945 - nay (nhiều quốc gia khác)
Sử dụng bởi Hoa Kỳ
 Nhật Bản
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Lào
 Cộng hòa Nhân dân Campuchia
 Campuchia
 Trung Quốc
 Thái Lan
 Colombia
 Israel
 Hàn Quốc
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
 Philippines
 Indonesia
 Singapore
 Malaysia
 Nam Phi
 Pháp
 Bỉ
 Canada
 Afghanistan
 Mexico
 Brasil
 Đài Loan
 New Zealand
 Úc
 Anh Quốc
 Cuba
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh giành độc lập Namibia
Sự kiện Vịnh Con Lợn
Nội chiến Lào
Nội chiến Campuchia
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Cách mạng Cuba
Chiến tranh biên giới Việt Nam-Campuchia
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Xung đột Ả Rập-Israel
Lược sử chế tạo
Người thiết kếDavid Marshall Williams
Năm thiết kế1938 - 1941 (M1 Carbine)
1944 (M2 Carbine)
Nhà sản xuấtInland Division (2,632,097 khẩu)
Winchester (828,059 khẩu)
Underwood Elliot Fisher (545,616 khẩu)
Saginaw Steering Gear Division (517,213 khẩu)
National Postal Meter (413,017 khẩu)
Quality Hardware Manufacturing Corp. (359,666 khẩu)
IBM (346,500 khẩu)
Standard Products (247,100 khẩu)
Rock-Ola Manufacturing Corporation (228,500 khẩu)
Irwin-Pedersen (146,723 khẩu)
Commercial Controls Corporation (239 khẩu)
Giai đoạn sản xuất1942 - 1945 (Quân sự)
1945-nay (Dân sự)
Số lượng chế tạoKhoảng 6,121,309 khẩu
Các biến thểM1A1 Carbine, M2 Carbine và M3 Carbine
Thông số
Khối lượng2,4 kg (khi chưa nạp đạn)
3 kg (khi nạp đầy đạn).
Chiều dài35,6 in (900 mm)

Đạn.30 Carbine
Cơ cấu hoạt độngTrích khí
Tốc độ bắn120 viên/phút (M1/M1A1 Carbine)
750 viên/phút (M2/M3 Carbine)
Vận tốc mũi607 m/giây (1,990 ft/s)
Tầm bắn hiệu quả270 m (390 yd)
Tầm bắn xa nhất450 m
Chế độ nạpBăng đạn thẳng 15 viên (M1 và M1A1 Carbine)
Băng đạn cong 30 viên (M2 và M3 Carbine)
Ngắm bắnĐiểm ruồi
Kính nhìn đêm (M3 Carbine)
Một bộ trang bị tiêu chuẩn của khẩu M3 Infrared

Quá trình ra đờiSửa đổi

Ngay từ trước khi Thế chiến 2 diễn ra, Cục Quân khí Quân đội Hoa Kỳ (U.S. Army Ordnance) liên tục nhận được những báo cáo nói về nhược điểm chung của 2 mẫu súng trường chiến đấu được Quân đội Mỹ sử dụng phổ biến nhất thời đó là M1903 SpringfieldM1 Garand là quá dài và tương đối nặng nề. Điều này gây ra rất nhiều những rắc rối không chỉ cho các đơn vị hỗ trợ ở hậu tuyến (như các đơn vị pháo binh, quân vận,...) mà ngay cả các đơn vị ở tiền tuyến (như các đơn vị súng máy, chống tăng, lính dù,...) cũng gặp phải. Xuất phát từ lí do này nên Cục Quân khí Quân đội Hoa Kỳ yêu cầu các công ty vũ khí Mỹ thiết kế một mẫu súng mới để giải quyết nhược điểm chung của cả 2 mẫu súng trường chiến đấu kia. Vào tháng 8 năm 1938, công ty Winchester đã giới thiệu một mẫu súng trường sử dụng hộp tiếp đạn 15 viên, hoạt động dựa trên cơ chế trích khí. Đó chính là khẩu M1 Carbine. Vào ngày 22 tháng 10 năm 1941, 3 năm sau khi M1 Carbine được giới thiệu thì Quân đội Mỹ mới chấp nhận đưa khẩu súng này vào sử dụng trong biên chế. Dù có cùng tên M1 nhưng M1 Carbine không phải là một biến thể của khẩu M1 Garand.

 
M1 Carbine được trưng bày trong viện bảo tàng lịch sử ở Stockholm, Thụy Điển. Đây là phiên bản M1 Carbine tiêu chuẩn của quân đội Mỹ trong Thế chiến 2. Từ năm 1945 thì Quân đội Hoa Kỳ đã tiến hành thiết kế thêm cho khẩu M1 Carbine bệ lắp lưỡi lê bên dưới nòng súng.
 
M1 Garand (trên) và M1 Carbine (dưới) được trưng bày trong viện bảo tàng lịch sử Hoa Kỳ. Khẩu M1 Carbine trong hình là phiên bản M1 Carbine phục vụ trong biên chế của Quân đội Mỹ sau Thế chiến 2.

