Mở trình đơn chính

Phú Thị, có tên nôm là Sủi, là một xã của huyện Gia Lâm, Hà Nội, Việt Nam.

Phú Thị

Hành chính
TỉnhHà Nội
HuyệnGia Lâm
Địa lý
Dân số
Khác
Mã hành chính00559[1]
Mã bưu chính131610[2]

Vị trí địa lýSửa đổi

Xã Phú Thị nằm bên bờ Nam sông Đuống, cạnh quốc lộ 5, phía Bắc và Tây giáp xã Đặng Xá, phía Tây Nam giáp thị trấn Trâu Quỳ tại đường 5, phía Nam giáp xã Dương Xá, phía Đông Nam giáp xã Dương Quang, phía Đông giáp xã Kim Sơn (tức Keo), phía Đông Bắc giáp xã Phù Đổng tại sông Đuống. Phú Thị là xã đồng bằng, có đường 282 nối quốc lộ 5 với Thuận Thành Bắc Ninh chạy qua.

Lịch sửSửa đổi

Xã Phú Thị gồm các thôn: Đồng Bản, Hàn Lạc, Phú Thị (phố Sủi), Tô Khê, Trân Tảo. Trước vốn là 4 xã Hàn Lạc, Phú Thị, Tô Khê, Trân Tảo tổng Kim Sơn huyện Gia Lâm phủ Thuận An tỉnh Bắc Ninh (thời nhà Nguyễn)[3]. Sau năm 1945, xã Hàn Lạc tách làm 2: Đồng Bản và Hàn Lạc, tạo thành 5 thôn của xã Phú Thị ngày nay. Trước năm 1965 xã Phú Thị gọi là Quyết Chiến, sau được đổi thành Phú Thị. Làng Phú Thị (kẻ Sủi), tức là thôn Phú Thị, là một làng cổ từ thời -Trần, quê của Nguyên phi Ỷ Lan. Tên gọi Sủi, là một từ Việt cổ, có các biến âm là Lỗi hay Luỗi, sau được Hán Việt hóa thành Thổ Lỗi.[4]

Đình làng SủiSửa đổi

Đình làng Sủi thờ Tây Vị Đại Vương là tướng nhà Đinh có tên húy Đào Liên Hoa quê ở Thanh Hóa, con ông Đào Lan và bà Nguyễn Thị Huệ. Ông rất thông minh, ham học, năm 15 tuổi đã xin cha cho đi học ở quận Vũ Ninh, phủ Từ Sơn, huyện Đông Ngàn, thôn Hội Phụ (nay thuộc xã Đông Hội, huyện Đông Anh). Khi biết ở Hoa LưĐinh Bộ Lĩnh khởi nghĩa dẹp loạn 12 sứ quân, ông xin đầu quân và được phong làm tướng quân. Với những chiến công có được, ông được Đinh Bộ Lĩnh phong làm Tây Vị Đại Vương rồi được cử đi Chánh sứ sang Trung Quốc. Khi huyện Gia Lâm có giặc loạn nổi lên, ông đem quân đi dẹp rồi lập đồn cùng trang ấp ở Thổ Lỗi, dậy nhân dân sản xuất, xây nhà cửa lo cuộc sống. Khi ông mất (vào ngày 25 tháng 12 âm lịch), vua phong ông là Thượng Đẳng Tôn Thần và hạ chiếu cho các làng thuộc địa hạt ông cai quản phải lập đình để hương khói phụng thờ đời đời. Dân làng Sủi đã lập đình Sủi thờ ông và tôn ông là Thành hoàng làng.