Trong thế chiến thứ haiSửa đổi

M1 và biến thể báng gập M1A1 Carbine của nó được sử dụng rộng rãi bởi Lục quân Hoa Kỳ, Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, Lính dù Hoa Kỳ trong Thế chiến 2. Khẩu súng này được khen là có trọng lượng nhẹ, tốc độ bắn cao, dễ tháo để bảo dưỡng, dễ sản xuất. Chỉ riêng trong Thế chiến 2 đã có 6 121 309 khẩu M1 và M1A1 được sản xuất, khiến nó trở thành một trong những mẫu súng được sản xuất nhiều nhất trong cuộc chiến. Đến cuối cuộc chiến, biến thể M2 Carbine xuất hiện và nhanh chóng thay thế vai trò của khẩu M1. M2 có nút chọn chế độ bắn, bệ gắn lưỡi lê, băng đạn của nó cũng được "kéo" từ 15 lên thành 30 viên. M2 không kịp tham gia vào chiến sự ở châu Âu vì Đức Quốc xã đã đầu hàng từ tháng 5 mà phải đến tận tháng 6 thì quân đội Hoa Kỳ mới chấp nhận sử dụng M2 Carbine nên nó chỉ kịp tham gia vào chiến sự ở châu Á. Trận đánh đầu tiên của khẩu M2 Carbine trong Thế chiến 2 là trận Okinawa.

Không chỉ được Hoa Kỳ sử dụng trong Thế chiến 2 mà M1 Carbine cũng được Hoa Kỳ bán cho các nước khác trong phe Đồng Minh. Quân đội Hoàng gia Anh mua khoảng 35,000 khẩu M1 và M1A1 (trong năm 1944) để trang bị cho lính dù của họ. Nó được nhìn thấy sử dụng lần đầu bởi lính dù Anh trong chiến dịch Market Garden. Sau khi chiến tranh kết thúc, Quân đội Anh nhanh chóng loại biên khẩu súng này do nó không còn phù hợp.

Trong chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953)Sửa đổi

Trong chiến tranh Triều Tiên, M2 Carbine đã gần như thay thế hoàn toàn cho mẫu M1 trong biên chế của quân đội Mỹ. Tuy nhiên vẫn còn khá nhiều binh sĩ trong các đơn vị hỗ trợ (pháo binh, phòng không, lái xe, quân cảnh,...) dùng M1 Carbine. Cả hai phiên bản M1 và M2 Carbine đều phải chịu khá nhiều những tai tiếng liên quan đến việc hay bị kẹt đạn trong tiết trời mùa đông lạnh đến -5 °C (23 °F) ở Hàn Quốc. Nhiều binh sĩ Mỹ còn cho biết thêm là sau khi bắn quá nhiều phát trong cùng một lúc thì lực cản của viên đạn trở nên rất yếu ớt. Nó thậm chí còn không thể xuyên qua nổi lớp áo bông dày của lính Bắc Triều Tiên hay mặc trong mùa đông, mặc dù cự ly khai hỏa rất gần (dưới 75m). Có rất nhiều báo cáo được lính Mỹ gửi về từ Nam Hàn cho thấy M1/M2 Carbine hiệu quả trong khoảng cách tác chiến dưới 45m.

Trong chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt NamSửa đổi

Trong suốt thời gian chiến tranh Đông Dương, quân đội Pháp được trang bị súng M1 Carbine rất nhiều, những đơn vị lính dù thì được trang bị biến thể M1A1 Carbine. Từ năm 1945 đến năm 1963, Quân đội Pháp đã nhận được 269,644 khẩu M1 và M2 Carbine từ Quân đội Hoa Kỳ. Sau mỗi trận thua trước quân Việt Minh thì tất cả những thứ vũ khí của quân Pháp đều bị những người lính Việt Minh tổ chức thu giữ. Những người lính Việt Minh nhanh chóng đem những thứ vũ khí thu được này ra sử dụng tiếp để có thêm vũ khí đánh nhau với quân Pháp trong những trận tiếp theo. Những người lính Việt Minh và người dân Việt Nam thời bấy giờ gọi khẩu M1 Carbine là cạc-bin, đọc lái từ "carabine" trong tiếng Pháp. Năm 1954, sau khi kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, nước Pháp đã ký hiệp định Genève và cam kết không xâm lược Việt Nam.

Khi Mỹ thay chân Pháp can thiệp trực tiếp vào tình hình ở Đông Dương, thì đồng minh chống cộng lớn và quan trọng nhất ở Đông Dương của Mỹ là Quân lực Việt Nam Cộng hòa được trang bị rất nhiều những mẫu vũ khí từ thời thế chiến thứ hai do quân đội Mỹ cấp thông qua các lô hàng viện trợ quân sự. Và khi Việt Nam đã được giải phóng hoàn toàn vào năm 1975 thì số lượng M1 Carbine do Quân đội Nhân dân Việt Nam thu được đã lên tới con số khủng khiếp. Vì vậy, mỗi khi nhắc tới chiến tranh Việt Nam, thì người ta thường nhớ tới AK-47, M16, RPD, CKC, M60,... và M1 Carbine.

Những cuộc chiến khácSửa đổi

Hiện nay, khẩu M1 Carbine chỉ còn được nhìn thấy trong viện bảo tàng, khu tập bắn và trong tay những đoàn làm phim, làm game về đề tài thế chiến thứ hai, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam.

Các quốc gia sử dụngSửa đổi

Chú thích và tham khảoSửa đổi

Tham khảoSửa đổi