Danh nhânSửa đổi

  • Ỷ Lan
  • Nguyễn Huy Nhuận (1678-1758) - Tiến sỹ, Tham tụng; Thượng thư trải 5 bộ, Tri Quốc Tử Giám, đã được đặt tên đường tại quê hương Gia Lâm.
  • Đoàn Bá Dung - Tiến sỹ, Thượng thư;
  • Cao Dương Trạc - Tiến sỹ, Thượng thư;
  • Trịnh Bá Tướng - Tiến sỹ, Thượng thư;
  • Nguyễn Huy Mãn (1688 - 1739) - Tiến sỹ khoa Tân Sửu (1721), Giám sinh trường Quốc Tử Giám, Gia thần trong phủ Lượng quốc thuộc Vương phủ chúa Trịnh, giữ chức Đô Ngự Sử, Hiến sát sứ Sơn Nam, Đốc đồng Thanh Hoa, thầy dạy hai anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nghiễm (quê Tiên Điền, Hà Tĩnh) đều đỗ tiến sỹ; Nguyễn Nghiễm là thân phụ của thi hào Nguyễn Du.
  • Nguyễn Huy Thuật (1690-) - Tiến sỹ khoa Quý Sửu (1733), văn võ song toàn, Đề hình Giám sát Ngự sử, Hiến sát sứ xứ Sơn Tây, Đốc đồng xứ Kinh Bắc, Thanh Hoa; Tham chính xứ Sơn Tây, Hàn lâm viện Thừa chỉ. Khi về hưu, cụ được chúa Trịnh tặng ba chữ "Kế phương đình" và bốn câu đối;
  • Nguyễn Huy Dận (1708-1780), hiệu Giới Am, lấy con gái quan Hộ Bộ Thượng thư Cao Dương Trạc (cùng làng Sủi); Tiến sỹ khoa Mậu Thìn (1748), Tri phủ Từ Sơn, Hàn lâm viện Thị chế, Đông các Hiệu thư, Thái thường Tự khanh, Đốc đồng An Quảng, Sơn Nam, Tả Tham chính Thái Nguyên. Cụ có trước tác để lại, trong đó có bài văn bia Hữu công thôn nội bi ký/ Vĩnh cửu bất san được dựng tại đền thờ Sỹ Nhiếp (xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
  • Nguyễn Huy Cẩn, tức Cận (1729-1790), tên hiệu là Phương Am, Hội nguyên Tiến sỹ, Tiến sỹ khoa Canh Thìn (1760), Tri phủ Lạng Giang, sau từ quan, về mở trường Phương Am dạy học. Cụ có nhiều tác phẩm thơ văn, trong số đó, sau này được học trò là Cao Huy Diệu (cùng làng) tập hợp và soạn thành cuốn "Phương Am Nguyễn tiên sinh truyện" ghi lại 91 bài thơ của thầy mình (hiện vẫn còn ở Viện Hán Nôm); cụ còn là tác giả của bản "Tuyên văn Mục lục" cả chữ Hán và chữ Nôm có nội dung nhân bản và giáo dục cao, ca ngợi phong thổ, cảnh đẹp và truyền thống Làng Sủi.
  • Nguyễn Huy Lượng (1759-1808), đỗ Hương cống, Nhà chính trị, Nhà thơ nổi tiếng, giữ chức Hữu Thị Lang Bộ Hộ, danh nhân phò Tây Sơn, sáng tác nhiều thơ văn (Tụng tây hồ phú, Cung oán thi, Lượng như long phú, Văn tế trận vong tướng sỹ, Thơ Hồ Tây, Diễn ca "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn, Ngự đạo hành cung nhật trình, Tam thiên tự giải nghĩa, Tây hồ cảnh tụng, Văn tế con dâu Hoàng Phùng Cơ...), trong đó nổi bật nhất là danh tác "Tụng Tây Hồ phú". Cụ đã được đặt tên đường tại nhiều thành phố lớn ở Việt Nam như TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, TT-Huế.
  • Cao Bá Quát (1808 - ...): Nhà thơ nổi tiếng, đỗ Hương cống (cử nhân). Đã được đặt tên đường ở nhiều thành phố lớn ở Việt Nam.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam - Danh mục
  2. ^ Tra cứu mã bưu chính trên VNPT
  3. ^ Cuốn Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19, xứ Kinh Bắc, phủ Thuận An, huyện Gia Lâm, trang 67.
  4. ^ Các mục từ Phú Thị trong từ điển Hà Nội địa danh của Bùi Thiết, trang 355-356.